| |
Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ,
trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Sắc là vô thường, vô thường nên khổ, khổ
nên phi ngã[2]. Thọ[3] cũng vô thường, vô
thường nên khổ, khổ nên phi ngã. Tưởng
cũng là vô thường, vô thường nên khổ, khổ
nên phi ngã. Hành cũng là vô thường, vô
thường nên khổ, khổ nên phi ngã. Thức cũng
là vô thường, vô thường nên khổ, khổ nên
phi ngã.
“Như vậy là sắc vô thường; thọ, tưởng,
hành, thức vô thường, vô thường nên khổ,
khổ nên phi ngã. Đa văn Thánh đệ tử hãy
nên quán sát như vậy, hãy tu tập bảy đạo
phẩm[4], vô ngại, chánh tư, chánh niệm[5].
Vị ấy đã biết như vậy, thấy như vậy rồi
thì tâm giải thoát dục lậu, tâm giải thoát
hữu lậu, vô minh lậu.
Giải thoát rồi liền biết
mình đã giải thoát; biết đúng như thật
rằng: ‘Sự sanh của ta đã dứt, phạm hạnh đã
vững, việc cần làm đã làm xong, không còn
tái sanh nữa’. Nếu có chúng sanh và chín
trú xứ của chúng sanh[6], cho đến cõi đệ
nhất hữu với hành còn tàn dư, tức cõi hữu
tưởng vô tưởng xứ[7], ở trong khoang trung
gian đó, là bậc đệ nhất, là tối đại, là
tối thắng, là tối thượng, là tối tôn, là
tối diệu; đó chính là vị A-la-hán ở trong
đời. Vì sao vậy? Vì trên đời này, A-la-hán
đã được an ổn khoái lạc.”
Khi ấy, Đức Thế Tôn nói bài tụng rằng:
Vô trước[8], đệ nhất lạc;
Đoạn dục, ái đã trừ,
Vĩnh viễn lìa ngã mạn,
Bứt tung màn lưới si[9].
Người không bị lay chuyển,
Tâm chẳng bợn mảy trần,
Thế gian không đắm nhiễm,
Vô lậu, phạm hạnh thành,
Thấu triệt năm ấm thân,
Cảnh giới bảy thiện pháp[10],
Chốn đại hùng du hành,
Lìa xa mọi khủng bố,
Thành tựu báu thất giác[11],
Học đủ ba môn học,
Thượng bằng hữu tôn xưng[12];
Chân chánh con của Phật;
Thành tựu mười chi đạo[13].
Đại long định kiên cố,
Đấng bậc nhất trong đời;
Vị này không hữu ái;
Vạn cảnh không lay chuyển;
Giải thoát hữu tương lai;
Đoạn sanh, lão, bệnh, tử;
Lậu diệt, việc làm xong;
Phát khởi vô học trí[14];
Tận cùng tối hậu thân[15];
Tối thắng thanh tịnh hạnh;
Tâm không do bởi người[16];
Đối các phương trên dưới,
Vị ấy không hỷ lạc;
Thường rống tiếng sư tử,
Vô thượng giác trên đời.
Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi
nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
------------------------------------------------------------------------
[2]. Hán: phi thần 非 神, chỉ thần ngã, tự
ngã, hay linh hồn. Xem cht.5 dưới
[3]. Hán: giác 覺. Pāli: vedāna.
[4]. Bản Nguyên-Minh: ba mươi bảy đạo
phẩm. Bản Pāli, không có chi tiết này.
[5]. Pāli: yad anattā taṃ n’etam mama,
n’eso aham asmi na m’eso attā, ti evam
etaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya
daṭṭhabbaṃ,“ cái gì là vô ngã, cần phải
được nhận thức một cách như thực bằng
chánh trí rằng: cái này không phải của ta;
ta không phải là cái này; cái này không
phải là tự ngã của ta”.
[6]. Hán: hữu tình cư, chỗ chúng sanh cư
ngụ. Pāli: sattāvasā.
[7]. Hán: hữu tưởng vô tưởng xứ hành dư đệ
nhất hữu 有 想 無 想 處 行 餘 第 一 有, chỉ Hữu đỉnh
thiên, cõi cao nhất trong tam hữu, tức cõi
Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tầng thứ tư
của vô sắc định. Pāli: yāvatā sattāvasā,
yāvatā bhaggaṃ, cho đến các cảnh vức của
hữu tình, cho đến chóp đỉnh của (ba) Hữu.
[8]. Vô trước 無 著, dịch nghĩa từ A-la-hán.
Pāli: sukhino vata arahanta, A-la-hán thật
sự an lạc.
[9]. Vô minh võng 無 明 網, Pāli: mohajāla.
[10]. Cảnh giới thất thiện pháp 境 界 七 善 法.
Pāli: sattasadhammagocarā, sở hành là bảy
diệu (chánh) pháp. Xem Tập dị 17 (Đại 26,
tr.437a), “bảy diệu pháp: tín, tàm,quý,
tinh tấn, niệm, định, tuệ.”
