|
“Điều này có thể làm sốc một số người
nào đấy. Nó có thể làm khó chịu cảm giác của quý vị về
luật lệ và trật tự tâm linh. Quý vị có thể cảm thấy
xúc phạm đạo đức về sự kiện rằng tất cả chúng ta là sự
trừng phạt của chính chúng ta. Mỗi chúng ta là sự
trừng phạt tệ hại nhất mà chúng ta mãi mãi sợ hãi – và
phần thưởng tốt nhất mà chúng ta có thể hy vọng để đạt
được.”
“Nhà du già lập dị phi lý Ngags pa chos dByings rGya
mTsho công nhận một cách căn bản sự cảm kích hoan hỉ
vô tận đối với những đạo sư của ông – không có sự
truyền cảm hứng trực tiếp của các ngài,ông sẽ không có
bất cứ sự hấp dẫn nào để nói với bất cứ người nào, bất
cứ lúc nào, bất cứ nơi nào, hay quan tâm đến bất cứ
điều gì.” - - Ngak’chang Rinpoche, Roath, Cardiff –
October 1981 - -
Tôi muốn nói một vài lời về ‘tự ngã’. Tự ngã là một
thuật ngữ mà nó có những ý nghĩa khác nhau đối với
những người khác nhau. Nó có những sự hàm ý của
Freudian (Bác sĩ tâm lý học Freud) – và cũng thế, nó
dường như có một sự thừa thãi của những ngụ ý sử dụng
phổ thông. Hãy để chúng ta quên về những sự hàm ý này,
tôi không nghĩ rằng chúng sẽ được sử dụng nhiều đối
với chúng ta khi người ta khám phá Kim Cương Thừa.
Thường thì chúng ta nghĩ về tự ngã như
điều gì ấy mà chúng ta cố gắng để ‘tránh xa’, giống
như nó là một hình thức nào đấy của giải phẩu tâm lý
bằng những ý nghĩa của một nội tạng không thích hợp có
thể được nhổ bật ra. Nhận thức khó tin này có những sự
phân nhánh ghê tởm thế nào ấy. Hãy tưởng tượng nó: có
phải là tất cả những chúng sinh khi đạt đến giác ngộ,
sẽ có một đầm lầy thối rửa của những tự ngã sau phẩu
thuật chất đống lại với điều mà người ta tranh cãi.
Thế nào đấy, khái niệm này không thông minh một cách
đặc thù, không có ngay cả bình luận trên ‘nhị nguyên’.
Tôi nghĩ chúng ta tốt hơn là hãy quên ‘tự ngã’. Đạt
đến thể trạng bất nhị không đi kèm với sự đạt đến tình
trạng của một sự què quặt tâm linh.
Hãy để chúng ta nhìn nó trong một cách khác. Hãy để
chúng ta tự hỏi mình rằng tại sao có thể vô ngã. Vô
thường và thay đổi biểu thị đặc điểm thế giới chúng ta.
‘Chất liệu’ của thế giới chúng ta đang chuyển dịch một
cách không ngừng: hình thành, tan rả, sinh khởi, phân
hủy; nhưng chẳng có gì mất đi bao giờ - vũ trụ là như
thế. Trong dạng thức của vô chung và vô thủy (không có
chấm dứt và không có bắt đầu) – thêm và bớt trở thành
mối liên hệ vô nghĩa.
Lý do duy nhất mà chúng ta không thể mất tự ngã là bởi
vì tự ngã không tồn tại.
Tự ngã chỉ đơn thuần là một kiểu biểu hiện – một phong
cách – một thói quen. Thói quen cắn móng tay ở chốn
nào khi quý vị không còn cắn móng tay nữa? Thói quen
hút thuốc của quý vị ở nơi nào khi quý vị chẳng hút
thuốc nữa?Thói quen chán nãn của quý vị ở đâu khi quý
vị yêu đời? Thói quen nhị nguyên của chúng ta ở chỗ
nào khi chúng ta thấy sự hiện diện của tỉnh thức hay
giác tính?
