|
Tổ dạy chúng:
Pháp môn Tọa thiền này vốn không chấp nơi tâm, cũng
không chấp nơi tịnh, cũng chẳng phải chẳng động. Nếu
nói chấp tâm, tâm vốn là vọng, biết tâm như huyễn nên
không có chỗ chấp vậy. Nếu nói chấp tịnh, tánh người
vốn là tịnh, bởi vì vọng niệm che đậy Chân như, chỉ
không có vọng tưởng thì tánh tự thanh tịnh. Khởi tâm
chấp tịnh trở lại sanh ra cái tịnh vọng. Vọng không có
chỗ nơi, chấp ấy là vọng; tịnh không hình tướng trở
lại lập tướng tịnh, nói là công phu, người khởi kiến
giải này là chướng tự Bản tánh trở lại bị tịnh trói.
Phẩm này cho chúng ta biết rõ chủ trương của Lục Tổ
dạy tọa thiền. Ngài nêu lên ba điểm trong pháp môn tọa
thiền của Ngài: điểm thứ nhất là “không chấp tâm”,
điểm thứ hai là “không chấp tịnh”, điểm thứ ba là
“cũng chẳng phải chẳng động”, tức là có động, nếu động
làm sao tọa thiền? Đoạn sau Tổ giảng rõ. Tại sao không
chấp tâm? Tâm mà chúng ta cho là tâm mình, Ngài nói
tâm đó nguyên là vọng. Dấy khởi phân biệt, nghĩ việc
này việc kia v.v... cho đó là tâm thì tâm đó làm sao
thật được. Thế nên nếu chấp tâm tức là chấp vọng, nếu
chấp vọng là mình, thì đúng hay sai? Nên nói tâm vốn
là vọng, chỉ cần biết nó như huyễn, nghĩa là biết nó
hư giả là được. Người tu phải thấy rõ lẽ thật, không
nên chấp, nghe nói tâm mình mà không biết tâm như thế
nào. Những vọng tâm dấy động, nay biết rõ nó là vọng,
tự nhiên nó hết, chấp làm gì.
Lại có nhiều người ngồi nhìn, khi được yên lặng, chấp
cái thanh tịnh là mình, đó là chấp tịnh. Ngài dạy rằng:
Tánh người vốn là tịnh, Bản tánh mình như tánh nghe
tánh thấy của chúng ta, tịnh hay động? Vì nó vô tướng,
vì nó hằng bất động nên nó thanh tịnh. Tỉ dụ như cái
nghe của mình, nếu tìm lại tướng của nó thì không có
nhưng hằng nghe; cái thấy của mình tìm tướng không có
nhưng hằng thấy, chính cái không tướng đó là thanh
tịnh. Như vậy tự nó đã thanh tịnh, tìm tịnh làm chi.
Tìm tịnh thành ra tìm thêm một cái thứ hai nữa, như
vậy tự nhiên chúng ta mất Tự tánh của mình mà không
hay. Cái nghe, cái thấy cho đến tâm niệm thanh tịnh
của mình, tất cả là một Thể thanh tịnh sẵn có của tất
cả chúng ta, do vọng niệm dấy lên che đậy Chân như.
Chân như chỉ tánh tịnh sẵn có của chúng ta. Vì vọng
niệm dấy lên nên cái tịnh bị khuất, nay chỉ không có
vọng tưởng thì tánh tự thanh tịnh, vì thế chỉ cần
không vọng tưởng là đủ, chớ đừng tìm cái thanh tịnh.
Nhiều người không hiểu cứ ngồi tìm cho tướng thanh
tịnh hiện ra, đến khi nào có? Nếu ngồi yên tịnh, vọng
tưởng dấy lên biết là vọng, không theo nó thì vọng
lặng xuống, Chân như hay Bản tánh thanh tịnh hiện tiền
không cần phải tìm, phải chấp, chấp tịnh là bệnh. Thế
nên nói nếu khởi tâm chấp tịnh trở lại sanh tịnh vọng.
Tịnh là không vọng, tự nó là tịnh, tịnh đó mới thật,
còn khởi niệm tìm tịnh thì tịnh đó là tịnh vọng. Vì
thế khi tu phải thận trọng, có người nghe nói tâm mình
thênh thang như hư không, lại tưởng tâm mình rộng như
hư không, họ tưởng như thế và nói như vậy là đúng.