[11]. Thất bảo giác 七 覺 寶. Pāli:
Sattaratanā, ở đây chỉ bảy giác chi: trạch
pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, niệm, định,
xả.
[12]. Thượng bằng hữu 上 朋 友. Pāli: không
rõ.
[13]. Thập chi đạo 十 支 道, tức mười vô học
chi; Tập dị 20 (Đại 26, tr.452c): 1. Vô
học chánh kiến; ...; 8. Vô học chánh định;
9. Vô học chánh giải thoát; 10. Vô học
chánh trí. Pāli: dasahaṅga.
[14]. Vô học trí. Pāli: asekhañāṇā.
[15]. Tối hậu thân. Pāli: antimoyaṃ
samussayo.
[16]. Bất do tha 不 由 他, tự tri, tự chứng
ngộ, không do kẻ khác. Pāli: aparapaccāya,
không nương theo người khác.
=====
Bàn về bốn bộ A-hàm
Lương Khải Siêu
Gs. Định Huệ dịch
I. A-hàm và ngũ bách kiết tập
A-hàm còn gọi là A-cấp-ma, A-hàm-mộ. Hán
dịch : Pháp quy, nghĩa là nơi quy thú của
muôn pháp (Bài tựa KINH TRƯỜNG A-HÀM), còn
dịch là "Vô tỷ pháp", nghĩa là pháp tối
thượng (PHIÊN DỊCH DANH NGHĨA TẬP 4), cũng
dịch là "giáo", là "truyền", nghĩa là giáo
pháp được lần lượt truyền trao nhau (NHẤT
THIẾT KINH ÂM NGHĨA 24). A-hàm vốn là tên
chung của kinh Phật (Pháp Hoa Luận Sớ của
ngài Cát Tạng nói A-hàm là tên gọi chung
cả kinh điển Đại thừa, Tiểu thừa. Bốn bộ
A-hàm là Tiểu thừa, Kinh Niết-bàn là
"Phương Đẳng A-hàm", đó là Đại thừa). Nay
chỉ bàn về A-hàm Tiểu thừa.
Nghiên cứu về lịch sử thành lập kinh điển
Phật giáo, tôi xin đưa ra bốn quan niệm để
làm tiền đề :
Kinh Phật đều không phải có từ hồi Phật
còn tại thế, bất luận kinh điển thuộc thừa
nào, bộ nào, cũng đều do đệ tử Phật thuật
lại sau khi Phật diệt độ. Kinh Phật xuất
hiện sớm nhất là sau Phật diệt độ vài
tháng, và muộn nhất là từ Phật diệt độ 500
năm về sau.
Về việc thuật lại kinh Phật có hai hướng :
Một là do đoàn thể công khai kiết tập, hai
là do cá nhân trước thuật. Hướng thứ nhất
thì có lịch sử để khảo chứng, còn hướng
thứ hai thì không làm sao khảo chứng được.
Kinh Phật sử dụng cả hai hình thức đơn
hành bản và tùng thư, mười mấy bộ kinh lớn
hiện còn lưu hành đều là tùng thư. Nhưng
theo tính chất thì loại tùng thư này lại
chia làm hai : Có loại biên soạn cùng một
lúc hoàn thành, có loại phải trải qua
nhiều năm bổ sung mãi mới hoàn thành.
Đầu tiên kinh Phật không có bản chữ viết
mà chỉ dựa vào đọc thuộc lòng, bản chữ
viết sau Phật diệt độ mấy trăm năm mới có,
Phật giáo truyền đến đâu thì tùy theo
tiếng nước đó mà biên chép. Do đó có thể
nói kinh Phật đều là văn học phiên dịch.
Bốn bộ A-hàm là bốn loại tùng thư do đoàn
thể công khai kiết tập cùng một lúc hoàn
thành vào tháng thứ tư sau Phật diệt độ.
Bốn bộ A-hàm này trải qua nhiều năm sau
mới dùng mấy loại văn tự biên chép. Lần
kiết tập đầu tiên này nổi tiếng nhất trong
lịch sử, được gọi là "Ngũ bách kiết tập".
Tình tiết của sự kiện này được thấy đầy đủ
trong TỨ PHẦN LUẬT 54, DI-SA-TẮC NGŨ PHẦN
LUẬT 30, MA-HA TĂNG-KỲ LUẬT 32, THIỆN KIẾN
LUẬT 1, v.v...