Bởi vì ‘tự ngã’ không hiện hữu, nên tôi không nói về
tự ngã. Khi tôi thật thảo luận vấn đề ‘cái tôi – xác
định’, tôi thường dùng thuật ngữ ‘biểu hiện-xao lãng’–
bởi vì ‘tự ngã’ là một động từ hơn là một danh từ.
‘Biểu hiện’ cũng là một động từ. Tự ngã là một động từ
cố gắng để chứng tỏ ‘cái danh từ’ của nó cùng với
‘danh từ’ của mọi thứ khác. Tự ngã trong ý nghĩa này,
là sự thất học bướng bỉnh. Biểu hiện xao lãng là tiến
trình hơn là sản xuất. Nó không là một vật, nó là một
loại – và những ‘kiểu mẫu’ loại này được biết như
nghiệp báo (karma).
Nghiệp báo đôi khi được biết như ‘luật nhân quả’ –
giống như nó là một sự thống trị của tối cao pháp viện
giữa những tầng mây. Tuy thế, luật lệ có bị phá vở, và
luật lệ có thể được thay đổi. Phúc báo thay, ‘luật
nghiệp báo’ cũng có thể được thay đổi. Nếu ‘luật
nghiệp báo’ không thể bị phá vở thì có thể hoặc là
không có giác ngộ hay giác ngộ sẽ phải là nguyên nhân
[cho sự phá vở luật nghiệp báo]. ‘Luật nghiệp báo’
thuộc thế giới nhị nguyên là điều mà, giống như ‘tự
ngã’, ‘sự biểu hiện xao lãng’ hay cái ‘tôi’ nổi tiếng
– là vọng tưởng. Hệ thống hợp pháp của nghiệp báo
không có thẩm quyền trong không gian bất nhị.
Khi chúng ta thân chứng tính bản nhiên vô hạn vô thủy
giác ngộ, lực tác dụng thúc ép của luật nghiệp báo
biến mất, chúng bốc hơi đi mất vào trong không gian: [bởi
vì] chúng là sự bất giác của chúng ta.
Tính rộng lớn của Biểu hiện là không bị giới hạn bởi
nhân quả; vì thế khi chúng ta thân chứng thể trạng bất
nhị nó hiếm hoi tương tự như ‘những thằng bé nghiệp
báo trong làn áo xanh’ sẽ vỗ vào vai chúng ta và nói:
“Chúng ta nhận ra rằng nhận thức của quý vị bây giờ
hoàn toàn chân thật, nhưng chúng ta vẫn có một trát
bắt quý vị vì tính nhạy cảm thô thiển trong một nơi
công cộng.” [Nhưng] quý vị sẽ không bị lôi nhẹ đến nhà
giam, và từ đó đến tòa án, và từ đó đến một chỗ trừng
phạt, nơi mà quý vị sẽ bị buộc để chịu đựng một buổi
ngâm nga thơ ca thời đại mới dai dẵng.
Nhận thức và đáp ứng là tội ác và trừng phạt vốn dĩ và
đồng thời. Bất cứ khái niệm nào bị trao trả vì ‘bản án
không thi hành’ và ‘tội ác không trừng phạt’ là không
có ý nghĩa trong dạng thức của Giáo Pháp (Dharma).
Điều này có thể dường như làm cho một số người hơi bị
sốc. Nó có thể xúc phạm mạnh đến cảm giác của quý vị
về luật lệ và trật tự tâm linh. Chúng ta có thể cảm
thấy tổn thương đạo đức về sự kiện rằng tất cả chúng
ta là sự trừng phạt của chính mình. Mỗi chúng ta là sự
trừng phạt tệ hại nhất mà chúng ta có thể sợ hãi mãi
mãi – và là phần thưởng quý giá nhất mà chúng ta có
thể hy vọng đạt được.
