|
Nghi Thức Trì
Tụng
Bài
Tán Hương:
Lư hương xạ nhiệt,
Pháp giới mông huân.
Chư Phật hải hội tất diêu văn,
Tùy xứ kiết tường vân,
Thành ý phương ân,
Chư Phật hiện toàn thân.
Nam mô Hương Vân Cái Bồ tát Ma ha
tát. (3 lần)
Chân Ngôn Tịnh Khẩu Nghiệp:
Tu rị tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị
ta bà ha. (7 lần)
(Trì chú này thì hơi miệng trong
sạch)
Chân Ngôn Tịnh Ba Nghiệp:
Án ta phạ, bà phạ thuật đà ta phạ,
đạt mạ ta phạ bà phạ thuật độ hám.
(3 lần)
(Trì chú này thì thân miệng lòng
đều trong sạch)
Chân Ngôn An Thổ Địa
Nam mô tam mãn, đa một đà nẫm, án,
độ rô, độ rô địa vĩ, ta bà ha. (3
lần)
Chân Ngôn Phổ Cúng Dường:
Án nga nga nẳng, tam bà phạ phiệt
nhựt ra hồng. (3 lần)
(Trì chú này thì hoa hương cùng
tiếng tụng niệm sẽ khắp cúng dường
cả mười phương)
PHỤNG THỈNH BÁT KIM CANG:
Phụng thỉnh Thanh Trừ Tai Kim Cang.
Phụng thỉnh Bích Độc Thần Kim Cang.
Phụng thỉnh Huỳnh Tùy Cầu Kim Cang.
Phụng thỉnh Bạch Tịnh Thủy Kim
Cang.
Phụng thỉnh Xích Thanh Hỏa Kim
Cang.
Phụng thỉnh Định Trì Tai Kim Cang.
Phụng thỉnh Tử Hiền Kim Cang.
Phụng thỉnh Đại Thần Kim Cang.
PHỤNG THỈNH TỨ BỒ TÁT:
Phụng thỉnh Kim Cang Quyến Bồ tát.
Phụng thỉnh Kim Cang Sách Bồ tát.
Phụng thỉnh Kim Cang Ái Bồ tát.
Phụng thỉnh Kim Cang Ngữ Bồ tát.
Phát Nguyện Văn:
Nam mô Thập phương Thường trụ Tam
bảo. (3 lần)
Khể thủ tam giới Tôn,
Quy mạng thập phương Phật.
Ngã kim phát hoằng nguyện:
Trì thử Kim Cang kinh.
Thượng báo tứ trọng ân,
Hạ tế tam đồ khổ.
Nhược hữu kiến văn giả,
Tất phát bồ đề tâm.
Tận thử nhứt báo thân,
Vãng sanh Cực Lạc quốc.
VÂN HÀ PHẠM:
Vân hà đắc trường thọ,
Kim Cang bất hoại thân?
Phục dĩ hà nhân duyên
Đắc đại kiên cố lực?
Vân hà ư thử kinh
Cứu cánh đáo bỉ ngạn?
Nguyện Phật khai vi mật
Quảng vị chúng sanh thuyết.
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
(3 lần)
Khai Kinh Kệ
Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp.
Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ,
Ngã kim kiến văn đắc thọ trì,
Nguyện giải Như Lai chân thật
nghĩa.
NAM MÔ BÁT NHÃ HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ
TÁT MA HA TÁT. (3 lần)
====
PHẬT NÓI: KINH KIM CANG BÁT NHÃ BA
LA MẬT
Diêu Tần, Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu
Ma la Thập, Hán dịch.
Thích Trí Tịnh, Việt dịch.
Ta nghe như vầy: Một thuở nọ, đức
Phật ở trong vườn Kỳ Thọ, Cấp Cô
Độc, tại nước Xá Vệ, cùng với chúng
đại Tỳ kheo, một nghìn hai trăm năm
mươi người câu hội.
Lúc đó, gần đến giờ ăn, đức Thế Tôn
đắp y, cầm bát, vào thành lớn Xá Vệ
mà khất thực.
Trong thành ấy, đức Phật theo thứ
tự, ghé từng nhà, khất thực xong
trở về Tịnh Xá, dùng cơm, rồi cất y
bát, sau khi rửa chân xong, đức
Phật trải tòa mà ngồi.
Bấy giờ, ông Trưởng Lão Tu Bồ Đề, ở
trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi
đứng dậy, trịch áo bên vai hữu, gối
bên hữu quỳ sát đất, cung kính chắp
tay, mà bạch cùng đức Phật rằng:
"Hi hữu thay, đức Thế Tôn! Đức Như
Lai khéo hay hộ niệm các vị Bồ tát,
và khéo hay phó chúc cho các vị Bồ
tát!
Bạch đức Thế Tôn! Trang thiện nam,
người thiện nữ, phát tâm Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, thời phải
trụ tâm như thế nào, nên hàng phục
tâm mình như thế nào?"
Đức Phật dạy: "Hay thay! Hay thay!
Này Tu Bồ Đề! Đúng như lời của ông
vừa nói, đức Như Lai khéo hay hộ
niệm các vị Bồ tát, và khéo hay phó
chúc cho các vị Bồ tát.
"Nay ông nên lắng nghe, Ta sẽ vì
ông mà nói. Trang thiện nam, người
thiện nữ, phát tâm Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác, phải trụ tâm như
thế này, phải hàng phục tâm mình
như thế này".
"Vâng, bạch đức Thế Tôn! Con xin
vui thích muốn nghe."
Đức Phật bảo ngài Tu Bồ Đề: "Các vị
đại Bồ tát phải hàng phục tâm mình
như thế này: bao nhiêu những loài
chúng sanh, hoặc là loài noãn sanh,
hoặc loài thai sanh, hoặc loài thấp
sanh, hoặc loài hóa sanh, hoặc loài
có hình sắc, hoặc loài không hình
sắc, hoặc loài có tư tưởng, hoặc
loài không tư tưởng, hoặc loài
chẳng phải có tư tưởng, mà cũng
chẳng phải không tư tưởng, thời Ta
đều làm cho được diệt độ, và đưa
tất cả vào nơi vô dư niết bàn. Diệt
độ vô lượng, vô số, vô biên chúng
sanh như thế, mà thiệt không có
chúng sanh nào là kẻ được diệt độ
cả. Tại sao vậy? Này, Tu Bồ Đề! Nếu
vị Bồ tát còn có tướng ngã, tướng
nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ
giả, thời chẳng phải là Bồ tát.
Tu Bồ Đề! Lại nữa, vị Bồ tát, đúng
nơi pháp, phải nên không có chỗ trụ
trước mà làm việc bố thí. Nghĩa là
không trụ trước nơi hình sắc mà bố
thí, không trụ trước nơi thanh,
hương, vị, xúc, pháp, mà bố thí.
Này, Tu Bồ Đề! Vị Bồ tát phải nên
bố thí như thế, chẳng trụ trước nơi
tướng. Tại vì sao? Vì nếu vị Bồ
tát, không trụ trước nơi tướng mà
bố thí, thời phước đức nhiều không
thể suy lường.
Tu Bồ Đề! Ý của ông nghĩ sao? Có
thể suy lường được cõi hư không ở
phương đông chăng?"
"Bạch đức Thế Tôn, không thể suy
lường được."
"Tu Bồ Đề! Có thể suy lường được
cõi hư không ở phương nam, tây,
bắc, cõi hư không ở bốn hướng cạnh,
và cõi hư không ở trên, dưới,
chăng?"
"Bạch đức Thế Tôn! Không thể suy
lường được."
"Tu Bồ Đề! Vị Bồ tát không trụ
trước nơi tướng mà bố thí, thời
phước đức cũng lại như thế, không
thể suy lường được.
Tu Bồ Đề! Vị Bồ tát chỉ phải nên
đúng như lời Ta đã dạy đó mà trụ
tâm.
Tu Bồ Đề! Ý của ông nghĩ sao? Có
thể do nơi thân tướng mà thấy Như
Lai chăng?"
"Bạch đức Thế Tôn! Không thể do nơi
thân tướng mà thấy được Như Lai.
Bởi vì sao? Vì đức Như Lai nói thân
tướng đó chính là chẳng phải thân
tướng."
Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề: " Phàm
hễ có tướng đều là hư vọng cả! Nếu
nhận thấy các tướng đều là không
phải tướng, chính là thấy Như Lai".
Ông Tu Bồ Đề bạch cùng đức Phật
rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Như có
chúng sanh nào được nghe những câu
trong bài giảng giải như vậy, mà
sanh lòng tin là thiệt chăng?"
Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề: "Ông chớ
nói lời ấy! Sau khi đức Như Lai
diệt độ, năm trăm năm sau, có người
trì giới, tu phước, có thể sanh
lòng tin nơi những câu trong bài
này mà cho đó là thiệt, thời phải
biết rằng người ấy chẳng phải chỉ
vun trồng căn lành từ nơi một đức
Phật, hai đức Phật, ba, bốn, năm
đức Phật, mà người đó đã vun trồng
căn lành từ nơi vô lượng nghìn muôn
đức Phật rồi.
Như có ai nghe những câu trong bài
này sanh lòng tin trong sạch nhẫn
đến chừng trong khoảng một niệm. Tu
Bồ Đề! Đức Như Lai đều thấy, đều
biết, những chúng sanh đó đặng
phước đức vô lượng dường ấy. Tại vì
sao? Vì những chúng sanh đó không
còn có tướng ngã, tướng nhân, tướng
chúng sanh, tướng thọ giả, không có
tướng pháp, cũng không có tướng phi
pháp. Tại vì sao? Vì những chúng
sanh đó, nếu trong lòng chấp tướng,
thời chính là chấp ngã, nhân, chúng
sanh, thọ giả.
Nếu chấp tướng pháp, thời chính là
chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ
giả, và vì nếu chấp tướng phi pháp,
thời cũng chính là chấp ngã, nhân,
chúng sanh, thọ giả, vì thế cho
nên, chẳng nên chấp pháp, và cũng
chẳng nên chấp phi pháp.
Cũng bởi nghĩa đó, Như Lai thường
dạy rằng: "Này, các Tỳ kheo, các
ông phải biết rằng, pháp của Ta nói
ra đó, dụ cũng như thuyền bè, đến
pháp còn phải xả bỏ, huống nữa là
phi pháp!"
Tu Bồ Đề! Ý của ông nghĩ thế nào?
Đức Như Lai có chứng được quả Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng?
Đức Như Lai có nói pháp chăng?"
Ông Tu Bồ Đề bạch
rằng: "Như con hiểu ý nghĩa của
Phật nói, thời không có pháp nhứt
định nào, gọi là Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác, cũng không có pháp
nhứt định nào, mà đức Như Lai có
thể nói được. Bởi vì sao? Vì pháp
của đức Như Lai nói, đều không thể
vin lấy, không thể nói được, chẳng
phải pháp, chẳng phải "không phải
pháp". Tại vì sao? Vì tất cả Hiền
Thánh, đều do nơi pháp vô vi mà có
từng bực khác nhau".
"Tu Bồ Đề! Ý của ông nghĩ thế nào?
Như có người đem bảy thứ báu, đầy
cả cõi tam thiên, đại thiên, để làm
việc bố thí, phước đức của người đó
đặng, có nhiều hay chăng?"
Tu Bồ Đề bạch rằng: "Bạch đức Thế
Tôn, rất nhiều! Tại làm sao? Vì
phước đức đó, chính là không phải
thật phước đức, cho nên đức Như Lai
nói là phước đức nhiều".
"Còn như có người, nơi trong kinh
này, nhẫn đến thọ trì một bài kệ
bốn câu v.v... lại giảng nói cho
người khác, thời phước đức này trội
hơn phước đức trước. Bởi vì sao?
Này Tu Bồ Đề! Tất cả các đức Phật,
và pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác của các đức Phật, đều từ kinh
này mà có ra. Này Tu Bồ Đề! Phật
pháp nói đó chính chẳng phải là
Phật pháp.
"Tu Bồ Đề! Vị Tu Đà Hoàn có thể tự
nghĩ là mình chứng được quả Tu Đà
Hoàn chăng?"
Ông Tu Bồ Đề bạch rằng: "Bạch đức
Thế Tôn, không thể được! Bởi vì
sao? Vì vị Tu Đà Hoàn, gọi là bực
Nhập Lưu, và chính không nhập vào
nơi đâu, chẳng vào sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp, đó gọi là Tu
Đà Hoàn".
"Tu Bồ Đề! Ý của ông nghĩ thế nào?
Vị Tư Đà Hàm có thể tự nghĩ rằng
mình được quả Tư Đà Hàm chăng?"
Ông Tu Bồ Đề bạch rằng: "Bạch đức
Thế Tôn không thể được! Bởi vì sao?
Vì vị Tư Đà Hàm gọi là bực Nhất
Vãng Lai, mà thiệt không có vãng
lai, đó gọi là Tư Đà Hàm".
"Tu Bồ Đề! Ý của ông nghĩ thế nào?
Vị A Na Hàm có thể tự nghĩ rằng,
mình được quả A Na Hàm chăng?"
Ông Tu Bồ Đề bạch rằng: "Bạch đức
Thế Tôn không thể được! Bởi vì sao?
Vì vị A Na Hàm gọi là bực Bất Lai,
mà thiệt không có tướng bất lai,
cho nên gọi là A Na Hàm".
"Tu Bồ Đề! Ý của ông nghĩ thế nào?
Vị A La Hán có thể tự nghĩ rằng,
mình chứng được quả vị A La Hán
chăng?"
Ông Tu Bồ Đề bạch rằng: "Bạch đức
Thế Tôn không thể được! Bởi vì sao?
Vì thiệt không có pháp chi gọi là A
La Hán. Bạch đức Thế Tôn! Nếu như
vị A La Hán nghĩ thế này: Ta chứng
được quả vị A La Hán, thời chính là
còn chấp trước tướng ngã, nhân,
chúng sanh, thọ giả.
Bạch đức Thế Tôn! Đức Phật dạy rằng
con được môn "vô tranh tam muội",
là bực nhứt trong mọi người, là bực
A La Hán ly dục thứ nhứt.
Bạch đức Thế Tôn! Nếu con tự nghĩ
rằng mình được quả vị A La Hán,
thời chắc đức Thế Tôn chẳng nói: Tu
Bồ Đề là người ưa hạnh tịch tịnh.
Bởi Tu Bồ Đề thiệt không khởi một
niệm, mới gọi Tu Bồ Đề là ưa hạnh
tịch tịnh".
Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề: "Ý của
ông nghĩ thế nào? Thuở xưa, hồi ở
chỗ đức Phật Nhiên Đăng, đức Như
Lai có chứng đắc nơi pháp chăng?"