Sáng sớm ngày Rằm tháng 2, Phật nhập diệt
tại Câu-thi-na, lúc ấy đại đệ tử Đại
Ca-diếp còn ở tại nước Diệp-ba, nghe tin
liền trở về. Sau khi trà-tỳ Phật xong, tự
thầm nghĩ rằng cần phải kiết tập pháp tạng
để cho chánh pháp trụ ở đời làm lợi ích
chúng sanh, Ngài mời vua A-xà-thế làm đàn
việt, bắt đầu kiết tập vào ngày 27 tháng 6
tại hang Tất-ba-la (cũng gọi là Thất Diệp)
ngoại ô thành Vương Xá, với sự tham dự của
500 người. Ngài Ca-diếp làm Thượng thủ,
trước tiên mời ngài Ưu-ba-ly kiết tập
Tỳ-ni (cũng gọi là Tỳ-nại-da), Hán dịch :
Luật tạng, sau này biên tập thành Luật Bát
Thập Tụng. Kế đó, mời ngài A-nan kiết tập
Tu-đa-la (cũng gọi là Tố-đát-lãm), Hán
dịch : Kinh tạng, cũng gọi là Pháp tạng,
sau này biên tập thành các bộ A-hàm.
A-nan, đệ tử Phật, làm thị giả Phật 25
năm, Phật khen Ngài là người đa văn đệ
nhất, do vì trí nhớ của Ngài rất tốt, cho
nên đại chúng suy cử Ngài phải đảm nhiệm
chức vụ lớn lao là kiết tập Kinh tạng.
A-nan thăng tòa, ngài Ca-diếp hỏi : "Kinh
Phạm Võng trong pháp tạng được nói ở đâu
?" (Kinh Phạm Võng này không phải là Kinh
Phạm Võng giới Bồ-tát của Đại thừa, mà là
Kinh Phạm Động trong Trường A-hàm). A-nan
đáp : "Phật nói ở tại nhà Vương-am-la-hy
giữa thành Vương Xá và Na-lan-đà". Hỏi :
"Do ai phát khởi ?" Đáp : "Do
Tu-bi-dạ-ba-lợi-bà-xà-ca và Bà-la-môn
Đà-đa phát khởi". Sau khi hỏi đáp nhân
duyên bản khởi như thế xong, A-nan mới
tụng lời Phật nói, bắt đầu bằng câu "Tôi
nghe như vầy", tụng xong, 500 vị La-hán ấn
khả, rồi tuần tự tụng đến kinh khác, tụng
hết các kinh, về sau chép thành định bản,
tức là Kinh A-hàm.
Vì sao lại chia A-hàm thành bốn bộ ? Phẩm
TỰ của KINH TĂNG NHẤT ghi : "Lúc ấy, A-nan
nói kinh nhiều vô lượng, ai có đủ khả năng
làm thành một nhóm, hoặc có một số pháp
nghĩa sâu xa, khó trì khó tụng không thể
nhớ. Ta nay phải tập hợp pháp nghĩa này để
cho các pháp không bị thất lạc". Theo đây
thì dường như ngài A-nan e rằng các kinh
đã được tụng ra tản mạn khó nhớ, nên muốn
tập hợp thành "một nhóm" bằng cách dùng
hình thức tùng thư để tổng trì nó. Phẩm TỰ
còn ghi : "Khế kinh nay sẽ chia làm bốn
đoạn, trước tiên là Tăng Nhất, hai là
Trung, ba là Trường Đa Anh Lạc, bốn là Tạp
Kinh".
Đó là nói về thứ tự của bốn
bộ. LUẬN PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC giải thích :
"Do vì văn nghĩa lộn xộn nên phải lấy sự
lý theo nhau, theo thứ tự lớn nhỏ, lấy một
làm đầu tiên, theo thứ tự đến mười; một,
hai, ba theo sự tăng lên, cho nên gọi là
Tăng Nhất. Trung là không lớn không nhỏ,
không dài không ngắn, thích hợp với bậc
trung. Trường là nói về sự việc từ xa xưa
trải qua nhiều kiếp. Tạp là các kinh đoạn
kiết khó tụng khó nhớ, việc nhiều tạp
toái, dễ làm cho người ta quên". DI-SA-TẮC
NGŨ PHẦN LUẬT ghi : "Ngài Ca-diếp hỏi tất
cả Tu-đa-la xong, trong chúng nói rằng :
Đây là kinh dài, nay tập thành một bộ, gọi
là Trường A-hàm. Đây là kinh không dài
không ngắn, nay tập thành một bộ, gọi là
Trung A-hàm. Đây là kinh nói cho các
Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Thiên tử, Thiên nữ
nghe, nay tập thành một bộ, gọi là Tạp
A-hàm. Đây là từ một pháp đến mười một
pháp, nay tập thành một bộ gọi là Tăng
Nhất A-hàm". Căn cứ theo đây, bốn bộ A-hàm
được phân loại theo văn kinh dài ngắn.
PHÁP HOA HUYỀN NGHĨA 10 ghi : "Tăng Nhất
nói về nhân quả trời người, Trung A-hàm
nói về nghĩa sâu xa của chân tịch, Tạp
A-hàm nói về các Thiền định, Trường A-hàm
phá ngoại đạo". Thuyết này không tránh
khỏi bịa đặt. Bốn bộ A-hàm tuy được nói là
đem các kinh sắp xếp tổ chức lại, nhưng
cách phân loại của lý luận loại này dường
như chẳng phải của thời ấy, ngày nay xem
kỹ lại các kinh được dịch thì cũng không
thể nói bộ kinh nào chuyên nói về một
nghĩa nào.