Chúng ta có thể rất cần để nhìn vào ‘luật lệ’, nhằm để
thấu hiểu chức năng của nó. Sự hiện hữu của luật lệ
trong xã hội có nghĩa là có ít hay không có sự tỉnh
thức trong xã hội đó. Nó có nghĩa rằng một xã hội như
thế không có sự vững vàng trong tỉnh thức hay trách
nhiệm cá nhân. Sự cần thiết của luật lệ cho thấy rõ
rằng chúng ta không thể tin cậy hay nương tựa vào tỉnh
thức – bởi vì luật lệ được thành lập như một sự thay
thế cho tỉnh thức (giác tính) và trách nhiệm cá nhân.
Nơi nào có tỉnh thức và trách nhiệm cá nhân, nơi ấy
không cần luật lệ. Nơi nào có tỉnh thức và trách nhiệm
cá nhân, nơi ấy không cần những quy tắc. Nơi nào có
tỉnh thức và trách nhiệm cá nhân, nơi ấy không cần
những giá trị đạo đức. Nơi nào thiếu sự tỉnh thức và
trách nhiệm cá nhân – chúng ta nương trên luật lệ, quy
tắc, và đạo đức.
Nơi mà không có tỉnh thức và trách nhiệm cá nhân, luật
lệ phục vụ một chức năng – nhưng luật lệ xói mòn trách
nhiệm cá nhân và chướng ngại tỉnh thức (giác tính).
Vì thế, chúng ta có những xã hội của chúng ta nơi mà
luật lệ và quy tắc được thực hiện hay thi hành, hoặc
là vì lợi ích của con người hay đến sự phương hại của
họ. Điều này là bất khả kháng với bất cứ giới hạn nào
được bố trí trước bởi vì không có tiêu chuẩn luật lệ,
quy tắc, hay đạo đức nào có thể áp dụng được trong mọi
trường hợp. Nhưng luật lệ, nguyên tắc, và đạo đức luôn
luôn là phương tiện, và sự thi hành của chúng làm cho
gần gũi với tỉnh thức và trách nhiệm cá nhân. Trong
cách này, những cổ xe (thừa) khác hơn Đại Cứu Kính
chứa đựng những phương pháp làm cho gần đúng với phong
cách bất nhị. Điều này có thể là một sự thực hành hữu
dụng cho việc sự cởi mở nhiệt tình – nhưng một cách
căn bản ‘tốt và xấu’, ‘đúng và sai’ là không thích hợp
theo quan điểm của Đại Cứu Kính. Những khái niệm của
đạo đức nhị nguyên hòa tan vào trong sự thích hợp
thanh tịnh của thể trạng bất nhị. Đạo đức là một
phương tiện chứ không phải là cứu kính. Tìm kiếm ý
tưởng và triết lý đạo đức thích hợp vô hạn là một đòi
hỏi vô ích. Tuy thế, đạo đức là một phương tiện thực
tiển mà chúng ta áp dụng một cách thiện xảo cho đến
khi chúng ta tìm thấy giác tính.
Thí dụ, tất cả chúng ta có thể đồng ý rằng thật là tốt
để thành thật và thật là tốt để tử tế. Tôi không thể
tưởng tượng rằng nhiều người ở đây muốn tranh cãi về
điều đó. Tuy nhiên, không khó để gợi lên những trường
hợp chỗ mà sự thật và tử tế là xung đột trực tiếp. Thí
dụ rằng, bà cô thân mến già cả dễ mến của tôi hỏi tôi
tại một đám cưới của ai đấy rằng tôi có thích cái nón
của bà không? Có thể rằng trong hoàn cảnh như thế
không thể cả thành thật và lịch sự. Cái nón trong câu
hỏi có thể hiện diện như một thứ chướng mắt và buồn
cười để làm xấu cái đầu của con người. Tôi có nên nói
‘sự thật’ theo sự chủ quan của tôi hay không, khi tôi
nói: Xin lỗi thưa cô Ivy, tôi nghĩ rằng nó làm cô trở
thành đối tượng của sự nhạo báng – một cách chắc chắn
cô đã để ý rằng mọi người đang thầm cười về nó phía
sau lưng của cô? Điều này có thể là thật sự những gì
tôi cảm nhận, và tôi có thể phát biểu một cách chính
xác theo nhận thức chủ quan của tôi – nhưng sự ân cần
đang thiếu vắng. Nếu sự thật và tử tế là những khía
cạnh cố định về đạo đức của tôi, thế thì tôi sẽ đối
diện với một sự tiến thoái lưỡng nan của luân lý.