"Bạch đức Thế Tôn! Không. Hồi ở chỗ
đức Phật Nhiên Đăng, nơi pháp, đức
Như Lai thiệt không có chỗ chứng
đắc."
"Này, Tu Bồ Đề! Ý của ông nghĩ thế
nào? Bồ tát có trang nghiêm Phật độ
chăng?"
"Bạch đức Thế Tôn! Không, tại vì
sao? Vì trang nghiêm Phật độ đó,
chính chẳng phải trang nghiêm, đó
tạm gọi là trang nghiêm."
"Này, Tu Bồ Đề! Vì thế các vị đại
Bồ tát, phải nên sanh tâm thanh
tịnh như vầy: chẳng nên trụ trước
nơi sắc mà sanh tâm, chẳng nên trụ
trước nơi thanh, hương, vị, xúc, và
pháp, mà sanh tâm, nên "không chỗ
trụ trước" mà sanh tâm thanh tịnh
kia.
Này, Tu Bồ Đề! Ví như có người,
thân như núi chúa Tu Di, ý của ông
nghĩ thế nào? Thân của người đó, có
lớn chăng?"
Ông Tu Bồ Đề bạch rằng: "Bạch đức
Thế Tôn! Rất lớn. Bởi vì sao? Vì
đức Phật nói chẳng phải thân, đó
mới gọi là thân lớn."
"Tu Bồ Đề! Như trong một sông Hằng
có bao nhiêu số cát, lại có những
sông Hằng nhiều như số cát đó. Ý
của ông nghĩ thế nào? Số cát trong
những sông Hằng đó, chừng có nhiều
chăng?"
Ông Tu Bồ Đề bạch rằng: "Bạch đức
Thế Tôn! Rất nhiều. Nội những sông
Hằng đã là nhiều vô số rồi, huống
nữa là số cát trong sông!"
"Này, Tu Bồ Đề! Nay Ta nói thật mà
bảo ông: Nếu có trang nam tử, thiện
nữ nhơn nào đem bảy thứ báu đầy cả
ngần ấy Hằng hà sa số cõi Tam thiên
đại thiên để làm việc bố thí, người
đó đặng phước có nhiều không?"
Ông Tu Bồ Đề bạch rằng: "Bạch đức
Thế Tôn! Rất nhiều."
Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề: "Nơi
trong kinh này, nếu có trang thiện
nam, người thiện nữ nào, thọ trì
nhẫn đến một bài kệ bốn câu v.v...
và giảng nói cho người khác nghe,
thời phước đức này hơn phước đức
trước kia.
Này Tu Bồ Đề! Lại nữa, tùy chỗ nào
giảng nói kinh này, nhẫn đến một
bài kệ bốn câu v.v... phải biết chỗ
đó, tất cả Trời, Người, A Tu La...
trong đời, đều nên cúng dường như
là tháp miếu thờ đức Phật. Huống
nữa là, có người nào hay thọ trì,
đọc tụng, trọn cả kinh này!
Này Tu Bồ Đề! Phải biết người ấy
thành tựu pháp tối thượng, hy hữu
bực nhứt.
Còn nếu kinh điển này ở tại chỗ
nào, thời chỗ đó chính là có đức
Phật, hoặc có hàng tôn trọng Đệ Tử
của Phật."
Bấy giờ, ông Tu Bồ Đề bạch đức Phật
rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Tên gọi
kinh này là gì? Chúng con phải
phụng trì thế nào?"
Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề rằng:
"Kinh này tên là Kim Cang Bát nhã
Ba la mật, ông nên theo danh tự ấy
mà phụng trì.
Bởi vì sao? Này Tu Bồ Đề, đức Phật
nói Bát nhã Ba la mật, chính chẳng
phải Bát nhã Ba la mật, đó gọi là
Bát nhã Ba la mật.
Tu Bồ Đề! Ý của ông nghĩ thế nào?
Đức Như Lai có chỗ nào nói pháp
chăng?"
Ông Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: "Bạch
đức Thế Tôn! Đức Như Lai không có
chỗ nào nói pháp".
"Tu Bồ Đề! Ý của ông nghĩ thế nào?
Bao nhiêu vi trần trong cõi tam
thiên, đại thiên, thế là nhiều
chăng?"
Ông Tu Bồ Đề bạch rằng: "Bạch đức
Thế Tôn! Rất nhiều".
"Này Tu Bồ Đề! Những vi trần ấy,
đức Như Lai nói chẳng phải vi trần,
đó tạm gọi là vi trần. Đức Như Lai
nói thế giới cũng chẳng phải thế
giới, chỉ tạm gọi là thế giới.
Này Tu Bồ Đề! Nơi ý của ông nghĩ
thế nào? Có thể do ba mươi hai
tướng mà thấy Như Lai chăng?"
"Bạch đức Thế Tôn! Không. Chẳng có
thể do ba mươi hai tướng mà thấy
được Như Lai.
Bởi vì sao? Đức Như Lai nói ba mươi
hai tướng chính chẳng phải tướng,
đó chỉ tạm gọi tên là ba mươi hai
tướng."
"Tu Bồ Đề! Như có trang thiện nam,
người thiện nữ nào, đem thân mạng,
bằng số cát sông Hằng ra bố thí.
Nếu lại có người giữ theo trong
kinh này, mà thọ trì nhẫn đến những
bài kệ bốn câu v.v..., mà giảng nói
cho người khác nghe, thời phước của
người này nhiều hơn người trên."
Bấy giờ, ông Tu Bồ Đề nghe đức Phật
nói kinh này, thời ông hiểu thấu
nghĩa thú của kinh, nên ông buồn
khóc, rơi lệ mà bạch với đức Phật
rằng:
"Hi hữu thay, đức Thế Tôn! Đức Phật
nói kinh điển rất sâu xa dường ấy,
từ ngày trước khi đặng huệ nhãn đến
nay, con chưa từng được nghe kinh
điển như thế này.
"Bạch đức Thế Tôn! Nếu lại có người
được nghe kinh này, mà có lòng tin
thanh tịnh, thời chính là sanh
thiệt tướng. Phải biết người ấy
thành tựu công đức hi hữu bực nhất.
Bạch đức Thế Tôn! Thiệt tướng đó
chính chẳng phải tướng, cho nên đức
Như Lai gọi là thiệt tướng.
Bạch đức Thế Tôn! Nay con được nghe
kinh điển như thế này, con tin
hiểu, thọ trì, chẳng đủ lấy làm
khó.
Nếu khoảng năm trăm năm rốt sau ở
đời tương lai, mà có chúng sanh nào
đặng nghe kinh này, rồi tin hiểu
thọ trì, thời người ấy chính là hi
hữu bực nhứt.
Bởi vì sao? Người ấy không có tướng
ngã, không có tướng nhân, không có
tướng chúng sanh, không có tướng
thọ giả.
Vì sao thế? Vì tướng ngã chính là
không phải tướng, tướng nhân, tướng
chúng sanh, tướng thọ giả, chính là
không phải tướng!
Bởi vì sao? Vì rời lìa tất cả
tướng, chính đó gọi là chư Phật".
Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề: "Đúng
thế! Đúng thế! Lại như có người
được nghe kinh này mà lòng không
kinh hãi, không e sợ, không nhút
nhát, thời phải biết, người đó rất
là hi hữu. Bởi vì sao? Này Tu Bồ
Đề! Đức Như Lai nói môn Ba la mật
thứ nhất chính chẳng phải môn Ba la
mật thứ nhất, đó tạm gọi là môn Ba
la mật thứ nhất.
Tu Bồ Đề! Môn Nhẫn nhục Ba la mật,
đức Như Lai nói đó chẳng phải Nhẫn
nhục Ba la mật, mà tạm gọi là Nhẫn
nhục Ba la mật.
Bởi vì sao? Này Tu Bồ Đề! Như Ta
thuở xưa, bị vua Ca Lợi chặt đứt
thân thể. Trong lúc đó, Ta không có
tướng ngã, không có tướng nhân,
không có tướng chúng sanh, không có
tướng thọ giả.
Vì sao vậy? Vì thuở xưa, trong lúc
thân phận bị chặt rời rã đó, nếu Ta
còn có tướng ngã, tướng nhân, tướng
chúng sanh, tướng thọ giả, thời lẽ
ra Ta khởi lòng hờn giận.
Này Tu Bồ Đề! Ta lại nhớ hồi thuở
quá khứ, trong năm trăm đời, Ta làm
vị Tiên nhẫn nhục. Trong bao nhiêu
đời đó, Ta không tướng ngã, không
tướng nhân, không tướng chúng sanh,
không tướng thọ giả.
Tu Bồ Đề! Vì thế nên, Bồ tát phải
rời lìa tất cả tướng, phát tâm Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác. Chẳng
nên trụ trước nơi sắc mà sanh tâm,
chẳng nên trụ trước nơi thanh,
hương, vị, xúc, pháp, mà sanh tâm.
Nên sanh tâm không trụ trước vào
đâu cả.
Nếu như tâm còn có chỗ để trụ, thời
chính là chẳng phải trụ, cho nên
đức Phật nói, tâm của Bồ tát chẳng
nên trụ trước nơi sắc mà bố thí.
Này Tu Bồ Đề! Bồ tát vì lợi ích cho
tất cả chúng sanh, nên phải bố thí
như thế. Đức Như Lai nói tất cả các
tướng chính là không phải tướng,
lại nói tất cả chúng sanh chính là
chẳng phải chúng sanh.
Này Tu Bồ Đề! Đức Như Lai là bực
nói lời chân chánh, lời chắc thiệt,
lời đứng đắn, lời không phỉnh phờ,
lời không sai khác.
Này Tu Bồ Đề! Pháp của đức Như Lai
chứng đặng, pháp ấy, không thiệt,
không hư.
Này Tu Bồ Đề! Nếu tâm của Bồ tát
trụ trước nơi pháp mà làm việc bố
thí, thời như người vào chỗ tối
tăm, liền không thấy đặng chi cả.
Nếu tâm của Bồ tát, không trụ trước
nơi pháp mà làm việc bố thí, thời
như người có mắt sáng, lại có ánh
sáng của mặt trời chiếu đến liền
thấy các thứ hình sắc.
Này Tu Bồ Đề! Về đời đương lai, nếu
có trang thiện nam, người thiện nữ
nào, có thể thọ trì, đọc tụng kinh
này, liền được đức Như Lai dùng trí
huệ của Phật, đều biết rõ người ấy,
đều thấy rõ người ấy, thảy đều được
thành tựu công đức vô lượng, vô
biên.
Này Tu Bồ Đề! Nếu có trang thiện
nam, người thiện nữ nào, vào khoảng
buổi sáng, đem thân mạng bằng số
cát sông Hằng để bố thí, vào khoảng
buổi trưa, lại đem thân mạng bằng
số cát sông Hằng để bố thí, vào
khoảng buổi chiều cũng đem thân
mạng, bằng số cát sông Hằng để bố
thí; trong vô lượng trăm nghìn muôn
ức kiếp, đem thân mạng bố thí như
thế.
Lại như có người nào, nghe kinh
điển này mà sanh lòng tin không
trái, thời phước của người này, hơn
phước của người trước kia, huống
chi là biên chép, thọ trì, đọc
tụng, nói cho người khác nghe!
Này Tu Bồ Đề! Tóm tắt mà nói đó,
thời kinh này có vô biên công đức
không thể nghĩ bàn, không thể cân
lường được.
Đức Như Lai vì người phát tâm đại
thừa mà nói, vì người phát tâm tối
thượng thừa mà nói.
Như có người nào, có thể thọ trì,
đọc tụng, giảng nói rộng ra cho
người khác nghe, thời đức Như Lai
đều biết rõ người ấy, đều thấy rõ
người ấy, thảy đều được thành tựu
công đức không thể lường được,
không thể cân được, không có ngằn
mé, không thể nghĩ bàn được.
Những người như thế, chính là người
gánh vác pháp Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác của đức Như Lai.
Bởi vì sao? Này Tu Bồ Đề! Vì nếu
người nào ham ưa pháp tiểu thừa,
chấp trước tướng ngã, tướng nhân,
tướng chúng sanh, tướng thọ giả,
thời ở nơi kinh này, người ấy không
thể nghe nhận, đọc tụng và giảng
nói cho người khác nghe được.
Này Tu Bồ Đề! Nếu những nơi chỗ nào
mà có kinh này, thời tất cả Trời,
người, A Tu la..., trong đời đều
nên cúng dường. Phải biết chỗ đó
chính là tháp thờ đức Phật, đều
phải cung kính lễ lạy, đi nhiễu
quanh, đem các món hoa hương mà rải
trên chỗ đó.
Lại nữa, này Tu Bồ Đề! Như có trang
nam tử, thiện nữ nhân nào, thọ trì,
đọc tụng, kinh này, lại bị người
khinh tiện; thì những tội nghiệp đã
gây ra trong đời trước, người ấy
đáng lẽ sẽ phải đọa vào ác đạo,
nhưng bởi trong đời nay, bị người
khinh tiện, nên tội nghiệp đã gây
ra trong đời trước đó, liền được
tiêu diệt, người ấy sẽ đặng đạo Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Này Tu Bồ Đề! Ta nhớ lại hồi thuở
trước đức Phật Nhiên Đăng ra đời,
vô lượng vô số kiếp về quá khứ, Ta
gặp đặng tám trăm bốn nghìn muôn ức
na do tha các đức Phật, lúc ấy Ta
thảy đều hầu hạ, cúng dường, không
có luống bỏ qua.
Về đời mạt thế sau này, nếu có
người hay thọ trì, đọc tụng kinh
này, thời công đức của những người
ấy có được, nếu đem so sánh với
công đức cúng dường các đức Phật
của Ta trong thuở trước, thời công
đức của Ta sánh không bằng một phần
trăm, một phần nghìn, muôn, ức, cho
đến tính đếm thí dụ đều chẳng bằng
được.
Này Tu Bồ Đề! Về đời mạt thế sau
này, nếu có trang thiện nam, người
thiện nữ nào, thọ trì, đọc tụng,
kinh này, công đức của những người
đây đặng, nếu Ta nói đủ hết cả ra,
hoặc có kẻ nghe đó, trong lòng liền
cuồng loạn, nghi ngờ, không tin.
Này Tu Bồ Đề! Phải biết rằng, vì
nghĩa lý của kinh này chẳng thể
nghĩ bàn được, nên quả báo cũng
không thể nghĩ bàn được!"
Bấy giờ, ông Tu Bồ Đề bạch với đức
Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Trang
thiện nam, người thiện nữ, phát tâm
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,
phải trụ tâm như thế nào? Phải hàng
phục tâm mình như thế nào?".
Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề: "Trang
thiện nam, người thiện nữ, phát tâm
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đó,
thời phải sanh tâm như vầy: Ta phải
diệt độ tất cả chúng sanh, diệt độ
tất cả chúng sanh xong, mà không có
một chúng sanh nào thiệt diệt độ.
Bởi vì sao? Này Tu Bồ Đề! Nếu Bồ
tát mà còn có tướng ngã; tướng
nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ
giả thời chính là chẳng phải Bồ
tát.
Vì cớ sao? Này Tu Bồ Đề! Vì thiệt
ra không có pháp chi phát tâm Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác cả?
Này Tu Bồ Đề, nơi ý của Ông nghĩ
thế nào? – Ở nơi chỗ đức Phật Nhiên
Đăng thì Như Lai có pháp chi mà
được thành Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác chăng?"
"Bạch đức Thế Tôn! Không, như chỗ
con hiểu nghĩa lý của lời Phật dạy,
thời ở nơi đức Phật Nhiên Đăng, Đức
Thế Tôn đã không có pháp chi mà
được thành Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác cả."
Đức Phật dạy rằng: "Đúng thế! Đúng
thế! Này Tu Bồ Đề! Thiệt không có
pháp chi đức Như Lai đặng Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác.
Này Tu Bồ Đề! Nếu còn có pháp nào
mà đức Như Lai được Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác, thời đức Phật
Nhiên Đăng bèn chẳng thọ ký cho Ta
rằng: "Ông ở đời sau sẽ được thành
Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni."
Bởi thiệt không có pháp chi để được
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,
cho nên đức Phật Nhiên Đăng đã thọ
ký cho Ta, mà nói lời này:
"Ông ở đời sau sẽ được thành Phật
hiệu là Thích Ca Mâu Ni." Bởi vì
sao? Vì Như Lai đó chính là nghĩa
các pháp như như.
Nếu có người nói rằng: Đức Như Lai
được thành Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác.
Này Tu Bồ Đề! Thiệt ra không có
pháp chi mà đức Phật được Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác.
Này Tu Bồ Đề! Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác của đức Như Lai chứng
được, trong đó không thiệt, không
hư, vì thế đức Như Lai nói, tất cả
pháp đều là Phật pháp.
Này Tu Bồ Đề! Tất cả pháp mà đức
Phật nói đó, chính chẳng phải tất
cả pháp, cho nên gọi là tất cả
pháp.
Này Tu Bồ Đề! Ví như thân người cao
lớn."
Ông Tu Bồ Đề bạch rằng: "Bạch đức
Thế Tôn! Đức Như Lai nói thân người
cao lớn, chính là chẳng phải thân
cao lớn, đó tạm gọi là thân cao
lớn".
"Này Tu Bồ Đề! Bồ tát cũng như thế.
Nếu nói lời như vầy: Ta sẽ diệt độ
vô lượng chúng sanh, thời vị đó
không gọi là bực Bồ tát.
Bởi vì sao? Này Tu Bồ Đề! Thiệt
không có pháp chi gọi là Bồ tát.
Vì thế, Như Lai nói tất cả pháp,
không ngã, không nhân, không chúng
sanh, không thọ giả.
Này Tu Bồ Đề! Nếu Bồ tát nói như
thế này: Ta phải trang nghiêm Phật
độ, thời vị ấy không gọi là bực Bồ
tát.
Bởi vì sao? Vì Như Lai nói trang
nghiêm Phật độ đó, chính chẳng phải
trang nghiêm, đó tạm gọi là trang
nghiêm.
Này Tu Bồ Đề! Nếu Bồ tát thông đạt
được lý không ngã, không pháp đó,
thời Như Lai gọi là thiệt phải bực
Bồ tát.
Này Tu Bồ Đề! Nơi ý của ông nghĩ
thế nào? Đức Như Lai có nhục nhãn
chăng?"
"Bạch đức Thế Tôn! Đúng thế, đức
Như Lai có nhục nhãn."
"Này Tu Bồ Đề! Nơi ý của ông nghĩ
thế nào? Đức Như Lai có thiên nhãn
chăng?"
"Bạch đức Thế Tôn!
Đúng thế. Đức Như Lai có thiên
nhãn."
"Này Tu Bồ Đề! Nơi ý của ông nghĩ
thế nào? Đức Như Lai có huệ nhãn
chăng?"
"Bạch đức Thế Tôn! Đúng thế. Đức
Như Lai có huệ nhãn."
"Này Tu Bồ Đề! Nơi ý của ông nghĩ
thế nào? Đức Như Lai có pháp nhãn
chăng?"
"Bạch đức Thế Tôn! Đúng thế. Đức
Như Lai có pháp nhãn."
"Này Tu Bồ Đề! Nơi ý của ông nghĩ
thế nào? Đức Như Lai có Phật nhãn
chăng?"
"Bạch đức Thế Tôn! Đúng thế. Đức
Như Lai có Phật nhãn."
"Này Tu Bồ Đề! Nơi ý của ông nghĩ
thế nào? Như bao nhiêu cát trong
sông Hằng, đức Phật có nói là cát
chăng?"
"Bạch đức Thế Tôn! Đúng thế, đức
Như Lai nói là cát."
"Này Tu Bồ Đề! Nơi ý của ông nghĩ
thế nào? Ví như có bao nhiêu cát
trong một sông Hằng, thì cũng có số
những sông Hằng, bằng số cát như
thế, cõi Phật như bao nhiêu số cát
trong những sông Hằng đó, như thế,
cõi Phật có nhiều chăng?"
"Bạch đức Thế Tôn! Rất nhiều!"
Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề: "Bao
nhiêu thứ tâm niệm của tất cả chúng
sanh trong ngần ấy cõi nước, đức
Như Lai đều biết rõ. Bởi vì sao? Vì
đức Như Lai nói các thứ tâm đều là
chẳng phải tâm, đó gọi là tâm. Vì
cớ sao thế? Này Tu Bồ Đề! Tâm quá
khứ không có chi mà đặng, tâm hiện
tại không có chi mà đặng, tâm vị
lai không có chi mà đặng.
Này Tu Bồ Đề! Nơi ý của ông nghĩ
thế nào? Như có người đem bảy thứ
báu, đầy cả cõi tam thiên đại thiên
để dùng bố thí. Do nhơn duyên như
thế, người ấy có được phước, có
nhiều chăng?"
"Bạch đức Thế Tôn! Đúng thế. Người
đó, do nhân duyên ấy, được phước
rất nhiều."
"Này Tu Bồ Đề! Nếu dùng phước đức
là có, hữu vi, thì đức Như Lai
chẳng nói là được phước đức nhiều.
Do vì phước đức là không, vô vi,
nên đức Như Lai mới nói là được
phước đức nhiều."
"Này Tu Bồ Đề! Nơi ý ông nghĩ thế
nào? Có thể do sắc thân cụ túc, mà
thấy được đức Phật chăng?"
"Bạch đức Thế Tôn! Không. Chẳng nên
do sắc thân cụ túc mà thấy được đức
Như Lai. Bởi vì sao? Vì đức Như Lai
nói sắc thân cụ túc, chính chẳng
phải sắc thân cụ túc, đó tạm gọi là
sắc thân cụ túc."
"Này Tu Bồ Đề! Nơi ý ông nghĩ thế
nào? Có thể do nơi các tướng cụ túc
mà thấy được đức Như Lai chăng?"
"Bạch đức Thế Tôn! Không. Chẳng nên
do nơi các tướng cụ túc mà thấy
được đức Như Lai. Bởi vì sao? Vì
đức Như Lai nói các tướng cụ túc,
nhưng chẳng phải cụ túc, đó tạm gọi
là các tướng cụ túc."
"Này Tu Bồ Đề! Ông chớ nói rằng đức
Như Lai nghĩ thế này: Ta nên có chỗ
thuyết pháp, ông đừng nghĩ như thế.
Bởi vì sao? Vì nếu người nào nói
rằng: Đức Như Lai có thuyết pháp,
thời là hủy báng đức Phật, không
hiểu được nghĩa lý của Phật nói.
Này Tu Bồ Đề! Thuyết pháp đó chính
thiệt không có pháp chi nói được,
đó tạm gọi là thuyết pháp."
Bấy giờ, ông Huệ Mạng Tu Bồ Đề bạch
đức Phật rằng: "Bạch đức Thế Tôn!
Trong thời vị lai, chừng có chúng
sanh nào nghe nói pháp này mà sanh
lòng tin chăng?"
Đức Phật dạy rằng: "Này Tu Bồ Đề!
Chúng sanh kia chẳng phải chúng
sanh, cũng chẳng phải là không phải
chúng sanh. Bởi vì sao? Này Tu Bồ
Đề! Những chúng sanh đó, đức Như
Lai nói chẳng phải chúng sanh, đó
tạm gọi là chúng sanh".
Ông Tu Bồ Đề bạch với đức Phật
rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Đức Phật
chứng được Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác là không có chỗ chi là
được sao?"
Đức Phật dạy rằng: "Đúng thế! Đúng
thế! Này Tu Bồ Đề! Ta ở nơi Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác, nhẫn
đến không có chút pháp chi có thể
gọi là được đó mới gọi là Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác".
Lại nữa, này Tu Bồ Đề! Pháp đó bình
đẳng, không có cao, thấp, đó gọi là
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Do vì không ngã, không nhơn, không
chúng sanh, không thọ giả, mà tu
tất cả pháp lành, liền được Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Này Tu Bồ Đề! Pháp lành đã nói đó
đức Như Lai nói chính chẳng phải
pháp lành đó tạm gọi là pháp lành.
Này Tu Bồ Đề! Như trong cõi tam
thiên, đại thiên, có bao nhiêu núi
chúa Tu Di, nếu có người góp cả bảy
thứ báu lại, bằng những núi Tu Di
đó, đem dùng mà bố thí.
Nơi kinh Bát nhã Ba la mật này nhẫn
đến một bài kệ bốn câu v.v... nếu
có người thọ trì, đọc tụng, giảng
nói cho kẻ khác nghe, thời phước
đức của người bố thí trước, sánh
không bằng một phần trăm, một phần
nghìn, muôn ức, cho đến tính đếm
thí dụ đều chẳng bằng được.
Này Tu Bồ Đề! Nơi ý của ông nghĩ
thế nào? Các ông chớ cho rằng đức
Như Lai nghĩ như vầy: Ta phải hóa
độ chúng sanh. Này Tu Bồ Đề! Ông
đừng nghĩ như thế. Bởi vì sao? Vì
thiệt không có chúng sanh nào đức
Như Lai độ cả. Nếu có chúng sanh mà
đức Như Lai độ đó, thời đức Như Lai
còn có tướng ngã, nhơn, chúng sanh,
thọ giả.
Này Tu Bồ Đề! Đức Như Lai nói có
ngã đó chính chẳng phải có ngã, mà
kẻ phàm phu lại cho là có ngã.
Này Tu Bồ Đề! Phàm phu đó, đức Như
Lai nói chính chẳng phải phàm phu,
đó tạm gọi là phàm phu.
Này Tu Bồ Đề! Nơi ý của ông nghĩ
thế nào? Có thể do nơi ba mươi hai
tướng mà xem là đức Như Lai chăng?"
Ông Tu Bồ Đề bạch rằng: "Đúng thế!
Đúng thế! Do nơi ba mươi hai tướng
mà xem là đức Như Lai".
Đức Phật dạy rằng: "Này Tu Bồ Đề!
Nếu do nơi ba mươi hai tướng mà xem
là đức Như Lai đó, thời vua Chuyển
Luân Thánh Vương chính là đức Như
Lai rồi!"
Ông Tu Bồ Đề bạch với đức Phật rằng
"Bạch đức Thế Tôn! Theo như con
hiểu nghĩa lý của đức Phật nói,
thời chẳng nên do nơi ba mươi hai
tướng mà xem là đức Như Lai". Bấy
giờ đức Thế Tôn liền nói kệ rằng:
Nếu dùng sắc thấy ta,
Dùng tiếng tăm cầu ta,
Người ấy tu đạo tà!
Chẳng thấy được Như Lai.
Tu Bồ Đề! Nếu ông nghĩ thế này: Đức
Như Lai, không phải vì có tướng cụ
túc mà được Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác!
Tu Bồ Đề! Ông cũng đừng nghĩ như
vầy: Đức Như Lai há chẳng do nơi
tướng cụ túc mà được Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác sao?
Tu Bồ Đề! Nếu ông nghĩ như vầy:
Người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác nói các pháp đều đoạn
diệt. Ông đừng nghĩ như thế. Bởi vì
sao? Vì nơi các pháp, người phát
tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác
không nói tướng đoạn diệt.
Này Tu Bồ Đề! Nếu Bồ tát đem bảy
thứ báu đầy cả những cõi nước bằng
số cát sông Hằng để làm việc bố
thí.
Nếu lại có người biết lý vô ngã của
tất cả pháp mà đặng thành nhẫn trí.
Vị Bồ tát này được công đức hơn
phước đức của vị Bồ tát trước. Bởi
vì sao? Này Tu Bồ Đề! Vì các vị Bồ
tát không nhận lấy phước đức."
Ông Tu Bồ Đề bạch với đức Phật
rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Tại sao
các vị Bồ tát không nhận lấy phước
đức?"
"Này Tu Bồ Đề! Vị Bồ tát phàm có
làm việc phước đức thời chẳng nên
tham trước, vì thế nên nói là chẳng
nhận lấy phước đức.
Này Tu Bồ Đề! Nếu có người nói: Đức
Như Lai hoặc đến, hoặc đi, hoặc
ngồi, hoặc nằm, thời người ấy không
hiểu nghĩa của Phật nói. Bởi vì
sao? Vì Như Lai đó, không từ nơi
nào lại, mà cũng không đi về đâu,
nên gọi là Như Lai!
Này Tu Bồ Đề! Như có trang thiện
nam, người thiện nữ, đem cõi tam
thiên đại thiên đập nát ra vi trần.
Nơi ý ông nghĩ thế nào? Các vi trần
đó có nhiều chăng?"
Ông Tu Bồ Đề bạch rằng "Bạch đức
Thế Tôn! Rất nhiều. Bởi vì sao? Vì
nếu những vi trần đó là thiệt có,
thời đức Phật chẳng nói là những vi
trần.
Vì cớ sao thế? Vì đức Phật nói
những vi trần chính chẳng phải
những vi trần, đó tạm gọi là những
vi trần.
Bạch đức Thế tôn! Cõi tam thiên,
đại thiên của đức Như Lai nói,
chính chẳng phải thế giới, đó gọi
là thế giới. Bởi vì sao? Vì nếu thế
giới là thiệt có ấy, thời là một
hợp tướng.