Tại sao lại lấy số bốn ? Hoặc có người cho
rằng đó là phỏng theo Tứ Phệ-đà, điều này
cũng có thể đúng. Nhưng theo Thiện Kiến
Luật thì còn có Khuất-đà-ca A-hàm, chứ
không phải chỉ có bốn ! A-hàm chữ Pàli của
Tích Lan truyền bá có năm bộ, bộ thứ năm
là Khuất-đà-ca. Nhưng nếu đem văn bốn bộ
A-hàm trích yếu phân loại biên tập, e rằng
chẳng phải là nguyên bản. Tôi ngờ rằng
Khuất-đà-ca này có quan hệ với kinh điển
Đại thừa, tôi sẽ bàn ở thiên sau.
II. Sự truyền bá A-hàm tại Ấn Độ
PHÓ PHÁP TẠNG NHÂN DUYÊN TRUYỆN 2 có ghi
một việc đáng buồn cười như sau :
A-nan du hành đến một rừng tre, nghe một
Tỳ-kheo tụng kệ Pháp cú : "Nếu người sống
trăm năm, không thấy con vịt trời, chẳng
bằng sống một ngày, mà được trông thấy
nó". A-nan nói với thầy Tỳ-kheo ấy rằng đó
không phải lời Phâ䴠dạy, nay ông hãy nghe
ta đọc : "Nếu người sống trăm năm, không
hiểu pháp sanh diê䴬 chẳng bằng sống một
ngày, mà thấu rõ pháp ấy". Lúc ấy, thầy
Tỳ-kheo này thuật lại lời ngài A-nan cho
thầy ông ta nghe. Vị thầy ấy bảo : "A-nan
già cả lẩm cẩm, lời nói nhiều lầm lẫn,
không nên tin, ông cứ đọc tụng y như
trước".
Kinh Phật thời ấy chỉ dựa vào học thuộc
lòng chứ chưa được ghi chép, do đó ý nghĩa
bị thay đổi, đến nỗi ngài A-nan còn tại
thế mà đã có sự sai lầm đến thế rồi, dù
được bậc học rộng đức cao như ngài A-nan
chỉ dạy mà còn không thể sửa lại cho đúng
được; vì thế Mạnh Tử mới than : "Tin hoàn
toàn vào sách vở, chi bằng không đọc sách
!" Chẳng những chuyển biến mà còn dễ sót
mất, LUẬN PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC quyển thượng,
ghi :
"Tăng Nhất A-hàm vốn có 100 sự, A-nan đem
truyêcho Ưu-đa-la, 12 năm sau, A-nan nhập
Niêᴭbàn. Các thầy Tỳ-kheo sau này thích
tập tọa thiền, bỏ phế phúng tụng, do đó
kinh này mất 90 sự, các pháp sư ngoại quốc
truyền trao cho nhau bă讧 miệng, không nghe
nói đến văn tự biên chép, lúc ấy chỉ
truyền hết 11 sự mà thôi. Từ đó thừa kế
nhau chính là văn bản này. Đệ tử của
Ưu-đa-la là Thiện Giác, học thuộc từ thầy
chỉ được 11 sự, Ưu-đa-la bèn nhập
Niết-bàn. Ba tạng kinh hiện tại đều do
ngài Thiện Giác truyền".
Một Kinh Tăng Nhất như thế, các kinh khác
cũng vậy. Bộ A-hàm hiện nay không thể nói
là nguyên bản thời ngài A-nan. Nhưng các
bộ phái Phật giáo Ấn Độ đã nhiều nên bản
kinh này cũng không thể nào y hệt nhau.
LUẬN THUẬN CHÁNH LÝ (Chúng Hiền soạn,
Huyền Trang dịch) ghi : "Tuy có các kinh,
các bộ phái đồng tụng, nhưng danh cú của
chúng có sai khác nhau" (quyển 1). Điều
này cũng như kinh điển lúc mới truyền vào
Trung Quốc phần nhiều do đọc thuộc lòng
nên các nhà biên tập văn cú có khi trái
ngược nhau, như lấy Tăng Nhất làm thí dụ.