Không có sự tỉnh giác, chúng ta tiếp tục đối diện với
những rắc rối đạo đức. Không thể xây dựng triết lý đạo
đức toàn thiện có thể áp dụng trong tất cả mọi hoàn
cảnh. Luân lý toàn thiện chỉ là tỉnh giác (giác tính).
Chỉ đạo đức toàn thiện là tỉnh giác, bởi vì tất cả mọi
hành vi xuất hiện từ tỉnh giác là sự thích đáng trong
sạch không chọn lựa.
Chúng ta hãy nhìn một cách gần gũi hơn về tình trạng
rắc rối của bà cô già cả. Bà có thể hơi e ngại về
tướng mạo của mình – với một lý do chính đáng chúng ta
có thể nghĩ – nhưng trong sự cần thiết làm an lòng
nhằm để bà có thể vui vẻ buổi trưa ấy. Bà ở tại một
đám cưới. Bà không ở tình thế có thể thay đổi vẻ dáng
– ngay cả nếu bà muốn như thế. Có thể đó là cái nón
mới. Có thể bà đã đón nhận điều gì đấy may rủi với nó.
Có thể đó là một loại mạo hiểm mà bà muốn thử hàng năm
trời. Tôi không phải biết. Bà không thật sự hỏi vì ý
kiến lịch sự của tôi; mặc dù thế - bên ngoài – đây là
những ngôn ngữ mà bà đã dùng đến. Chỉ những người bạn
thân nhất của chúng ta mới hỏi chúng ta cho những ý
kiến lịch sự của chúng ta – và điều ấy, duy rất hiếm
hoi. ‘Sự thật’ này là thế nào? Duy chỉ ‘sự thật’ khi
chúng ta nhận thức nó. Chỉ ‘sự thật’ trong dạng thức
biểu lộ một cách chính xác giá trị phán xét hạn chế
của chúng ta. Không có điều gì là xinh đẹp hay xấu xa
một cách cùng tận. Có thể chúng ta phải cố gắng để
chấp nhận điều này trong tâm thức trước khi đưa ý kiến
và phán xét giá trị chủ quan.
Ân cần tử tế càng gần chúng ta có thể mãi đi đến một
sự tỉnh thức đạo đức tương ứng. Có một trái tim tốt.
Những sự sửa soạn công phu không quan trọng. Ân cần tử
tế là điều gì đấy mà chúng ta cảm thấy – một sự ấm áp
và rộng mở mà nó tuôn chảy từ sự cởi mở lớn mạnh của
chúng ta. Ân cần tử tế là sự tiếp xúc của chúng ta –
sự nối kết mạnh mẽ nhất của chúng ta với tính bản
nhiên giác ngộ nguyên sơ.
Quá nhiều vì ‘luật lệ’. Căn bản cốt yếu của giáo huấn
là vô chính phủ (đối với chính thể nghiệp báo). Không
phải vô chính phủ trong ý nghĩa bóp méo thông thường
trong điều mà chữ nghĩa được hiểu – trong ý nghĩa của
‘chó – ăn – chó hổn loạn’ – nhưng vô chính phủ trong
dạng thức của điều ‘không có chính quyền ngoại tại’.
Vô chính phủ là chính quyền nội tại biểu hiện một cách
tự nhiên của tỉnh thức hay giác tính – không điều kiện,
hiện diện, trực tiếp, và trách nhiệm một cách hoàn
toàn.