Đức Như Lai nói một hợp tướng chính
chẳng phải một hợp tướng, đó tạm
gọi là một hợp tướng".
"Này Tu Bồ Đề! Một hợp tướng đó bèn
là chẳng thể nói được, chỉ nơi kẻ
phàm phu tham trước việc ấy thôi.
Này Tu Bồ Đề! Như có người nói: Đức
Phật nói ngã kiến, nhân kiến, chúng
sanh kiến, thọ giả kiến. Nơi ý của
ông nghĩ thế nào? Người ấy hiểu
nghĩa lý của Phật nói chăng?"
"Bạch đức Thế Tôn! Không. Người ấy
không hiểu nghĩa lý của đức Phật
nói. Bởi vì sao? Đức Thế tôn nói
ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh
kiến, thọ giả kiến, chính chẳng
phải ngã kiến, nhân kiến, chúng
sanh kiến, thọ giả kiến, đó tạm gọi
là ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh
kiến, thọ giả kiến".
"Này Tu Bồ Đề! Nơi tất cả pháp,
người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác phải biết như thế, thấy
như thế, tin hiểu như thế, chẳng
sanh pháp tướng.
Này Tu Bồ Đề! Pháp tướng nói ra đó,
đức Như Lai nói chính là không phải
pháp tướng, đó tạm gọi là pháp
tướng.
Này Tu Bồ Đề! Như có người đem bảy
thứ báu đầy cả vô lượng vô số cõi
nước để làm việc bố thí. Như có
trang thiện nam, người thiện nữ
nào, phát tâm Bồ đề, thọ trì kinh
này, nhẫn đến một bài kệ bốn câu
v.v... tự mình thọ trì, đọc tụng,
lại giảng cho kẻ khác nghe, thời
phước đức của người này hơn người
trước.
Giảng nói cho người khác nghe như
thế nào?: – "Không chấp lấy nơi
tướng, như như chẳng động?"
Bởi vì sao?
Tất cả những pháp hữu vi
Khác nào mộng, huyễn, khác gì điện,
sương.
Như bóng nước, như ảnh tượng.
Xét suy như thế cho thường chớ
quên!
Đức Phật nói kinh này xong, ông
Trưởng Lão Tu Bồ Đề cùng với các vị
Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu
Bà Di, tất cả Trời, Người, A Tu La
v.v... trong thế gian, nghe những
lời của Đức Phật dạy, thảy đều rất
vui mừng, tin nhận, vâng theo tu
hành.
NAM MÔ BÁT NHÃ HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ
TÁT MA HA TÁT. (3 lần)
KIM CANG CHÂN NGÔN:
Án, hô rô, hô rô, xả duệ, mục khế,
tá ha. (7 lần)
PHỔ HỒI HƯỚNG CHÂN NGÔN:
Án, Ta ma ra, Ta ma ra, Nhĩ ma nẵng
tát cót ra – Ma ha, chước ca ra
hồng. (7 lần)
Nhứt hồi hướng: Chân như thiệt tế
tâm tâm khế hiệp.
Nhị hồi hướng: Vô thượng Phật quả,
bồ đề niệm niệm viên mãn.
Tam hồi hướng: Pháp giới nhứt thiết
chúng sanh đồng sanh tịnh độ.
TÁN VIẾT:
Kim cang công đức,
Diệu lý nan lương,
Như Lai vị chúng quảng tuyên dương.
Thọ thí ngộ chân thường,
Dĩ chư hoa hương.
Phổ tán Pháp Trung Vương.
NAM MÔ KỲ VIÊN HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ
TÁT MA HA TÁT. (3 lần)
MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH
Quán tự tại Bồ tát hành thâm Bát
nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến
ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết
khổ ách.
Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không
bất dị sắc, sắc tức thị không,
không tức thị sắc, thọ, tưởng,
hành, thức, diệc phục như thị.
Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không
tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu,
bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị
cố không trung vô sắc, vô thụ,
tưởng, hành, thức, vô nhãn, nhĩ,
tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh,
hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới,
nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh,
diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão
tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ,
tập, diệt, đạo; vô trí, diệc vô
đắc, dĩ vô sở đắc cố. Bồ đề tát đỏa
y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô
quái ngại; vô quái ngại cố, vô hữu
khủng bố, viễn ly điên đảo mộng
tưởng, cứu cánh Niết bàn. Tam thế
chư Phật y Bát nhã Ba la mật đa cố,
đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.
Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị
đại thần chú, thị đại minh chú, thị
vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng
chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chân
thật bất hư.
Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú,
tức thuyết chú viết:
Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la
tăng yết đế, Bồ đề tát ba ha. (3
lần)
Tự Quy y
Tự Quy y Phật, Đương nguyện chúng
sanh, Thể giải đại đạo, Phát Vô
thượng tâm.
Tự Quy y Pháp, Đương nguyện chúng
sanh, Thâm nhập kinh tạng, Trí tuệ
như hải.
Tự Quy y Tăng, Đương nguyện chúng
sanh, Thống lý đại chúng, Nhất
thiết vô ngại.
HỒI HƯỚNG
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
tkl
=====(Trích
Đại Tạng Kinh VN)=========
Nguyễn Du và Kinh Kim Cang
(Phan Quang Việt)
Vì Nguyễn Du học Phật và nghiên cứu
kinh điển Phật Giáo đã nhiều năm
một cách hết sức tinh tấn nhất là
kinh điển Đại Thừa trong đó có Kinh
Kim Cương mà Nguyễn Du đã đọc hàng
ngàn lần, do đó vào năm 1813, khi
Nguyễn Du đến thăm Phân Kinh Thạch
Đài (xây vào khoảng thế kỷ thứ 6)
và sau hơn 12 thế kỷ đã trôi qua,
kinh điển nào thấy đâu? bao người
tụng trì, nghiên cứu đã đi về đâu?
Bây giờ ở nơi đó chỉ còn di tích
hoang tàn đổ nát của Đài khiến cho
Tâm Chân Như của Nguyễn Du bừng
sáng để Nguyễn Du chứng ngộ Tánh
Không (Sunnyatta) của Kinh Kim
Cương và đã thốt lên rằng Kinh Kim
Cương chẳng qua không có chữ (vô
tự): “Chung tri: vô tự thị chân
kinh” (Chân kinh thật nghĩa chẳng
qua không lời).
Kim Cương đọc đến ngàn lần
Mà trong mờ ảo như gần như xa
Thạch Đài tìm đến hiểu ra
Chân kinh thật nghĩa chẳng qua
không lời.
Vì Nguyễn Du học Phật và nghiên cứu
kinh điển Phật Giáo đã nhiều năm
một cách hết sức tinh tấn nhất là
kinh điển Đại Thừa trong đó có Kinh
Kim Cương mà Nguyễn Du đã đọc hàng
ngàn lần, do đó vào năm 1813, khi
Nguyễn Du đến thăm Phân Kinh Thạch
Đài (xây vào khoảng thế kỷ thứ 6)
và sau hơn 12 thế kỷ đã trôi qua,
kinh điển nào thấy đâu? bao người
tụng trì, nghiên cứu đã đi về đâu?
Bây giờ ở nơi đó chỉ còn di tích
hoang tàn đổ nát của Đài khiến cho
Tâm Chân Như của Nguyễn Du bừng
sáng để Nguyễn Du chứng ngộ Tánh
Không (Sunnyatta) của Kinh Kim
Cương và đã thốt lên rằng Kinh Kim
Cương chẳng qua không có chữ (vô
tự): “Chung tri: vô tự thị chân
kinh” (Chân kinh thật nghĩa chẳng
qua không lời).
Nguyễn Du và Kinh Kim Cang
Phan Quang Việt
“Nói ra là bị kẹt
Không nói cũng không xong
Vì anh đưa một nét
Đầu núi ánh dương hồng.”
(Thiền Sư Chân Nguyên, Việt Nam,
thế kỷ 17)
1. Sơ lược tiểu sử (1765- 1820)
Nguyễn Du, tự là Tố Như, hiệu là
Thanh Hiên, quán tại làng Tiên
Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà
Tĩnh, con thứ bảy Cụ Hoàng Giáp
Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm. Thân
phụ Ông thi đỗ tiến sĩ và làm quan
đến chức Tể Tướng thời Lê-Trịnh.
Nguyễn Du sinh năm Ất Dậu (1765) ở
phường Bích Câu, thành Thăng Long
(sau này là Hà Nội), niên hiệu Cảnh
Hưng thứ 26 đời nhà Lê, khi thân
phụ đang làm Tể Tướng. Nguyễn Du đỗ
tam trường thi Hương khi 19 tuổi,
là người học rộng, tinh thông cả
Phật học và sành các môn thi họa.
Thân phụ Nguyễn Nghiễm qua đời lúc
Nguyễn Du mới 10 tuổi (1775) và
thân mẫu của Nguyễn Du là Bà Trần
Thị Tần (1740-1778, sinh quán ở
tỉnh Bắc Ninh) mất sớm lúc Nguyễn
Du 13 tuổi nên Nguyễn Du về sống
với người anh khác mẹ là Nguyễn
Khản (hơn Nguyễn Du 31 tuổi, Hồng
Lĩnh Hầu Nguyễn Khản, trấn thủ Sơn
Tây-Hưng Hóa, làm quan Tả Tư Giảng
cho thế tử Trịnh Tông) nuôi dưỡng
và cho ăn học. (2) (“Trích giảng
Truyện Kiều của Nguyễn Du, ” Giáo
Sư Hồ Đình Chữ, Việt Luận xuất bản,
Sydney, 1996). Năm 1784, vì đỗ
thấp, Nguyễn Du chỉ được thế chân
người cha nuôi họ Hà vừa mới mất,
làm một chức quan võ ở Thái Nguyên.
(2) (sách đã dẫn, trang 5)
Trong suốt mười năm từ 1786-1795,
Nguyễn Du lưu lạc ở quê vợ ở Thái
Bình.
Trong những năm 1796-1802, Nguyễn
Du lui về ẩn cư ở quê nhà ở Tiên
Điền, Hà Tĩnh, mặc dù sống rất
nghèo nhưng an nhiên, tự tại vì
Nguyễn Du đọc kinh Phật, tu học
Thiền để tìm đạo giải thoát.
Năm Gia Long nguyên niên (1802),
Nguyễn Du được triệu ra làm quan,
bắt đầu là Tri Huyện Phụ Dực, Thái
Bình; ít lâu sau làm Tri Phủ Thường
Tín (nay thuộc Hà Đông). Năm 1805,
Nguyễn Du đã được phong tước là Du
Đức Hầu. Sau đó Nguyễn Du cáo bệnh
xin lui về quê.
Năm Gia Long thứ 5 (1806), Nguyễn
Du được triệu vào kinh đô Huế giữ
chức Đông Các Học Sĩ; năm 1809, làm
Bố Chính tỉnh Quảng Bình. Tháng 2
năm 1813, Nguyễn Du được thăng Cần
Chánh Điện Học Sĩ, rồi có chỉ sai
làm Chính Sứ tuế cống đi Trung Hoa
và tháng 4 năm Giáp Tuất (1814) ông
trở về Kinh được thăng Lễ Bộ Hữu
Tham Tri. Năm Minh Mạng nguyên niên
(1820), Nguyễn Du sắp sửa đi sứ
Trung Hoa lần nữa, nhưng bị bệnh
mất ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn,
thọ 56 tuổi.
Thi văn chữ Hán của Nguyễn Du để
lại gồm Thanh Hiên Tiền Hậu Tập,
Bắc Hành Thi Tập, Nam Trung Tạp
Ngâm, Lê Quí Kỷ Sự.
Về thơ Nôm, Nguyễn Du lưu lại trong
kho tàng văn học Việt Nam thiên
trường thi bất hủ Đoạn Trường Tân
Thanh (ĐTTT), được truyền tụng
trong dân gian và được liệt vào tài
liệu giáo khoa dạy ở bậc trung học.
ĐTTT là áng văn chương tuyệt tác,
viết theo thể thơ lục bát gồm 3254
câu, dài nhất trong các tác phẩm
xưa nay. Ngoài ra, bài thơ chữ Nôm
“Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh” là
một ngâm khúc gồm có 184 câu theo
thể song thất lục bát, trong đó
chứa đựng tấm lòng từ bi của người
Phật tử Nguyễn Du đối với cảnh khổ
của muôn vạn sinh linh, cũng là một
tác phẩm giá trị được nhiều học giả
nghiên cứu, trích giảng.
2. Hai thời kỳ lưu lạc (1786 -
1795) và ẩn cư (1795 - 1802) của
Nguyễn Du
Từ trước tới nay, các nhà biên khảo
văn học thường bàn luận nhiều về
Nguyễn Du và tác phẩm Đoạn Trường
Tân Thanh, mà ít khi nói tới hai
giai đoạn quan trọng trong đời
Nguyễn Du là thời kỳ sống lưu lạc ở
quê vợ và việc lui về ẩn cư ở quê
nhà và trong thời gian này Nguyễn
Du nghiên cứu kinh điển Phật giáo,
tu học Thiền tông để rồi hơn mười
năm sau Nguyễn Du đã chứng ngộ khi
đi sứ sang Trung Hoa (1813 - 1814)
(sẽ trình bày rõ thêm trong những
phần sau của bài viết).
2.1 Thời kỳ lưu lạc từ 1786 - 1795
Trong suốt mười năm, Nguyễn Du lưu
lạc ở quê vợ ở Thái Bình, và Ông đã
viết: “Thập tải phong trần khứ quốc
xa” (xin tạm chuyển sang tiếng
Việt: “Mười năm gió bụi cách xa
quê”) vì hai lý do sau: (i) năm
1784, kiêu binh nổi dậy kéo đến nhà
Nguyễn Khản, Ông trốn được lên Sơn
Tây “rồi về Hà Tĩnh, nhưng dinh cơ
ở Thăng Long đều bị phá sạch, (ii)
người anh khác mẹ của Nguyễn Du là
Nguyễn Quýnh, con của bà trắc thất
Nguyễn “Thị Xuyên, chống lại Tây
Sơn nên bị giết, và cũng vì vậy mà
Tây Sơn phá hết dinh cơ’ của họ
Nguyễn ở Tiên Điền.
Trong bài thơ Quỳnh Hải Nguyên Tiêu
có câu: “Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ
tán” (Ở Hồng Lĩnh không có nhà, anh
em tan tác) cho ta thấy được lý do
Nguyễn Du phải “về sống ở quê vợ.”