Thênh thang là tự nó thênh thang, chớ tưởng nó thênh
thang thì cái tưởng đó là bệnh, đây là chỗ lầm lẫn của
nhiều người tu. Vọng không có chỗ nơi, do chấp mà
thành vọng. Nếu hiểu thật kỹ thì trong cuộc sống của
chúng ta, việc tu thật là dễ, còn không hiểu thì việc
tu thật là khó.
Ai tu cũng sợ vọng. Vọng liên miên không dừng, nhưng
thử hỏi tại sao có vọng? - Tại chấp mà có! Thí dụ như
tôi đang đi, chợt nghe một đứa bé gọi tên tôi. Nếu tôi
cười và đi thẳng thì tôi có vọng không? Nếu nghe gọi
tên, tôi nghĩ thằng bé hỗn, dám gọi tên người lớn, vừa
nghĩ như thế là bao nhiêu vọng tưởng sanh. Như vậy vừa
dấy một niệm chấp là bao nhiêu vọng tưởng sanh. Trái
lại nếu bỏ qua không chấp thì không có vọng tưởng. Thế
nên vọng không có chỗ nơi, nó không thật, do chấp mà
thành vọng. Giả sử quí vị đang ngồi nói chuyện với
nhau, có ai lỡ nói một câu quá đáng, nếu thông qua thì
không loạn, nếu chấp vào câu đó cho là họ khi mình hay
mỉa mai mình, vừa có niệm nghĩ như thế là bất an ngay,
vậy bất an gốc từ đâu? Từ chấp mà ra, nên niệm chấp
biến thành vọng.
Nếu chúng ta không có niệm chấp thì vọng không có.
Người không chấp thì an ổn. Nếu chúng ta gan dạ, nghe
thấy mọi việc đều không chấp thì chúng ta tu rất dễ.
Hiện nay, sở dĩ ai cũng than thở tu khó là tại chấp;
do đây chúng ta mới hiểu rõ ý lời nói “Thiền tông phá
chấp” là thế. Nếu hết chấp thì đâu có vọng. Nay muốn
dẹp vọng mà không phá chấp thì làm sao vọng hết? Ngồi
thiền muốn vọng không khởi, nhưng ai nói câu gì cũng
chấp, cũng phân biệt phải quấy khen chê, như vậy có
hết vọng được không? Hẳn là không. Tột cùng chỗ không
yên của chúng ta gốc từ chấp, nếu buông được chấp thì
mọi việc đều yên. Vì thế người tu càng chấp nhiều thì
càng khó tu. Người nào mở miệng nói phải, nói quấy,
nói hơn, nói thua, người đó khó tu nhất, còn người nào
gặp việc gì cũng xí xóa bỏ qua thì người đó dễ tu. Thế
nên tất cả chấp là gốc của phiền não, của vọng tưởng,
vì thế Tổ bảo: “vọng không có xứ sở, do chấp thành
vọng”, nhớ điểm đó mới hiểu ý nghĩa “phá chấp” trong
Thiền tông.
Tuy nhiên hiện nay có nhiều người hiểu lầm, nghe nói
tu thiền phá chấp mới bày đặt những hình thức lạ đời
nói là để phá chấp. Ví dụ như người tu mà ăn mặc xốc
xếch, áo không gài hoặc vô quán ngồi ăn mặn rồi nói
tôi phá chấp. Như vậy phải phá chấp không? Hay chỉ làm
chướng mắt thiên hạ, lại thêm bệnh? Tất cả những việc
phá chấp như vậy là sự lầm lẫn của những người nông
nổi, không hiểu được ý Tổ, ý Phật, lại đem những lời
Phật, Tổ ra để ngụy biện cho những hành động lầm lẫn
tội lỗi của họ, đó không phải là người hiểu đạo.