Giác ngộ có nghĩa là sự từ bỏ thể trạng cảnh sát của
quan kiến nghiệp báo và trách nhiệm kiêu ngạo của cá
nhân. Nghiệp báo là tổng số nhận thức của chúng ta
trong tất cả sự phức tạp khổ đau hành hạ của nó. ‘Luật
nghiệp báo’ là khác biệt với luật lệ cưỡng bức của xã
hội bên ngoài – bởi vì ‘luật nghiệp báo’ là hậu quả
một cách trực tiếp và tự thực hiện đầy đủ. Chúng ta
nhận thức thế giới trong một cách nào đấy – và phản
ứng đến nó theo thể thức nhận định đấy. Đó là ý nghĩa
muốn nói bằng nghiệp báo.
Không có sự bất công trong loại ‘luật lệ’ này tách
khỏi sự bất công đến sự giác ngộ được gây ra bởi mô
thức nghiệp báo.
Không có ai khác chịu trách nhiệm cho việc chúng ta
nhận thức thế giới như thế nào. Chúng ta chấp nhận và
phủ nhận những ảnh hưởng của xã hội cùng những ảnh
hưởng của cha mẹ và bè bạn của chúng ta trong dạng
thức của chính chúng ta. Chúng ta thêu dệt nhận thức
của chính chúng ta, và ngoại trừ chúng ta dừng lại
tiến trình và sự xây dựng nhận thức của chúng ta,
không thì chúng ta sẽ chỉ tiếp tục bị trấn áp bởi
chính thể chuyên chế cá nhân [nghiệp báo] của chúng ta.
Những sự đáp ứng mà chúng ta thực hiện đến môi trường
sẽ vẫn hiện hữu giống như thế và chúng ta sẽ lôi cuốn,
thu hút những loại hoàn cảnh mà chúng sẽ tương ứng với
nhận thức của chúng ta.
Nếu chúng ta cảm thấy kiệt lực, chúng ta trãi nghiệm
những đối tượng của nhận thức của chúng ta như sự xác
thực việc làm cho kiệt sức của chúng ta. Chúng ta có
khuynh hướng muốn những khía cạnh của đời sống cho
chúng ta chỉ những gì chúng ta muốn thấy. Chúng ta tu
bổ lại chính mình một cách liên tục. Chúng ta cố gắng
thu góp những kinh nghiệm thỏa lòng – nhưng điều này
chỉ đơn thuần là một cách nhấn mạnh nổi bật khác của
việc làm kiệt lực của chúng ta qua mâu thuẩn. Qua sự
mâu thuẩn như vậy – chúng ta nghiền vắt cuộc đời từ
những kinh nghiệm vui thích của chúng ta.
Chúng ta hoặc là thúc đẩy tích cực hay tiêu cực điều
kiện, thân phận, tình trạng của chúng ta. Bất kể chúng
ta tích lũy là bao nhiêu, chúng ta không bao giờ nhận
thức rõ sự giàu có của chúng ta. Chúng ta không bao
giờ thấy rõ sự phong phú của sự thịnh vượng của chúng
ta bởi vì nó là thu góp, tích lũy. Nó là tiềm tàng, và
vì thế chúng ta có thể không bao giờ tiêu dùng nó hay
rộng rãi với nó. Chúng ta quá quan tâm với việc bảo
đảm rằng chức năng của nó chỉ là để tránh khỏi nghèo
túng. Khả năng của chúng ta làm giàu một cách không
ngừng đời sống của chúng ta và sự sống của mọi con
người bị đóng băng bởi sự sợ hãi về nghèo đói. Chúng
ta ‘cảm thấy’một cách hăng hái rằng – tìm kiếm bất cứ
điều gì mà chúng ta biện minh cho nhận thức của chúng
ta như là sự thể hiện đúng đắn.