Suốt mười năm, Nguyễn Du sống ăn
nhờ ở đậu, đau ốm liên miên, nghèo
khổ không có “tiền mua thuốc, trôi
nổi nay đây mai đó, túng quẫn bi
thương... Trong những bài thơ Xuân
Nhật Ngẫu Hứng, Tự Thán, Bất Mị,
Sơn Cư Mạn Hứng, U Cư,... ta “bắt
gặp được rất nhiều ý tình về cảnh
sống xa quê hương, sầu thời thế,
nghèo khổ, lưu lạc, “tan tác...”
(2) (sách đã dẫn, trang 2-9).
2.2 Thời kỳ ẩn cư từ 1795 - 1802
Năm 1796, Nguyễn Du định rời Hà
Tĩnh để vào Gia Định giúp Nguyễn
Ánh nên bị tướng Nguyễn Thận của
nhà Tây Sơn bắt giam. Nhưng Nguyễn
Thận đã tha cho Nguyễn Du vì nể
tình bạn với Nguyễn Nễ, anh của
Nguyễn Du. Sau đó Nguyễn Du lui về
ẩn cư ở quê nhà. Sách có ghi là
Nguyễn Du theo gót La Sơn Phu Tử
(9) đi ngao du sơn thủy, đi khắp cả
vùng 99 ngọn núi Hồng Lĩnh, dãy núi
vùng Nghệ An - Hà Tĩnh, cách quê
của Nguyễn Du khoảng 10 cây số. Gia
phả họ Nguyễn Tiên Điền chép ông
trở về lấy cảnh núi sông làm vui,
tự gọi mình là Hồng Sơn Liệp Hộ
(người săn bắn núi Hồng) và Nam Hải
Điếu Đồ (người chài lưới biển Nam).
Về nhân vật lịch sử La Sơn Phu Tử,
theo Trần Trọng Kim, là: ông Nguyễn
Thiệp, tự là Khải Chuyên, hiệu là
Nguyệt Úc, biệt hiệu là Hạnh Am.
Ông làm nhà ở Lục Niên Thành, thuộc
huyện La Sơn, tỉnh Hà Tĩnh bây giờ,
cho nên người ta gọi là Lục Niên
tiên sinh hay là La Sơn Phu Tử. Vua
Quang Trung từ khi đem quân ra đánh
Bắc Hà, biết tiếng Nguyễn Thiệp, đã
mấy lần cho người đem lễ vật mời
ông ra giúp, ông không nhận lễ và
cũng từ chối không ra. Đến khi Ngài
đã đăng cực, lại mấy lần cho người
đón mời ông, ông có đến bái yết và
khuyên vua nên lấy nhân nghĩa mà
trị dân trị nước, rồi lại xin về.
Vua Quang Trung tuy không dùng được
ông, nhưng bao giờ cũng tôn kính
ông như bậc thầy, và việc chính trị
trong nước thường theo ý nghĩa của
ông đã trình bày.” (9) (Trần Trọng
Kim, Việt Nam Sử Lược, quyển 2, Bộ
Giáo Dục xuất bản, Sài Gòn 1971,
trang 140-141).
2.2.1 Nguyễn Du đã cho chúng ta
thấy là tiên sinh đã chán ngán việc
học hành, kiến thức thế gian tầm
thường “Suốt đời thơ phú ròng vô
bổ, Đầy giá sách đàn chất mãi ngu.”
trong bài thơ sau:
Mạn Hứng
Long Vĩ châu biên đa bạch âu,
Lam Giang đường thượng hữu hàn nho.
Nhất sinh từ phú tri vô ích,
Mãn giá cầm thư đồ tự ngu.
Bách tuế vi nhân bì thuấn tức,
Mộ niên hành lạc tích tu du.
Ninh tri dị nhật tây lăng hạ,
Năng ẩm trùng dương nhất trích vô.
(Long Vĩ bờ bên một đám cò,
Sông Lam trên bến bác hàn nho.
Suốt đời thơ phú ròng vô bổ,
Đầy giá sách đàn chất mãi ngu.
Cuộc sống trăm năm coi mấy chốc,
Chuyện vui tuổi cả tiếc từng giờ.
Phía tây bãi cỏ khi nằm xuống,
Chén rượu trùng dương ai tưới cho.)
(Nguyễn Vũ My và Trần Thanh Mại
dịch) (2) (sách đã dẫn, trang
10-11)
2.2.2 Từ những chán ngán cái học
tầm thường của thế gian, Nguyễn Du
đã tìm đọc kinh điển Phật (nhất là
kinh Kim Cương Bát-nhã Ba-la-mật)
và học tu Thiền nên dù sống nghèo
mà lòng vẫn an nhiên tự tại để “Lá
rơi hoa nở việc trước mắt, Tâm
trạng quanh năm vẫn nhẹ nhàng,” hay
là “Đạt sĩ, cõi lòng trăng sáng tỏ,
Cao nhân, trước cửa núi bao la” như
trong hai bài thơ sau:
Tạp Thi II
Hồng Sơn nhất sắc lâm bình cừ
Thanh tịch khả vi hàn sĩ cư.
Thiên lý bạch vân sinh kỷ tịch,
Nhất song minh nguyệt thướng cầm
thư.
Tiếu đề tuẩn tục can qua tế,
Giam mặc tàng sinh lão bệnh dư.
Diệp lạc hoa khai nhãn tiền sự,
Tứ thời tâm kính tự như như.
(Trên giải non Hồng dưới làn nước
Nho nghèo ở đó cũng thanh nhàn
Nghìn tầm mây bạc quanh giường
chiếu,
Một mảnh trăng trong giọi sách đàn.
Cười khóc theo đời qua buổi loạn,
Trầm tiềm giữ miệng dưỡng thân tàn.
Lá rơi hoa nở việc trước mắt,
Tâm trạng quanh năm vẫn nhẹ nhàng.)
Tạp Ngâm II
Long Vĩ giang đầu ốc nhất gian,
U cư sầu cực hốt tri hoan.
Đạt nhân tâm cảnh quang như nguyệt,
Xử sĩ môn tiền thanh giả san.
Chẩm bạn thúc thư phù bệnh cốt,
Đăng tiền đẩu tửu khởi suy nhan.
Táo đầu chung nhật vô yên hỏa
Song ngoại hoàng hoa tú khả xan.
(Đầu sông Long Vĩ một gian nhà,
Ở ẩn buồn teo bỗng thú a!
Đạt sĩ, cõi lòng trăng sáng tỏ,
Cao nhân, trước cửa núi bao la.
Sách chồng cạnh gối đỡ thân mệt,
Rượu nhắp bên đèn đổi sắc da.
Trong bếp suốt ngày không khói lửa,
Ngoài song no với khóm hoàng hoa.)
(Nguyễn Vũ My và Trần Thanh Mại
dịch) (2) (sách đã dẫn, trang
10-11)
2.2.3 Nhờ thực hành sâu xa Trí Tuệ
Bát-nhã của kinh Kim Cương, Nguyễn
Du quán xét tất cả các pháp hữu vi
đều không có tự tánh, vô thường
sinh diệt. Vì buông xả các pháp và
vọng tưởng nên Nguyễn Du cho chúng
ta thấy tiên sinh đã “hàng phục
vọng tâm và an trụ chân tâm” của
mình qua bài thơ “Đạo Ý” sau đây:
(2) (bài thơ trong sách đã dẫn,
trang 27-28)
Đạo Ý
Minh nguyệt chiếu cổ tỉnh,
Tỉnh thủy vô ba đào.
Bất bị nhân khiên xả
Thử tâm chung bất dao
Túng bị nhân khiên xả
Nhất dao hoàn phục chỉ.
Trạm trạm nhất phiến tâm,
Minh nguyệt cổ tỉnh thủy.
(Trăng sáng giọi giếng xưa,
Nước giếng không gợn sóng.
Không ai người khuấy lên
Lòng này không xao động.
Dù ai người khuấy lên
Động qua lặng rất chóng.
Trong vắt một tấm lòng,
Giếng xưa trăng giọi bóng.)
2.2.4 Khi tâm an trụ không dính mắc
6 trần cảnh (sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp) nên tâm như như chẳng
động. Chúng ta hãy đọc bài thơ “Đề
Tam Thanh Động” của Nguyễn Du để
hiểu rõ “tâm” của thi hào Tố Như
“thường định không rời cảnh Thiền”
vì Nguyễn Du đã đọc và hiểu kinh
Kim Cương nên không còn chấp vào
“ngã tướng,” “nhân tướng,” “chúng
sinh tướng” và “thọ giả tướng” nên
quán sát tất cả các cảnh giới đều
không có tướng (vô tướng) (“Mãn
cảnh giai không hà hữu tướng,” Khắp
cảnh giới đều trống rỗng thì làm gì
còn sắc tướng):
Đề Tam Thanh Động
Vạn ban thủy thạch thiện đại xảo,
Nhất lạp kiền khôn khai tiểu thiên,
Mãn cảnh giai không hà hữu tướng,
Thử tâm thường định bất ly Thiền.
Ngàn muôn thứ nào đá, nào nước, xếp
đặt tự nhiên, nghệ thuật rất khéo.
Một hạt nhỏ trời đất mở ra một thế
giới nhỏ nữa,
Khắp cảnh giới đều trống rỗng thì
làm gì còn sắc tướng,
Lòng này thường định không rời cảnh
Thiền.
(Bài dịch của Giáo Sư Nguyễn Đăng
Thục, Thế Giới Thi Ca Nguyễn Du,
Xuân Thu, trang 173).
2.3 Sau này khi đi sứ sang Trung
Hoa (1813 - 1814), Nguyễn Du đã
viết trong bài thơ “Lương Chiêu
Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài”
và cho ta thấy Nguyễn Du đã đọc
kinh Kim Cương hàng ngàn lần trong
những năm Nguyễn Du ở ẩn nơi quê
nhà:
“... Minh kính diệc phi đài,
Bồ đề bản vô thụ.
Ngã độc Kim Cương thiên biến linh,
Kỳ trung áo chỉ đa bất minh;
Cập đáo Phân Kinh Thạch Đài hạ,
Chung tri: vô tự thị chân kinh.”
Bài dịch của Giáo Sư Nguyễn Đăng
Thục:
“... Tấm gương trong không phải
thật có đài gương,
Cây Bồ Đề cũng không phải cây thật.
Ta đọc kinh Kim Cương có hơn ngàn
lần,
Ý nghĩa uyên thâm trong ấy phần
nhiều không hiểu;
Tới nay đến dưới đài Phân Kinh này,
Mới biết rằng kinh không chữ mới
thật là chân kinh.”
(4) (Nguyễn Đăng Thục, Thế Giới Thi
Ca Nguyễn Du, Xuân Thu, trang 173)
Chúng ta ai cũng biết là kinh Kim
Cương là kinh thường tụng đọc hằng
ngày trong Thiền tông và những ai
học và thực hành Thiền đều đọc kinh
này vì Đức Phật đã dạy ông Tu Bồ Đề
trong kinh này:
Nếu lại có người nào đối với kinh
này, lãnh thọ và hành trì được, cho
chí đến bốn câu kệ, và lại đem nói
cho người nghe mà làm, thì lại phúc
hơn người kia. Vì cớ gì vậy? - Này
ông Tu Bồ Đề, hết thảy chư Phật và
pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác (Anuttara Samyak Sambodhi,
tiếng Hán chuyển âm là A Nậu Đa La
Tam Miệu Tam Bồ Đề) của chư Phật,
cũng đều bởi kinh này mà ra. Ông Tu
Bồ Đề, cái pháp ta gọi là Phật pháp
đó, tức không phải là Phật pháp.”
(3) (Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La
Mật, phận thứ 8, “Y pháp xuất sinh”
Nương theo pháp mà sinh ra, Thiều
Chửu dịch và giảng giải, Trung Tâm
Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam tại Cộng
Hòa Liên Bang Đức, xuất bản năm
1984, trang 47-49).
Chúng ta có thể hiểu là Nguyễn Du
học Phật và tu theo Thiền tông
trong thời gian ở ẩn nơi quê nhà và
Nguyễn Du cũng đọc cả “Pháp Bảo Đàn
Kinh” của Lục Tổ Huệ Năng khi tiên
sinh đã trích dẫn hai câu trong bài
kệ của Lục Tổ Huệ Năng:
Minh kính diệc phi đài,
Bồ đề bản vô thụ.
(Gương sáng cũng không đài
Bồ đề chẳng có thân.)
3. Vào những năm cuối của đời mình,
Cụ Vũ Khắc Khoan (sinh ngày 27
tháng 2 năm 1917 tại Hà Nội và qua
đời ngày 12 tháng 9 năm 1986 tại
Minnesota, Hoa Kỳ) đã đọc và nghiên
cứu kinh Phật do đó trong tác phẩm
“Đọc Kinh” Cụ Vũ Khắc Khoan đã có
viết về Nguyễn Du, tác giả của
tuyệt tác Đoạn Trường Tân Thanh,
như sau:
Khoảng đầu thế kỷ thứ 19, nhân một
chuyến đi sứ sang Trung Quốc,
Nguyễn Du có dịp đến tham Phân Kinh
Thạch Đài. Bấy giờ - trên 1,000 năm
đã qua - đá đài Phân Kinh đã mòn.
Rêu leo xanh mái, mưa cũ đọng chân
tường, cỏ dại lấp lối đi, hoang vu
hun hút hành lang vắng lặng. Trời
ngả vào chiều. Nắng quái lung linh
vách đá. Đâu rồi những vết kinh
xưa. Lăng Già, Viên Giác, Bát Nhã,
Kim Cương. Kim Cương... Ngã độc Kim
Cương thiên biến linh.”
Tôi nghe như vầy: Một hôm tại nước
Xá Vệ, Phật và 1250 vị Đại Tỳ Kheo
đều ở tịnh xá Kỳ Hoàn, trong vườn
của thái tử Kỳ Đà và ông trưởng giả
Cấp Cô Độc. Sắp đến giờ ngọ trai,
Phật và chúng tăng đều đắp y, mang
bình bát vào thành Xá Vệ, theo thứ
lớp khất thực. Khất thực xong, Phật
và chúng tăng đồng về tịnh xá để
thọ trai. Sau khi thọ trai xong,
Phật xếp y, cất bình bát và rửa
chân, rồi trải tọa cụ, ngồi yên
tịnh. Khi đó, ở trong đại chúng,
ông trưởng lão Tu Bồ Đề đứng dậy,
vén tay áo bên hữu, gối bên hữu quỳ
xuống, chắp tay cung kính bạch Phật
rằng: - Hy hữu thay, đức Thế Tôn!
Ngài thường nhớ nghĩ và bảo hộ các
vị Bồ Tát, Ngài rất hay khéo dạy
bảo các vị Bồ Tát. Bạch Thế Tôn,
nếu có người phát tâm Bồ Đề muốn
cầu quả Phật, thì:
Làm sao hàng phục vọng tâm? Làm sao
an trụ chân tâm?...”