Phá chấp là khi việc xảy đến hoặc khen chê, hoặc hơn
thua, phải quấy, chúng ta không chấp, đó mới là phá
chấp. Vì thế Phật tử hay Tăng Ni phải hiểu thấu đáo
lời Phật, Tổ dạy. Chúng ta biết vọng gốc từ chấp, nếu
không chấp là vọng hết, vậy muốn hết vọng trước tiên
phải hết chấp, chớ nếu vẫn cứ chấp thì không bao giờ
dẹp hết vọng được. Cũng như sóng dấy động là bởi gió,
muốn sóng lặng trước hết gió phải lặng. Biết cái nào
trước, cái nào sau thì sự tu hành của chúng ta mới
không tốn công vô ích. Nếu chúng ta ngồi cứ đè vọng
cho nó lặng xuống, nhưng ai nói chi mình chấp nấy thì
chừng nào mới hết vọng? Kềm mãi rồi đau đầu, rồi phiền
não, cho là tu không hiệu quả gì cả. Không hiệu quả,
gốc tại cái chấp của mình. Nói thế để rõ trong việc tu,
việc nào là gốc, việc nào là ngọn, nếu không hiểu thì
tu không kết quả, lại sanh nhọc nhằn.
Vọng tưởng gốc từ chấp mà ra, ai buông được các chấp
thì hết vọng tưởng. Nhưng chấp những gì? Đó là câu hỏi
thiết yếu. Trong phần trên, tôi đã nói lược qua, chấp
là chấp phải quấy, tốt xấu v.v... Ví như tôi nói bình
bông này đẹp, nhưng người có con mắt mỹ thuật khác tôi,
nói bình bông không đẹp. Nếu tôi chấp lời nói của tôi
là chân lý thì, tôi nổi giận ngay, trái lại nếu tôi
không chấp, tôi chỉ cười, việc sẽ êm. Mình có cái nhìn
khác, người có cái nhìn khác, tại sao bắt người phải
nhìn giống mình? Cả đến con người mình, sự ăn mặc của
mình cũng vậy.
Thí dụ chúng ta cao, người ta nói mình cao như cây tre
nêu, mình giận; nếu mình lùn, họ nói mình lùn tịt mình
cũng giận. Tại sao chúng ta giận? Chỉ vì chấp mình là
đẹp nên ai nói xấu thì mình giận. Giả sử chúng ta đang
ăn cơm, có người đến chê thức ăn của ta thế này thế
kia, nếu chúng ta giận là ta cũng chấp rồi. Hoặc chúng
ta mặc chiếc áo, có người chê màu áo là xấu, họ chê
mặc họ, mình thích thì cứ mặc, không phải vì lẽ họ nói
sắc áo xấu rồi chiếc áo biến thành xấu nên chúng ta
giận họ.
Tóm lại từ ngôn ngữ đến việc ăn mặc, nhà cửa, con cái,
tất cả chúng ta đều chấp là chân lý, là hơn hết nên ai
vừa chạm đến là chúng ta nổi sân liền. Nếu cứ chấp như
vậy, chúng ta sẽ phiền não nhiều, vì có người trực
tính thấy xấu thì nói xấu, thấy tốt thì nói tốt, nhưng
chúng ta chỉ thích nghe nói tốt, nên nghe nói xấu là
phiền não. Lại có nhiều người xấu tính, thích mỉa mai
chơi, thấy chúng ta thích được khen, sợ bị chê, họ mỉa
mai chơi vài lời chúng ta cũng phiền não...
Trong cuộc sống hiện tại, chúng ta sống đúng với sở
nguyện, còn người chung quanh cũng có quyền nhìn những
gì tốt xấu theo nhãn quan của mỗi người, vậy chúng ta
không nên cố chấp; không cố chấp tức nhiên không có
vọng tưởng, giả sử có thì cũng nhẹ thôi, buông xả sẽ
dễ dàng. Nếu buông xả được chấp thì việc tu sẽ dễ được
năm mươi phần trăm rồi, trái lại nếu chấp quá nặng thì
việc tu sẽ thật khó. Nếu cứ cố chấp, dầu phương pháp
hay do Phật đem tới cũng không giúp hết vọng được, vì
chấp không bỏ thì vọng không bao giờ dừng, đó là một
lẽ thật. Thế nên khi học đạo một câu nói của Phật, của
Tổ đủ cho chúng ta sống, nhưng tiếc là chúng ta hơi
xem thường nên tu không tiến được.
Tóm lại, điểm đầu tiên là vọng gốc từ chấp mà ra, nên
chấp tâm cũng là bệnh; điểm thứ hai là nhiều người tu
cứ khán tịnh, tức là trông thấy cái tịnh, nhưng tịnh
cần gì trông thấy, chỉ không vọng là tịnh, vậy chấp
tịnh cũng là tịnh của vọng chớ không phải là tịnh chân
thật.
|