LUẬN CÔNG ĐỨC nói : "Các
nhà Tát-bà-đa (tức Nhất Thiết Hữu Bộ)
không có bài tựa và mười việc sau". Vậy
kinh do Tát-bà-đa Bộ truyền chắc chắn là
khác với bản Thiện Giác, mà bản dịch Trung
Quốc hiện nay có 52 phẩm thì đã chẳng phải
bản 100 thiên của nguyên bản thời A-nan,
cũng chẳng phải là bản 11 thiên của Thiện
Giác, lại chẳng phải là bản 90 thiên của
Tát-bà-đa Bộ (hoặc là bản này chưa dịch
hết, cũng chưa nói chắc được), thế nên
biết Tăng Nhất ở Ấn Độ có ít nhất là bốn
dị bản. Tôi sở dĩ bàn tới bàn lui về điều
này, không phải vì thích khảo chứng vụn
vặt. Bởi vì sự giải thích giáo lý của các
bộ phái thời ấy có các thứ sai biệt, tuy
đồng thuộc về một kinh, mà bản của bộ phái
nào truyền thì mang tính chất đặc sắc
riêng của bộ phái ấy, chẳng chỉ như "thủy
lạo hạc" v.v...có sự dị đồng của văn tự mà
thôi. Thử đem so sánh bốn bộ A-hàm Hán
dịch và bản Pàli của Tích Lan thì sẽ phát
hiện rất nhiều giáo nghĩa khác nhau. Sau
này, nếu có thể đem các bản kinh A-hàm dị
bản hiện có trên khắp thế giới so sánh đối
chiếu, làm một sự nghiên cứu tổng hợp, tìm
ra bộ phái nào truyền để khảo cứu về đặc
điểm tư tưởng của mỗi bộ phái, đây là một
việc làm trọng đại của giới Phật học.
Bốn bộ A-hàm Trung Quốc không được phiên
dịch đồng thời, nguyên bản cũng không phải
cùng một xuất xứ, nên nguồn gốc truyền vào
cũng phải bất đồng. Ngài Từ Ân cho rằng
bốn bộ A-hàm đều do Đại Chúng Bộ truyền.
Ngài Pháp Tràng cho rằng Tăng Nhất do Đại
Chúng Bộ; Trung A-hàm, Tạp A-hàm do Nhất
Thiết Hữu Bộ; Trường A-hàm do Hóa Địa Bộ
truyền.
III. Nguồn gốc truyền dịch A-hàm
Về dịch kinh, ở Trung Quốc, đầu tiên dịch
loại Pháp Cú, tức là loại sách trích yếu
lời dạy trong các kinh. Kế đến là dịch các
tiểu phẩm A-hàm, bởi A-hàm là thể tài tùng
thư, các phẩm vốn là các thiên độc lập,
nên sự chia cắt các thiên không gây sự tổn
thất nào cả. (Người dịch xin lược bỏ bảng
dị dịch các kinh thuộc A-hàm).
A-hàm mang tính chất tùng thư, là do hợp
một số lớn các kinh nhỏ đơn hành bản mà
thành, ở Ấn Đô⯍ cũng tụng tập riêng biệt
với nhau. Khoảng hơn 100 năm của thời kỳ
đầu, các nhà phiên dịch như An Thế Cao,
Chi Khiêm, Pháp Hộ, Pháp Cự đều phiên dịch
từ các bản đơn hành này, các ngài có biết
nó đồng xuất xứ từ một tùng thư hay không,
tôi chưa dám nói. Tổng số kinh trong bốn
bộ A-hàm là bao nhiêu cũng không thể khảo
chứng đích xác được. Theo bản Hán dịch
ngày nay, Trường A-hàm gồm 30 kinh, Trung
A-hàm 222 kinh, Tăng Nhất A-hàm 72 kinh,
Tạp A-hàm ngắn và nhiều không thể nêu số
lượng chính xác, chỉ ước chừng 1200 - 1300
trở lên (quyê宠1 gồm 28 kinh, trọn bộ 50
quyển), tính chung hơn 2000 loại, nhưng
vẫn chưa hoàn toàn đầy đủ (Tăng Nhất, thể
lệ mỗi phẩm đều lũy tiến từ 1 đến 10, một
phẩm có 10 kinh. Bản hiện nay 51 phẩm mà
chỉ có 472 kinh, chắc là có thiếu sót.
Nhưng theo LUẬN PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC thì bộ
này phải có đến 100 phẩm hợp thành 1000
kinh, bản được truyền đến Trung Quốc chưa
được phân nửa). Nay kiểm lại trong các
kinh lục, cộng chung các kinh Tiểu thừa
hiện còn chừng 1000 loại, trong số đó trừ
ra chừng mười mấy loại, thì hầu hết đều là
di văn của A-hàm.
Các bản dịch đơn lẻ trước đó không làm
thỏa mãn yêu cầu của người đọc, cho nên
đến đầu đời Đông Tấn bắt đầu có những bản
dịch đầy đủ trọn bộ. Đầu tiên là Tăng Nhất
A-hàm, Trung A-hàm, kế đến Trường A-hàm và
cuối cùng là Tạp A-hàm được dịch suốt thời
gian 60 năm mới hoàn thành.
Tăng Nhất A-hàm được Đàm-ma-nan-đề dịch
vào năm 384 với sự trợ dịch của Trúc Phật
Niệm và Đàm Tung.
Trung A-hàm được Tăng-già-đề-bà và
Tăng-già-la-xoa dịch vào năm 398 với sự
trợ dịch của Đạo Từ.