(Kinh Kim Cương, phần Pháp Hội Nhân
Do, và phần Ngài Tu Bồ Đề (Subhuti)
thỉnh cầu Phật thuyết pháp).
“Hàng phục vọng tâm, an trụ chân
tâm, hai niềm thắc mắc không riêng
của ông Tu Bồ Đề, mà của toàn thể
đại chúng thuở đó, của chúng ta hôm
nay, của riêng Nguyễn Du một mình.
Ngã độc Kim Cương thiên biến linh
1,000 lần, hai niềm thắc mắc đó đặt
ra. Và biết bao nhiêu lần nữa, khi
cuốn kinh gấp lại? Đôi khi, từ
những ngôn từ tường-đồng-vách-sắt
dựng lên trong kinh nghe cũng có
vọng ra bên ngoài, lọt vào tâm thức
Nguyễn Du một chút gì - như vậy,
như vậy - tạm gọi là nghĩa của
kinh. Nhưng nghĩa đó chắc đâu đã là
ý của người nói kinh? Ý của đức Thế
Tôn năm xưa đâu phải chỉ là như
vậy, như vậy?
Ngã độc Kim Cương thiên biến linh
Lần thứ 1,000 lẻ một, không có
kinh.
Chỉ có nắng chiều và đá tảng.
Nắng dợn trên đá phân kinh.
Và đá và nắng bỗng nhiên hội duyên
nói pháp.
.... Thuở đó, xa rồi.
Chấm dứt.
Giờ đây nắng tắt, đá mòn.
Giờ đây chỉ còn một chút chập chờn.
Trong đêm nghe như đã bắt đầu, lời
kinh âm u như vọng như chân, nghĩa
kinh ẩn ẩn hiện hiện, ánh lửa chài
le lói bên sông lạ, ý kinh tuyệt mù
trong mộng và huyễn, là bọt nước
mặt hồ trong cơn mưa ngâu, giọt
sương chiều đọng lại, giọt sương
mai tan đi. Vừa kịp thấy đó, chớp
mắt không còn, mới nghe vang lên đã
chìm vào sâu lặng, hay rồi lại lãng
đãng, nhạt nhòe, biết mà nói lên
thì bất... khả thuyết.
Thấy-nghe-hay-biết chỉ là chập chờn
cánh con bướm trắng trên luống cải
xanh. Hay chỉ là một niệm khởi lên
chập chờn sương khói, Nguyễn Du đã
lọt vào một khoảng mù khơi tịch
mịch?
Kỳ trung áo chỉ đa bất minh
Bài Phân Kinh Thạch Đài giữa lòng
đá vắng lặng không là một thú nhận
nỗi bất lực của riêng Nguyễn Du
trước những trang Kim Cương. Bài ký
Phân Kinh là một thú nhận nỗi bất
lực của ngôn từ và văn tự con người
khi muốn nắm bắt cái chập chờn chỉ”
của cõi vô ngôn đó, bất khả tư
nghì. Tôi gắng nhớ lại bài thơ, lõm
bõm. Dừng lại ở hai câu:
Ngã độc Kim Cương thiên biến linh
Kỳ trung áo chỉ đa bất minh
Khá lâu. Bâng khuâng nghĩ đến niềm
khắc khoải của người xưa tầm đạo.
Làm sao hàng phục vọng tâm? Làm sao
an trụ chân tâm?
Kim Cương đọc đến ngàn lần
Mà trong mờ ảo như gần như xa
Như gần như xa nhưng vẫn ở đó, câu
trả lời vẫn ở đó, nơi vườn Kỳ Thọ.
Và bây giờ, vượt khỏi ngôn từ và
văn tự, giữa Kim Lăng, vọng ra từ
kẽ đá phân kinh, mờ mờ ảo ảo, như
gần như xa, có mà không, không
nhưng có, như mộng như ảo, như bọt
nổi trên mặt nước, như chớp biển
ngoài khơi, như bóng hình lãng đãng
trong gương, như giọt sương đêm
đọng lại, như giọt sương mai tan đi
trên đầu ngọn cỏ, câu trả lời vẫn ở
đó, câu trả lời đến thẳng với
Nguyễn Du, trong hoang vu Phân Kinh
Thạch Đài.
Này Tu Bồ Đề. Hãy nghe lời đá, lời
đá nói rằng:
Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn, bào, ảnh,
Như lộ, diệc như điển
Ưng tác như thị quán.
Tất cả, cái gì gọi lên cũng chỉ là
tạm gọi. Ngay cả hai chữ Kim Cương.
Như lai nói Kim Cương tức không
phải Kim Cương, thế mới gọi là Kim
Cương.” (1) (Đọc Kinh, Vũ Khắc
Khoan, viết năm 1984, Bà Vũ Khắc
Khoan tại Hoa Kỳ và An Tiêm xuất
bản, 1988, trang 22 - 26). Khi Vũ
Khắc Khoan viết quyển “Đọc Kinh”
thì Ông chỉ trích dẫn có hai câu
gần cuối bài thơ “Lương Chiêu Minh
Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài” của
Nguyễn Du.
4. Bốn câu kệ dẫn ở trên là bốn câu
kệ lấy từ phận thứ 32 của Kinh Kim
Cương “Ứng Hóa Phi Chân” (Ứng cơ
hiện thân hóa độ không phải là
thật) mà Cụ Thiều Chửu đã chuyển
sang tiếng Việt như sau: (3) (sách
đã dẫn, trang 103-104)
Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn, bào, ảnh,
Như lộ, diệc như điển
Ưng tác như thị quán
(Hết thảy pháp hữu vi
Như mộng huyễn, bọt, bóng
Như móc, cũng như chớp
Nên coi như thế này)
Cụ Uyên Như Thiền trong bài “Vài
lời giới thiệu Kinh Kim Cương” đã
giới thiệu bốn câu cuối của bài thơ
Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh
Thạch Đài của Nguyễn Du và đã viết:
“Ai cũng biết tác giả truyện Kim
Vân Kiều là Cụ Nguyễn Du, nhưng nào
có ai ngờ chính Cụ là nhà Phật học
thâm thúy về Đại Thừa cho nên Cụ đã
có làm bài thơ như sau:
Ngã độc Kim Cương thiên biến linh
Kỳ trung áo chỉ đa bất minh
Cập đáo Phân Kinh Thạch Đài thị
Chung tri: vô tự thị chân kinh.
Đại ý nói rằng: Cụ đã tụng Kinh Kim
Cương hơn cả nghìn lần mà chưa giác
ngộ, sau đến Phẩm Thạch Đài, Cụ mới
giác ngộ mà hiểu rằng Kinh thiệt là
cuốn Kinh không có một chữ nào.
Thảo nào thế nên Cụ đã lồng tư
tưởng Phật Giáo vào truyện Kiều mà
ít ai lưu ý.” (3) (Vài lời giới
thiệu Kinh Kim Cương, sách đã dẫn,
trang 13). Cụ Uyên Như Thiền đã
hiểu Nguyễn Du sâu sắc nhưng Cụ chỉ
lầm một điểm duy nhất khi viết về
“Phẩm Thạch Đài” như trên vì trong
Kinh Kim Cương (tất cả có 32 phận)
không có phận nào tên là Phẩm Thạch
Đài.
Theo Cụ Thiều Chửu, dịch giả của
quyển Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La
Mật (Vajracchedik Prajna Paramita)
thì: ”Kinh này nguyên không có chia
ra chương mục gì cả, sau Ngài Chiêu
Minh Thái Tử nhà Lương chia làm 32
phận. Song, tuy chia làm 32 phận,
mà nghĩa văn thì vẫn một mạch liên
quán nhau, không thể cắt đứt từng
đoạn được. Chia ra từng phận cho
người mới học dễ nhớ mà thôi, còn
người học tinh thì phải nghiên cứu
cho tinh mà dung hóa cả làm một mới
có thể hiểu được.” (3) (sách đã
dẫn, trang 27).
5. Cụ Hương Giang Thái Văn Kiểm
trong bài khảo luận công phu “Lời
Bạt: Đầu năm Quý Dậu 1813 Nguyễn Du
đi sứ Trung Quốc” đã viết (bài này
in trong “Trích giảng Truyện Kiều
của Nguyễn Du,” Giáo Sư Hồ Đình
Chữ, Việt Luận xuất bản, Sydney,
1996, trang 305-329) (2):
Từ trước tới nay, các nhà biên khảo
văn học thường bàn luận nhiều về
Nguyễn Du và Truyện Kiều, mà ít khi
nói tới một trạng thái khác trong
đời Cụ là việc đi Sứ sang Trung
Quốc.” (2)
Về việc Nguyễn Du đi sứ, Gia phả
chép: “Tháng Hai năm Quý Dậu
(1813), ông được thăng hàm Cần
Chính Điện Học Sĩ, rồi có chỉ sai
làm Chính Sứ tuế cống, cùng với các
ông Phó Sứ là Đàm Ân Hầu, Thiêm Sự
bộ Lại, và Phong Đăng Hầu, Thiêm Sự
bộ Lễ, đi sứ Trung Quốc. Tháng tư
năm Giáp Tuất (1814) ông trở về
Kinh.” (2) (sách đã dẫn, trang
315).
Nguyễn Du về Kinh để phúc trình sứ
mạng lên nhà vua, đồng thời mang về
nhiều quý thư dị vật. Theo Đại Nam
Chính Biên Liệt Truyện, ngoài bản
phúc trình thường lệ, Nguyễn Du còn
sáng tác Bắc Hành Thi Tập và Thúy
Kiều Truyện. (Vưu trường ư thi,
thiên quốc âm, Thanh sứ hoàn dĩ Bắc
Hành Thi Tập cập Thúy Kiều Truyện
hành thế). (2)
“Nguyễn Du đã tìm cách viếng thăm
hầu hết những danh lam thắng cảnh,
di tích văn chương và lịch sử, đền
đài, lăng tẩm, miếu điện liên hệ
những danh nhân, anh hùng, liệt nữ,
nữ lưu mà Cụ đặc biệt có nhiều cảm
tình nhất, như hai Bà Nữ Anh và Nga
Hoàng mà vua Nghiêu đã gả cho vua
Thuấn.” (2)
“Trên đường châu du Trung Quốc,
Nguyễn Du đã viếng thăm miếu điện,
đền đài, lăng mộ của hầu hết những
danh nhân kỳ nữ nước bạn, mỗi nơi
đều có cảm tác một vài bài thơ diễn
tả tâm tình, cảm giác, và phê phán
công minh, khen chê đúng mức.
Nguyễn Du đã nhắc tới Mã Viện,
Hoàng Sào, hai bà vợ vua Thuấn,
Dương Quý Phi, Triệu Vũ Đế, Thái
Văn Cơ, Trương Thị, Vi Ưng Vật, Tam
Tạng Trần Huyền Trang, Liễu Tôn
Nguyên, Khuất Nguyên, Giả Nghị, Đỗ
Phủ mà Tiên Điền đặc biệt hâm mộ và
tôn trọng như bậc thầy.” (2)
Cụ Hương Giang Thái Văn Kiểm trong
bài khảo luận cũng đã trích dẫn
nhiều bài thơ trong tác phẩm Bắc
Hành Thi Tập mà Nguyễn Du đã sáng
tác suốt trong thời gian đi sứ sang
Trung Quốc, nhưng tiếc thay Cụ Thái
Văn Kiểm đã không trích dẫn bài thơ
quan trọng của Nguyễn Du khi Người
đến viếng cảnh hoang tàn đổ nát của
một di tích lịch sử Trung Quốc:
Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh
Thạch Đài.
Nhưng Lương Chiêu Minh Thái Tử là
ai? Lương Chiêu Minh Thái Tử chính
là Thái Tử của vua Lương Võ Đế
(Liang Wu Ti) ở Trung Hoa. Vua
Lương Võ Đế đã có công xây dựng
nhiều ngôi chùa Phật giáo, in nhiều
kinh Phật và độ các Tăng, và cũng
là vị vua Trung Hoa thỉnh mời Tổ Bồ
Đề Đạt Ma (sau này là Sơ Tổ Thiền
Tông Trung Hoa) về Kim Lăng để thưa
hỏi Tổ về Phật pháp.
Ngoài việc Lương Chiêu Minh Thái Tử
chia Kinh Kim Cương ra làm 32 phận
(hay là đoạn vì kinh này trước kia
không có chia ra làm chương mục),
Lương Chiêu Minh Thái Tử còn cho
xây dựng Phân Kinh Thạch Đài (đầu
thế kỷ thứ 6 tây lịch) để làm một
thư viện quốc gia về Phật học, nơi
tàng trữ, thu tập tất cả kinh,
luật, luận Phật giáo đương thời và
là trung tâm nghiên cứu Phật học.
Cứ theo sách ghi chép thì Bồ Đề Đạt
Ma (Bodhidharma) rời nước Quốc
Hương, nam Thiên Trúc (Dekhan) để
đi đến Việt Nam đầu tiên và có lẽ
Ngài ở đây một thời gian khá lâu,
vì Việt Nam khi đó được coi là
trung tâm giao tiếp Ấn Hoa, nơi
người ta có thể tìm được những
người biết cả tiếng Trung Hoa lẫn
tiếng Thiên Trúc. Sự kiện chỉ ghi
rằng: Bồ Đề Đạt Ma trước đến Việt
Nam sau vượt sông qua Ngụy (nguyên
văn: “Sơ liên tống cảnh Nam Việt,
mạt hựu tỷ độ chí Ngụy, ” sách Tục
Cao Tăng Truyện, chương 19, Đại
Tạng Kinh, quyển 50). (6) (trích
dẫn từ quyển “Bồ Đề Đạt Ma, Tuyệt
Quán Luận, ” Vũ Thế Ngọc dịch,
EastWest Institute xuất bản, Hoa
Kỳ, 1983).
Theo sách Cảnh Đức Truyền Đăng Lục
thì khi Bồ Đề Đạt Ma đến Quảng
Châu, Trung Hoa, vào khoảng thập
niên 470, thì thứ sử tỉnh này lấy
lễ nghinh tiếp và dâng biểu về
triều báo tin lên vua Lương Võ Đế.
Vua sai sứ thỉnh mời Tổ Bồ Đề Đạt
Ma về Kim Lăng để thưa hỏi Tổ về
Phật pháp. Truyền Đăng Lục ghi lại
cuộc đối đáp này như sau:
- Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, xây
chùa, in kinh, độ tăng rất nhiều.
Vậy có công đức gì chăng?
- Tổ Đạt Ma đáp: - Đều không có
công đức.
- Tại sao không có công đức?
- Bởi vì đó chỉ là những tiểu quả
của cõi người cõi trời mà thôi, là
cái nhân hữu lậu như bóng theo
hình, tuy có mà chẳng thật.