Đó là nghiệp báo. Đó là là luật lệ mà chúng ta đang cố
gắng để phá vở. Nó ở đây trong hiện tại, và tiếp tục
nhận thức – lập tức – nghiệp báo của chúng ta – không
có tác dụng lực hay môi giới bên ngoài nào với điều
được liệt vào.
Nghiệp báo là toàn bộ việc chúng ta nhận thức, quán
chiếu thế giới như thế nào – từng thời khắc. Vì thế
‘luật nghiệp báo’ không chỉ là luật lệ, mà nó là hệ
thống hợp pháp trọn vẹn. Nó xếp loại từ khởi đầu luật
lệ cưỡng bách và trừng phạt của cơ quan lập pháp của
tính thiên nhiên. Nhận thức của chúng ta là cơ quan
lập pháp và sự đáp ứng của chúng ta làm cho nó có hiệu
lực. Chúng ta là quan tòa, thẩm phán, và công tố viên
của chính mình. Đây là hệ thống hợp pháp chính xác
trọn vẹn duy nhất – nhưng sự đúng đắn của nó chỉ tồn
tại trong khuôn khổ của chính sự liên hệ của nó mà
thôi.
Thiền quán là vũ khí duy nhất để chống lại chính thể
bạo ngược này và thiết lập sự bất tuân dân sự trong
hình thức của ‘sự kháng cự thụ động’. Bằng việc cho
phép sự phát triển không gian qua shi-nè (chân ảnh) –
qua việc để cho đi và để cho ở - chúng ta khám phá
tính giác bản nhiên của chính chúng ta. Bốn thực hành
Naljor [1][1]của Tâm bản nhiên Đại Cứu Kính là một
trong những sự vi phạm căn bản chống lại ‘luật nghiệp
báo’ và đáng trừng trị bởi sự giác ngộ - mà đấy là
cuộc cách mạng cuối cùng và sự lật đổ hệ thống hợp
pháp [của luật nghiệp báo].
Nếu có bất cứ điều gì mà tôi nói có bất cứ sự hữu dụng
nào trong việc làm cho giáo huấn rõ ràng và quý vị có
thể áp dụng được, toàn bộ điều này là qua sự ân cần tử
tế và tuệ trí vô hạn của đạo sư của tôi Tsawa’i Lamas
Kyabjé Düd’jom Rinpoche; Kyabjé Dilgo Khyentsé
Rinpoche; Kyabjé Künzang Dorje Rinpoche vàJomo
Sam’phel; ’Khordong gTértrül Chhi’mèd Rig’dzin
Rinpoche; và Khamtrül Yeshé Dorje Rinpoche. Nếu có sự
sai sót nào trong những điều mà tôi vừa nói, đó hoàn
toàn là do sự thiếu trong sáng và tuệ trí hạn cuộc
đáng thẹn của tôi.
--
Typed by Ngakpa ’ö-Dzin Tridral from an original
article in the handwriting of Ngak’chang Rinpoche,
23rd of June 2000, whilst travelling to Oxford to see
Chhi’mèd Rig’dzin Rinpoche, and on the 1st of July
2000, travelling to York for a week’s retreat.
Ngak’chang Rinpoche’s article was based on a
transcript of a talk he gave in Bath, England in 1978
– the original of which has been lost. At the time
Ngak’chang Rinpoche had no typewriter and often wrote
short pieces in longhand for apprentices. ‘Rainbow of
Liberated Energy’ was entirely handwritten through
three stages of editing, as was ‘Journey into
Vastness’ and the first four chapters of ‘Wearing the
Body of Visions’ – which were once lost on a Nepalese
bus between Kathmandu and Khakabita, on the way to
Sikkim.
Nguyên tác: Karma - The Personal Police State
Tác giả: Ngak’chang Rinpoche, October 1981
Tuệ Uyển chuyển ngữ: 15/08/2010
http://aroencyclopaedia.org/shared/text/k/karma_ar_eng.php
|