Trường A-hàm được Phật-đà-da-xá dịch vào
năm 413 với sự trợ dịch của Trúc Phật Niệm
và Đạo Hàm.
Tạp A-hàm được Cầu-na-bạt-đà-la dịch vào
năm 443 với sự trợ dịch của Pháp Dũng.
Người mở đầu cho việc phiên dịch A-hàm ở
giai đoạn này là ngài Đạo An, Ngài dịch
Tăng Nhất A-hàm và Trung A-hàm, chính là
năm Phù Kiên mất nước, trong bài Tựa kinh
Tăng Nhất, ngài Đạo An viết : "Năm ấy kinh
thành lâm nạn đao binh, chiêng trống vang
dậy áp cận kinh thành". Bởi trong lúc vây
thành, vội vã dịch cho xong, năm sau ngài
Đạo An tịch, nên ngài Đạo Từ viết trong
bài Tựa kinh Trung A-hàm : "Người dịch
vụng về đánh mất ý nghĩa, bậc thầy xuất
chúng đã qua đời (chỉ ngài Đạo An), nên
không thể nào sửa lại cho đúng", cho nên
biết hai bộ Kinh A-hàm dịch vào đời Tần
này chưa hoàn hảo.
Bộ Tăng Nhất chưa được cải
chính này, hiện đang nằm trong Tạng, chính
là bản năm 384 (Đây là căn cứ theo kinh
lục cũ mà nói như thế, kỳ thật tôi còn có
điểm nghi ngờ. Bài tựa của ngài Đạo An nói
41 quyển, mà bản hiện nay có đến 50 quyển.
Bài tựa của ngài Đạo An có câu "Thiếu phần
lục kệ", dường như là chỉ cho phẩm TỰ, mà
bản hiện nay lại có phẩm TỰ, có lẽ được
thêm vào sau này. Bài tựa của ngài Đạo An
lại nói : "Cộng chung 472 kinh", nếu bản
kinh ngày nay số không phải bao nhiêu đó,
thì có thể chứng tỏ có sự thêm vào, rất
tiếc là tôi không có thì giờ để kiểm đếm).
Trường A-hàm bắt đầu từ nỗ lực của Pháp
Hòa và Đề-bà, lại được La-xoa từ Kế Tân
mới đến trợ dịch thành ra bản dịch thứ
hai, nhưng bản dịch đầu tiên ngày nay
không còn được thấy. Tạp A-hàm trước đó đã
có bản dịch đời Tần, không biết là thời
ngài Đạo An hay thời ngài La-thập ? Còn về
Trường A-hàm thì lai lịch phiên dịch đơn
giản như đã trình bày ở trên.
Khi nghiên cứu về nguồn gốc truyền dịch
bốn bộ A-hàm, bỗng tôi có hứng thú muốn
tìm đến các nhà phiên dịch để khám phá ra
bộ A-hàm nào do bộ phái nào truyền. Phật
giáo Tiểu thừa ở Ấn Độ có đến 20 bộ phái
đều theo giáo nghĩa A-hàm, nhưng các bản
tụng tập của các bộ phái đều có dị đồng
như trước đã nói. LUẬN PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC
nói bốn bộ A-hàm Hán dịch đều được truyền
từ Đại Chúng Bộ, hoặc nói Tăng Nhất A-hàm
từ Đại Chúng Bộ, Trung A-hàm, Tạp A-hàm từ
Nhất Thiết Hữu Bộ, Trường A-hàm từ Hóa Địa
Bộ, không biết thuyết này xuất xứ từ đâu.
Nay từ các nhà phiên dịch bốn bộ A-hàm và
các tài liệu khác, tôi đem so sánh đối
chiếu, và có vài ý kiến như sau :
1. Tăng Nhất A-hàm
Tôi nghi là dựa vào bản của Nhất Thiết Hữu
Bộ rồi được bổ sung bởi bản của Đại Chúng
Bộ. Dịch giả Đàm-ma-nan-đề là người
Đâu-khư-lặc. Vùng Đâu-khư-lặc nằm trong
địa bàn truyền giáo của Nhất Thiết Hữu Bộ.
Những năm gần đây, người châu Âu khai quật
ở Khố-xa (Kucha) được bản Ba-la-đề-mộc-xoa
(giới luật) bằng chữ Nguyệt Chi, chính là
Thập Tụng Tỳ-kheo-ni Giới Bản của
Tát-bà-đa Bộ (tức Nhất Thiết Hữu Bộ) do
ngài La-thập dịch.