- Vậy thế nào mới là thiệt công
đức?
- Trí hoàn toàn trong sạch. Thể
phải tự nhiên trống vắng, như thế
mới là Công Đức. Công Đức là nơi
bổn tánh chứ chẳng phải do nơi công
nghiệp thế gian (xây chùa, chép
kinh...) mà cầu đổi cho được.
- Vua lại hỏi: - Chân lý tối cao
của bậc thánh là gì?
- Khi tỉnh rõ thông suốt rồi thì
không có gì gọi là thánh cả.
- Đối diện với trẫm là ai?
- Không biết.
Vua Lương Võ Đế không lãnh hội
được, lui về nghỉ. Tổ Đạt Ma biết
căn cơ không hợp, Ngài lưu lại vài
hôm rồi qua Giang Bắc, Ngài lên núi
Tung Sơn, ở chùa Thiếu Lâm trọn
ngày ngồi Thiền đối vách im lặng
trong chín năm.” (6) (sách đã dẫn,
trang 68-70).
Tổ Bồ Đề Đạt Ma là Sơ Tổ Thiền Tông
Trung Hoa, đã ấn chứng và truyền y
bát cho Huệ Khả là vị Tổ Thiền Tông
thứ hai, rồi truyền xuống Ngài Tăng
Xán vị Tổ thứ ba, Ngài Đạo Tín Tổ
thứ tư, Ngài Hoằng Nhẫn Tổ thứ năm
và sau cùng truyền đến Huệ Năng là
Tổ thứ sáu.
6. Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục, trong
quyển “Thế Giới Thi Ca Nguyễn Du”
(4) đã cho người đọc khám phá ra
Nguyễn Du là một nhà học Phật, tinh
thông Phật pháp qua bài thơ chữ Hán
mà Nguyễn Du đã viết khi đến thăm
“Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh
Thạch Đài” trong thời gian đi sứ
sang Trung Quốc:
LƯƠNG CHIÊU MINH THÁI TỬ PHÂN KINH
THẠCH ĐÀI
Ngô văn Thế Tôn tại Linh Sơn,
Thuyết pháp độ nhân hằng hà sa số.
Nhân liễu thử tâm, nhân tự độ,
Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu.
Minh kính diệc phi đài,
Bồ đề bản vô thụ.
Ngã độc Kim Cương thiên biến linh,
Kỳ trung áo chỉ đa bất minh;
Cập đáo Phân Kinh Thạch Đài hạ,
Chung tri: vô tự thị chân kinh.
Bài dịch của Giáo Sư Nguyễn Đăng
Thục:
Ta nghe nói Thế Tôn ở Linh Sơn,
Thuyết pháp độ người như cát sông
Hằng.
Người ta giải được tâm này ấy là
mình tự độ,
Linh Sơn chỉ ở tại lòng mình.
Tấm gương trong không phải thật có
đài gương,
Cây Bồ Đề cũng không phải cây thật.
Ta đọc kinh Kim Cương có hơn ngàn
lần,
Ý nghĩa uyên thâm trong ấy phần
nhiều không hiểu;
Tới nay đến dưới đài Phân Kinh này,
Mới biết rằng kinh không chữ mới
thật là chân kinh.
(4) (Nguyễn Đăng Thục, Thế Giới Thi
Ca Nguyễn Du, Xuân Thu, trang 174)
Nguyễn Du là một thiên tài về thi
ca với khả năng uyên bác về văn học
thế mà khi đọc Kinh Kim Cương cả
ngàn lần Nguyễn Du vẫn chưa hiểu
trọn vẹn nghĩa của kinh như Nguyễn
Du đã viết. Xin được chuyển hai câu
cuối của bài thơ sang tiếng Việt
như sau:
Cập đáo Phân Kinh Thạch Đài hạ
Chung tri: vô tự thị chân kinh.
(Thạch Đài tìm đến hiểu ra
Chân kinh thật nghĩa chẳng qua
không lời.)
Vì Nguyễn Du học Phật và nghiên cứu
kinh điển Phật Giáo đã nhiều năm
một cách hết sức tinh tấn nhất là
kinh điển Đại Thừa trong đó có Kinh
Kim Cương mà Nguyễn Du đã đọc hàng
ngàn lần, do đó vào năm 1813, khi
Nguyễn Du đến thăm Phân Kinh Thạch
Đài (xây vào khoảng thế kỷ thứ 6)
và sau hơn 12 thế kỷ đã trôi qua,
kinh điển nào thấy đâu? bao người
tụng trì, nghiên cứu đã đi về đâu?
Bây giờ ở nơi đó chỉ còn di tích
hoang tàn đổ nát của Đài khiến cho
Tâm Chân Như của Nguyễn Du bừng
sáng để Nguyễn Du chứng ngộ Tánh
Không (Sunnyatta) của Kinh Kim
Cương và đã thốt lên rằng Kinh Kim
Cương chẳng qua không có chữ (vô
tự): “Chung tri: vô tự thị chân
kinh” (Chân kinh thật nghĩa chẳng
qua không lời).
Nguyễn Du đã đọc kinh điển Phật để
rồi quán sát thông suốt và nhận ra
rằng lời kinh Phật nói ra đều là
những pháp môn phương tiện dắt dẫn
chúng sinh vào Đạo; như nước dùng
để rửa bụi, như thuốc dùng để chữa
bệnh. Nay chứng được “thân không,”
“tâm không,” “tánh không” thì tất
cả các pháp đều không, kể cả Phật
pháp trong đó có Kinh Kim Cương.
Bệnh khỏi thì thuốc cũng trừ, gọi
là chứng ngộ “Pháp không.” Đức Phật
đã dạy: “Như Lai thường nói: Này Tỳ
Kheo các ông nên biết ta nói pháp
ví dụ như chiếc bè; pháp còn nên
bỏ, huống là phi pháp” (“Như Lai
thường thuyết: Nhữ đẳng Tỳ Kheo tri
ngã thuyết pháp như phiệt dụ giả,
pháp thượng ưng xả, hà huống phi
pháp.”) (10) (“Kinh Kim Cang Giảng
Giải, ” Thích Thanh Từ, đoạn thứ 6,
trang 26-27, Phước Huệ Đạo Tràng,
tái bản và ấn tống, Úc Đại Lợi,
Phật Lịch 2531, 1987).
Ngã độc Kim Cương thiên biến linh
Kỳ trung áo chỉ đa bất minh
Cập đáo Phân Kinh Thạch Đài hạ
Chung tri: vô tự thị chân kinh.
(Kim Cương đọc đến ngàn lần
Mà trong mờ ảo như gần như xa
Thạch Đài tìm đến hiểu ra
Chân kinh thật nghĩa chẳng qua
không lời
7. Hai câu 5 và 6 trong bài thơ
trên: "Bồ đề bản vô thụ (thọ), minh
kính diệc phi đài" là hai câu kệ mà
Nguyễn Du trích từ bài kệ của Lục
Tổ Huệ Năng (Hui neng, 638 - 713,
tây lịch) khi Lục Tổ còn học ở nơi
Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn (xin tạm chuyển
sang tiếng Việt):
Bồ đề bản vô thọ
Minh kính diệc phi đài
Bản lai vô nhất vật
Hà xứ nhá trần ai?
(Bồ đề chẳng có thân
Gương sáng cũng không đài
Xưa nay không một vật
Nào chỗ vướng trần ai?)
Bài kệ nói trên do Lục Tổ Huệ Năng
viết sau khi đọc bài kệ của Thượng
Tọa Thần Tú là thầy Giáo Thọ và
cũng là đệ tử của Ngũ Tổ Hoằng
Nhẫn. Thượng Tọa Thần Tú viết bài
kệ như sau (xin tạm chuyển sang
tiếng Việt):
Thân thị bồ đề thọ
Tâm như minh cảnh đài
Thời thời cần phất thức
Vật sử nhá trần ai.
(Thân như cây bồ đề
Tâm như đài gương sáng
Giờ giờ cần phủi sạch
Chớ để vướng trần ai)
(5) (Pháp Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ Huệ
Năng, Thích Minh Trực dịch (Sài Gòn
1944), Phật Học Viện Quốc Tế xuất
bản, Phật Lịch 2531, Hoa Kỳ, 1987,
trang 25, 29)
Chúng ta cũng không quên là Lục Tổ
Huệ Năng đã chứng ngộ chân tánh khi
Lục Tổ được nghe kinh Kim Cương:
“Huệ Năng nầy liền hiểu ý Tổ Sư,
đến canh ba vào thất. Ngũ Tổ (Hoằng
Nhẫn Đại Sư) lấy áo Ca Sa đắp cho
ta; chẳng cho ai thấy, rồi nói kinh
Kim Cang cho ta nghe, đến câu Ưng
vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm. Nên
không trụ vào chỗ nào mà sanh tâm
mình.” (Để cái tâm trống không,
chẳng trụ vào đâu cả) (nguyên văn
chữ Hán “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ
tâm, ” câu này ở phận thứ 10 “Trang
Nghiêm Tịnh Độ, ” trang nghiêm cõi
thanh tịnh, trong Kinh Kim Cương).
“Huệ Năng nầy nghe nói rồi liền rất
tỏ sáng, biết rằng cả thảy muôn
pháp chẳng lìa tánh mình, mới bạch
với Tổ Sư rằng:
Nào dè tánh mình vốn tự nhiên trong
sạch
Nào dè tánh mình chứa đầy đủ (muôn
pháp)
Nào dè tánh mình vốn không lay động
Nào dè tánh mình có thể sanh ra
muôn pháp.
Nếu chẳng biết Bổn Tâm, thì học
pháp vô ích. Bằng biết Bổn Tâm và
thấy Bổn Tánh mình, tức gọi là
Trượng phu, là Phật, Thầy cõi trời
và cõi người vậy.” (5) (sách đã
dẫn, trang 32-33)
8. Thi hào Nguyễn Du đã đưa Triết
Lý Phật Giáo vào Đoạn Trường Tân
Thanh.
8.1 Trong Đoạn Trường Tân Thanh,
Nguyễn Du đưa triết học và tư tưởng
Phật giáo vào trong thi ca như
nghiệp, thiện căn, tâm,... thí dụ
như trong đoạn thơ sau:
Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần hay xa
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
(câu thứ 3252, ĐTTT )
Chữ tâm ở câu thứ 3252 trong ĐTTT:
“Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”
cũng là chữ “tâm” mà Nguyễn Du viết
ở trong bài thơ Đề Tam Thanh Động
đã dẫn ở trên: "Thử tâm thường định
bất ly Thiền" (Lòng này thường định
không rời cảnh Thiền),
Hay chữ tâm trong bài Lương Chiêu
Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài:
Nhân liễu thử tâm, nhân tự độ,
Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu.
Người ta giải được tâm này ấy là
mình tự độ,
Linh Sơn chỉ ở tại lòng mình.
Hay chữ tâm như như trong bài thơ
Tạp Thi II đã dẫn ở trên: "Tứ thời
tâm kính tự như như" (Tâm trạng
quanh năm vẫn nhẹ nhàng).
Tâm mà Nguyễn Du nói đến là Tâm
chân như vì “tâm chơn như là thể,
tâm sinh diệt là tướng dụng, tâm
này không hư vọng nên gọi là
“chơn,” không biến đổi nên gọi là
“như.” Thế nên trong Luận (Đại Thừa
Khởi Tín Luận) mỗi mỗi nói: “Tâm
chơn như, tâm sanh diệt.” (7)
(Nguồn Thiền, nguyên tác “Thiền
Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự”, Thiền
Sư Tông Mật, Hoà thượng Thích Thanh
Từ dịch, Phật Lịch 2512, 1969 tây
lịch, Chùa Khánh Anh, Pháp Quốc).
Đại Thừa Khởi Tín Luận
(Sraddhotpàda) của Bồ Tát Mã Minh
viết vào thế kỷ thứ 1, tây lịch.
8.2 Tác giả Mai Hiền Lương trong
tác phẩm “Tiếng Lòng của Nguyễn Du”
dầy gần 300 trang gồm 21 bài luận,
đã dẫn nhiều đoạn thơ trong Đoạn
Trường Tân Thanh để giải thích và
chứng minh là về mặt tư tưởng
Nguyễn Du đã đưa triết lý của đạo
Phật vào ĐTTT. (8) (Tiếng Lòng của
Nguyễn Du, Mai Hiền Lương, Nhân
Duyên ấn hành 1997, Gia Nã Đại).
Một thí dụ dẫn chứng của tác giả
Mai Hiền Lương: mở đầu Đoạn Trường
Tân Thanh (ĐTTT), Nguyễn Du đã đề
cập đến cái KHỔ của kiếp người vì
làm người là mặc nhiên chấp nhận
KHỔ, và đây cũng là chân lý đầu
tiên của Tứ Diệu Đế trong giáo lý
nhà Phật: khổ, tập, diệt, đạo.
Triết học Phật giáo được trình bày
rõ ràng trong hai chữ cõi người vì
Đức Phật dạy rằng chúng sinh nếu
không tu hành theo đạo giải thoát
sẽ tái sinh trong chu kỳ luân hồi
của sáu cõi (lục đạo): trời, người,
atula, súc sinh, ngạ quỷ và địa
ngục, và trong sáu cõi này chỉ có
cõi người mới có những thuận duyên
để tu hành con đường giải thoát
theo Phật.
Trăm năm trong cõi người ta (câu
thứ 1, ĐTTT)
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
(2)
Trải qua một cuộc bể dâu (3)
Những điều trông thấy mà đau đớn
lòng (4)
Hai chữ tài và mệnh đã được Nguyễn
Du gán cho sự tương khắc “ghét
nhau” đã khiến nhiều người kết luận
đơn giản và đã từng giảng dạy là
Nguyễn Du chủ trương thuyết “tài
mệnh tương đố.” (8) (sách đã dẫn,
trang 37-38).
9. Lược Khảo Về Kinh Kim Cương Bát
Nhã Ba La Mật
(Vajracchedikà-Prajnà-Pàramità
Sùtra)
9.1 Thiền Sư Thích Thanh Từ trong
“Kinh Kim Cang Giảng Giải” đã giảng
như sau:
“Kinh này do Đức Phật nói, nguyên
văn bằng chữ Phạn (Sanskrit), sau
truyền sang Trung Hoa được dịch ra
chữ Hán. Những nhà phiên dịch
Phạn-Hán gồm có:
Ngài Cưu Ma La Thập (Kumàrajiva): ở
chùa tại Trường An (chùa Thảo
Đường). Vào niên hiệu Hoằng Thủy
năm thứ tư, tức là năm 401 tây
lịch, thuộc đời Dao Tần. Ngài dịch
tên kinh là Kim Cang Bát Nhã Ba La
Mật. Đây là bản có giá trị nhất,
được gọi là định bản, vì sau khi
dịch đến giờ đều được mọi người
dùng để trì tụng. Bản này nằm trong
bộ Tam Bảo tụng hằng ngày.