Vua Ca-nị-sắc-ca tổ chức đại hội kiết tập
Tỳ-bà-sa là người dòng dõi Nguyệt Thị, có
nhân duyên rất sâu với Hữu Bộ, Đâu-khư-lặc
thuộc Nguyệt Thị, dùng văn tự Nguyệt Thị
thì cố nhiên phải học Hữu Bộ. Theo LUẬN
PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC,
Tăng Nhất A-hàm của các bộ phái khác chỉ
còn 11 phẩm, chỉ có bản Hữu Bộ là còn 90
phẩm. Bản lưu hành hiện nay 51 phẩm, rõ
ràng là được truyền từ Hữu Bộ, sở dĩ không
đủ 90 phẩm hoặc là do phiên dịch chưa hoàn
tất, bởi lúc dịch kinh này thì giặc đang
vây thành, chẳng bao lâu thì Phù Tần diệt
vong. LUẬN CÔNG ĐỨC còn ghi : "Bản của
Tát-bà-đa Bộ không có bài tựa". Trong bài
tựa của ngài Đạo An cũng nói : "Thiếu phần
lục kệ". "Bài tựa", "lục kệ" dường như chỉ
cho phẩm TỰ. Vậy thì một quyển phẩm TỰ của
bản hiện nay có lẽ chẳng phải là của
nguyên dịch mà do người sau lấy từ bản của
bộ phái khác thêm vào. Bản được dùng để
thêm vào này có thể là bản của Đại Chúng
Bộ, cho nên ngài Từ Ân nói : Tăng Nhất
A-hàm được truyền từ Đại Chúng Bộ. Phẩm TỰ
có nhiều ngôn ngữ của nhà Đại thừa, hẳn là
có liên quan với Đại thừa.
2. Trung A-hàm
Tôi nghi là xuất phát từ Nhất Thiết Hũu
Bộ. Bản dịch Trung A-hàm và Tăng Nhất đầu
tiên đều của Đàm-ma-nan-đề đã chứng tỏ là
được truyền từ Hữu Bộ. Bản đang lưu hành
hiện nay là bản dịch năm 398, do
Tăng-già-la-xoa giảng bản Phạn,
Tăng-già-đề-bà chuyển dịch Phạn Hán, cả
hai đều là người Kế Tân (tức
Ca-thấp-di-la), Kế Tân là căn cứ địa của
Hữu Bộ, mọi người đều biết. Đề-bà dịch
Luận A-tỳ-đàm Bát Kiền-độ (Luận Phát Trí
của Ca-chiên-diên) là sách trọng yếu nhất
của Hữu Bộ, La-xoa dịch tiếp Luật Thập
Tụng của ngài La-thập cũng là luật Hữu Bộ.
Vậy ba người dịch Trung A-hàm đều là các
đại sư Hữu Bộ, ngài Pháp Tràng cho rằng
Trung A-hàm được truyền từ Hữu Bộ là có
chứng cứ lịch sử.
3. Trường A-hàm
Tôi nghi là xuất phát từ Đàm Vô Đức Bộ.
Dịch giả của Trường A-hàm là Phật-đà-da-xá
cũng là người Kế Tân, nhưng Luật Tứ Phần
của Đàm Vô Đức Bộ cũng do Ngài tụng ra, đủ
biết Ngài là người thuộc Đàm Vô Đức Bộ,
cho nên Trường A-hàm của Ngài tụng ra ắt
cũng dùng bản Đàm Vô Đức Bộ.
4. Tạp A-hàm
Tôi nghi là xuất phát từ Di-sa-tắc Bộ.
Cầu-na-bạt-đà-la, dịch Tạp A-hàm, là người
Trung Thiên Trúc, vốn là nhà Đại thừa nổi
tiếng, không có quan hệ lắm đối với các bộ
phái Tiểu thừa, nguyên bản Tạp A-hàm
truyền vào Trung Quốc, thật ra do ngài
Pháp Hiển. Pháp Hiển được bộ kinh này ở
nước Sư Tử (tức Tích Lan), đồng thời cũng
được bộ Luật Di-sa-tắc. Vậy thì, Tạp A-hàm
đương nhiên có quan hệ với Di-sa-tắc Bộ,
bộ phái này vốn hưng thạnh ở vùng Nam
Thiên Trúc. Nước Sư Tử chắc hẳn có chịu
ảnh hưởng của bộ phái này, trước khi
Cầu-na sang Trung Quốc, Ngài cũng có cư
trú tại nước này một thời gian.
Những khảo chứng nói trên dường như không
có liên quan gì đến nghĩa lý của kinh,
nhưng học thuyết của các bộ phái Ấn Độ cổ
đại truyền đến nay rất ít (trừ Hữu Bộ).
Nếu tìm được một chút ít trong bốn bộ
A-hàm cũng giúp phần nào cho việc nghiên
cứu lịch sử tư tưởng Ấn Độ.
IV. Sự cần thiết và phương pháp nghiên cứu
A-hàm
Ở Trung Quốc, từ Tùy, Đường (thế kỷ VI) về
sau, người học Phật cho rằng bàn về Tiểu
thừa là điều xấu hổ, do đó Kinh A-hàm đã
bị xếp xó hơn một nghìn năm. Còn tôi quan
niệm rằng thật sự muốn nghiên cứu Phật học
thì phải nghiên cứu A-hàm, vì những lý do
sau đây :
A-hàm là kinh điển được thành lập trước
nhất, dùng hình thức kiết tập công khai,
rất đáng tin cậy, vì thế, tuy không dám
cho rằng Phật nói hết trong A-hàm, nhưng
A-hàm chiếm một phần quan trọng của lời
Phật nói, điều này không còn gì nghi nữa.