Ngài Bồ Đề Lưu Chi (Bodhiruchi):
đời Ngụy dịch tên kinh cũng đồng
với bản trên tức là Kim Cang Bát
Nhã Ba La Mật, vào khoảng 508 dương
lịch.
Ngài Ba la Mật Đa (Paramârtha)
(Trung Hoa dịch Chân Đế): dịch vào
đời Trần, khoảng giữa thế kỷ thứ
sáu đề tên là Kim Cang Bát Nhã Ba
La Mật.
Ngài Đạt Ma Cấp Đa (Dharmagupta):
đời Tùy, khoảng đầu thế kỷ thứ bảy,
dịch tên cũng đồng là Kim Cang Bát
Nhã Ba La Mật.
Ngài Huyền Trang (Hiouen-Thsang):
đời Đường, khoảng giữa thế kỷ thứ
bảy, dịch chung trong bộ Đại Bát
Nhã, 600 quyển, gồm 16 hội, “Kim
Cang” là hội thứ 9, quyển 577 trong
bộ Đại Bát Nhã.
Ngài Nghĩa Tịnh: đời Đường, đầu thế
kỷ thứ tám, dịch tên là “Phật
thuyết năng đoạn Bát Nhã Ba La Mật
kinh.” Ngài có đi Ấn Độ mang chữ
Phạn về.
Sáu nhà dịch đồng một bàn kinh,
nhưng về sau được chú ý nhất là các
bản của Ngài Cưu Ma La Thập, Ngài
Huyền Trang và Ngài Nghĩa Tịnh.
Kinh Kim Cang rất được các Thiền Sư
và Giảng Sư Trung Hoa chú ý sớ
giải. Có cả thảy độ 10 nhà:
1. Ngài Trí Khải đời Tùy đề tên là
“Kim Cang Bát Nhã kinh sớ” gồm một
quyển.
2. Ngài Kiết Tạng đời Tùy đề tên là
“Kim Cang Bát Nhã sớ” gồm 4 quyển.
3. Ngài Khuy Cơ đời Đường đề tên là
“Kim Cang Bát Nhã Tân Thuật” gồm 2
quyển.
4. Ngài Tông Mật tức Ngài Khuê
Phong cũng ở đời Đường, đề tên là
“Kim Cang Bát Nhã cương sớ luận
toát yếu” gồm 2 quyển.
5. Ngài Trí Nghiêm cũng thuộc đời
Đường, đề tên là “Kim Cang Bát Nhã
Ba La Mật kinh lược sớ “ gồm 2
quyển.
6. Ngài Tư Cừ đời Tống đề tên là
“Kim Cang toát yếu đại san định ký”
gồm 7 quyển.
7. Ngài Tông Lặc và Như Khôi đời
Minh, đề tên là “Kim Cang Bát Nhã
Ba La Mật chú giải” gồm 1 quyển.
8. “Kim Cang Chư Gia” trích lời
giảng của các Thiền Sư.
9. Gần đây có Ngài Thái Hư, đề tên
là “Kim Cang Giảng Lục.”
10. Gần đây nhất là cư sĩ Giang Vị
Nông.
Về phần dịch Hán-Việt gồm có:
Hòa Thượng Trí Tịnh dịch trong bộ
Tam Bảo tụng hằng ngày.
Hòa Thượng Thiện Hoa, dịch trong bộ
Phật Học Phổ Thông (tức 12 nấc
thang giáo lý).
Thượng Tọa Huệ Hưng dịch quyển “Kim
Cang Giảng Lục” của Ngài Thái Hư.
Cư sĩ Đồ Nam dịch bản của ông Giang
Vị Nông.
Quyển “Kim Cang Chư Gia” cũng được
dịch.
9.2 Sự Liên Hệ Giữa Kinh Kim Cang
và Thiền Tông
Dĩ nhiên ai cũng biết đức Lục Tổ
khi gánh củi vào khách điếm bán,
thấy có người đang tụng kinh Kim
Cang, đức Lục Tổ nghe, tâm liền
khai ngộ mới hỏi thăm và được biết
là Ngũ Tổ Huỳnh Mai dạy đồ đệ trì
tụng Kim Cang, do đó Ngài tìm đến
học đạo. Trong Thiền tông, lúc Ngài
Bồ Đề Đạt Ma truyền tâm ấn cho Ngài
Huệ Khả, Ngài trao 4 quyển kinh
Lăng Già (Lankàvatàra) để lấy đó
làm tâm ấn. Đến đời Ngũ Tổ, thấy
Kim Cang là quyển kinh tối yếu
trong nhà Thiền, Ngài dạy: chẳng
những Tăng Ni mà cả cư sĩ đều nên
trì tụng kinh Kim Cang để an tâm.
Thế nên khi Lục Tổ đến học, vào
trước giờ truyền y bát, Ngài đem
kinh Kim Cang ra giảng. Khi giảng
đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ
tâm,” Lục Tổ hoàn toàn liễu ngộ.
Như vậy Lục Tổ ngộ đạo và được
truyền y bát làm Tổ cũng nhơn nơi
Kim Cang. Do đó chúng ta thấy rõ
tầm quan trọng của kinh Kim Cang
đối với Thiền Tông.
Sau này trong các chùa và các Thiền
viện, bộ kinh này được xem như bộ
kinh nhật tụng, và kinh Kim Cang
được xem như tâm ấn trong nhà
Thiền. Ngài Khuê Phong cũng bảo Kim
Cang là bộ kinh quí đáng để an tâm.
Học kinh Kim Cang là học thẳng vào
phương pháp tu Thiền.” (10) (sách
đã dẫn, trang 1-3). Trong Kinh Kim
Cang Giảng Giải, Thiền sư Thích
Thanh Từ đã giảng một cách hết sức
đơn giản và đưa ra nhiều thí dụ để
người đọc hiểu và nắm vững được ý
chỉ của kinh. Đến cuối sách Ngài
cũng tóm tắt như sau:
TOÁT YẾU KINH KIM CANG
1. Lấy Trí Tuệ Bát Nhã quán xét tất
cả pháp hữu vi đều không có tự
tánh, vô thường sinh diệt.
2. Nhờ quán xét vững chắc nên hàng
phục tâm dễ dàng, đưa các vọng
tưởng vào Vô Dư Niết Bàn.
3. Vì buông xả các pháp và vọng
tưởng nên tâm được an trụ.
4. Tâm an trụ không dính mắc sáu
trần nên Như Như bất động.
5. Muốn trụ tâm phải buông xả đừng
dính sáu trần (bố thí không chấp
tướng).
6. Muốn hàng phục tâm phải đưa vọng
niệm vào chỗ Vô Sanh.
(2) (sách đã dẫn, trang 162).
9.3 Giáo Sư F. Max Muller đã dịch
kinh Kim Cương (với phần giới thiệu
viết tại đại học Oxford ngày 26
tháng Giêng 1894) trực tiếp từ chữ
Phạn (Sanskrit) sang Anh ngữ với
tên “The Vajracchedika or Diamond
Cutter” trong quyển “Buddhist
Mahàyàna Texts, ”trang 109-144,
(quyển thứ 49 trong bộ sách “Sacred
Books of the East Series” gồm 50
quyển), do Oxford University Press
in năm 1894, và nhà xuất bản
Motilal Banarsidass ở Ấn Độ tái bản
vào những năm 1965, 1968, 1972,
1978. Bản dịch của Giáo Sư F. Max
Muller không có phần giảng giải nên
đọc khó hiểu.
Ông Lu K”uan Yu (Charles Luk) đã
dịch sang Anh ngữ bản Kinh Kim
Cương và phần giảng giải viết bằng
chữ Hán của Thiền Sư Te Ch”ing
(hiệu là Han Shan, Hám Sơn) viết
vào năm 1616 tại Chùa Lục Tổ Huệ
Năng ở Tào Khê, đời nhà Minh, Trung
Hoa.
Thiền Sư Hám Sơn đã viết phần giảng
giải kinh Kim Cương sau khi Ngài đã
chứng ngộ và theo Ngài kinh chỉ nên
chia ra làm hai phần: phần một để
phá bỏ những kiến chấp còn thô sơ
của những ai học Phật, phần hai để
xóa bỏ những kiến chấp vi tế hơn mà
những người học Phật vẫn còn giữ
lấy nhưng không nhận biết.
Bản dịch Anh ngữ của Ông Lu K”uan
Yu (1959) là “The Diamond Cutter of
Doubts,” a Commentary on the
Diamond Sùtra,
Vajracchedikà-Prajnà-Pàramità
Sùtra, by Ch’an Master Han Shan
(from the Chin Kang Chueh I) được
đăng trong bộ sách “Ch’an and Zen
Teaching” First Series (và Second
Series, Third Series) do nhà xuất
bản Century Hutchinson Australia
Pty Ltd., 1987, trang 147-206.
Nhận thấy những lời giảng giải của
Thiền Sư Te Ch’ing (hiệu là Han
Shan, “Silly Mountain,” Hám Sơn,
1546-1623) hết sức lợi ích cho
những ai muốn hiểu rõ thêm về kinh
Kim Cương nên trong tương lai chúng
tôi nguyện sẽ cố gắng chuyển bản
Anh ngữ này sang Việt ngữ để trình
bày cùng đồng hương Việt Nam có
thêm tài liệu để tham khảo.
Duyên lành bài viết vừa xong,
Quà Xuân Kỷ Mão, tỏ lòng tri âm.
Phan Quang Việt
[Khởi đầu viết đêm 30 tháng 12,
1998, viết xong bản thảo ngày 2
tháng 2, 1999, những ngày cuối năm
trước Tết Nguyên Đán Kỷ Mão 1999,
Sydney, Úc Đại Lợi, Nam Bán Cầu].
* TÀI LIỆU HỌC HỎI VÀ THAM KHẢO
Lục Tổ Huệ Năng, Pháp Bảo Đàn Kinh,
Thích Minh Trực dịch, Phật Học Viện
Quốc Tế xuất bản, Phật Lịch 2531,
Hoa Kỳ, 1987.
1. Vũ Khắc Khoan, Đọc Kinh, Bà Vũ
Khắc Khoan tại Hoa Kỳ và An Tiêm
xuất bản, 1988.
2. Giáo Sư Hồ Đình Chữ, Trích giảng
Truyện Kiều của Nguyễn Du, Việt
Luận xuất bản, Sydney, 1996. Sách
có in bài khảo cứu, trang 305, “Lời
Bạt: Đầu năm Quý Dậu 1813 Nguyễn Du
đi sứ Trung Quốc” của Hương Giang
Thái Văn Kiểm, Paris Chiêu Anh Các,
Xuân Ất Hợi 1995.
3. Thiều Chửu dịch, Kinh Kim Cương
Bát Nhã Ba La Mật, Trung Tâm Văn
Hóa Phật Giáo Việt Nam tại Cộng Hòa
Liên Bang Đức, xuất bản năm 1984.
4. Nguyễn Đăng Thục, Thế Giới Thi
Ca Nguyễn Du, Xuân Thu xuất bản,
Hoa Kỳ.
5. Vũ Thế Ngọc dịch, Bồ Đề Đạt Ma
Tuyệt Quán Luận, EastWest
Institute, Hoa Kỳ, 1983.
6. Thiền Sư Thích Thanh Từ dịch,
Nguồn Thiền, nguyên tác “Thiền
Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự “,
Thiền Sư Tông Mật, Phật Lịch 2512
(1969), Chùa Khánh Anh, Pháp Quốc.
7. Mai Hiền Lương, Tiếng Lòng của
Nguyễn Du, Nhân Duyên ấn hành 1997,
Gia Nã Đại.
8. Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược
(quyển 2), Bộ Giáo Dục xuất bản,
Sài Gòn 1971, trang 140-141.
9. Thiền Sư Thích Thanh Từ, Kinh
Kim Cang Giảng Giải, Phước Huệ Đạo
Tràng, tái bản và ấn tống, Úc Đại
Lợi, Phật Lịch 2531, 1987.
Phụ chú
Nhà cách mạng Sào Nam Phan Bội Châu
cũng đã từng đọc kinh Kim Cương:
Nhà cách mạng Sào Nam Phan Bội Châu
cũng đã từng đọc và nghiên cứu kinh
Kim Cương vì Cụ Phan Bội Châu khi
viết bộ sách Chu Dịch, Cụ đã viết
về quẻ Phong Địa Quán như sau:
“Quán, quán nhi bất tiến, hữu phu,
ngung nhược, hạ quan nhi hóa dã.
“Theo như Soán từ, thời chỉ dùng
một cách chí thành, nghiêm kính,
khiến cho kẻ dưới dòm “mình mà cảm
hóa vậy. “Phụ Chú - Ý nghĩa Soán từ
đây, tượng như câu: thần võ nhi bất
sát. Nghĩa là: dùng uy võ “bằng một
cách thần diệu, mà không cần phải
giết người. “Tòng lai, việc võ tất
có giết người, võ mà không giết
người mới là thần võ. Tế tất có
tiến, tế “không dùng đồ tiến, mới
là ý nghĩa thờ thần rất hay.
“Kinh Phật có câu: “Nhược dĩ sắc
kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị
nhân hành tà đạo, bất “đắc kiến Như
Lai.” Nghĩa là: Phật lý chỉ ở bản
tâm, vô thanh vô sắc, nếu ai lấy
thanh âm “mà “cầu ta ở thanh âm,
lấy hình sắc mà cầu ta ở hình sắc,
người ấy rặt là làm đạo tà, không
được “thấy Đức Phật Như Lai. “Câu
kinh ấy ý tứ cũng như lời Soán đây.
Lấy mâm cỗ mà cầu thần, có khác gì
lấy thanh sắc “mà cầu Phật.” (Sào
Nam Phan Bội Châu, Chu Dịch, quyển
thượng kinh, quẻ Phong Địa Quán,
trang 414, nhà sách Khai Trí, Sài
Gòn, 1969).
Bốn câu kệ mà Cụ Phan Bội Châu
trích dẫn ở trên lấy từ kinh Kim
Cương, đoạn 26,
“Pháp Thân phi tướng,” Pháp thân
chẳng phải là tướng. (10) (sách đã
dẫn, trang 134).
Nhược dĩ sắc kiến ngã
Dĩ âm thanh cầu ngã
Thị nhân hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai
(Nếu do sắc thấy ta
Do âm thanh cầu ta
Người ấy hành đạo tà
Không thể thấy Như Lai.)
|