1. Phần lớn kinh Phật đều là tác phẩm văn
học, A-hàm tuy không tránh khỏi, nhưng so
với các kinh khác thì A-hàm mang ít tính
văn học hơn, mà mang tính thật thà chất
phác. Vì thế, dù không dám cho rằng mỗi
câu mỗi chữ của A-hàm đều là lời Phật nói,
nhưng nó hàm chứa nhiều và thuần túy lời
Phật mà kinh khác không bì kịp.
2. A-hàm mang thể tài của một loại ngôn
hành lục, tính chất đại khái đồng với Luận
Ngữ, muốn thể nghiệm nhân cách hiện thực
của Đức Thích Tôn mà không nghiên cứu kinh
này thì không được.
3. Các nguyên lý căn bản của Phật giáo như
Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, Ngũ uẩn giai
không, Nghiệp cảm luân hồi, Tứ niệm xứ,
Bát chánh đạo... đều được nói rõ trong
A-hàm. Nếu đối với các giáo lý căn bản này
mà không hiểu chính xác thì không thể nào
hiểu được kinh điển Đại thừa.
4. A-hàm chẳng những không xung đột với
kinh điển Đại thừa, mà giáo nghĩa Đại thừa
được cưu mang trong đó không ít, không cho
phép ta chê bai là thiên, tiểu, rồi bỏ
qua.
5. A-hàm trình bày rất nhiều về tình hình
xã hội đương thời, đọc A-hàm có thể biết
được hoàn cảnh sinh hoạt của Đức Thích Tôn
và Ngài đã khổ tâm ứng cơ giáo hóa như thế
nào. Chúng ta là người khác nước khác thời
với Phật, làm thế nào để thọ dụng được
Phật học, có thể nhờ đây mà tự xét biết.
Điều cần thiết của sự nghiên cứu A-hàm đã
hữu ích như thế. Nhưng nguyên nhân khiến
cho sự nghiên cứu A-hàm không được phổ cập
là do :
1. Pho quyển quá nhiều
2. Thiên chương trùng phức : Các kinh
trong bốn bộ A-hàm trùng phức với nhau, có
trường hợp cùng trong một bộ mà có các
kinh trước sau trùng phức, cùng một đoạn
kinh mà bình quân trong bốn bộ A-hàm thấy
xuất hiện ba bốn lần, câu văn chỉ khác
nhau chút ít.
3. Từ ngữ lặp lại liên miên : Chúng ta đọc
A-hàm có thể thấy được sự rườm rà của ngôn
ngữ người Ấn Độ đương thời. Mỗi khi nói
một nghĩa thường từ chánh diện phản diện
dùng cùng một câu lặp đi lặp lại giải
thích. Lúc vấn đáp, thường lặp lại lời nói
trước, cho nên thường thường cả một đoạn
văn dài ba bốn nghìn chữ chỉ trình bày
được một vài điểm mà đáng lẽ chỉ dùng từ
ngữ trong mười mấy câu là đủ, người đọc
hơi vội vàng thì không thể nào biết được
đâu là chánh văn, đâu là lời phụ thích,
cho nên rất dễ sanh chán.
4. Văn dịch vụng về : Tăng Nhất A-hàm và
Trung A-hàm được dịch xong trong hoàn cảnh
chiến tranh, Trung A-hàm tuy có sửa lại,
còn Tăng Nhất thì giữ y nguyên, về văn
nghĩa, chính người dịch cũng tự cảm thấy
chưa vừa ý. Trường A-hàm, Tạp A-hàm dịch
sau, khá hơn hai bộ dịch trước, nhưng cũng
đều là giai đoạn đầu của nền phiên dịch,
nên kinh nghiệm và tài năng của người dịch
không bằng các dịch giả sau này. Còn về
thuật ngữ, phần nhiều được các dịch giả
đời sau chỉnh sửa dần dần và các thuật ngữ
trong A-hàm bị đào thải, cho nên ngày nay
đọc A-hàm cảm thấy khó hiểu.
Nay muốn phục hưng "A-hàm học", cần phải
bắt tay vào các phương pháp sau đây :
Trước tiên, cần phải đem các giáo lý
trọng yếu xếp thành đề mục như : Khổ, Vô
thường, Vô ngã, Nhân duyên sanh pháp, Ngũ
thủ uẩn, Tứ thiền... khoảng chừng ba bốn
mươi mục. Sau đó, phân loại các kinh theo
đề mục, lấy một kinh hoặc hai, ba kinh làm
chính, còn các kinh khác có văn nghĩa hoặc
dài ngắn gần giống thì đặt vào phần phụ
lục. Đối với kinh hoàn toàn đồng, chỉ để
tên trong cùng một mục, nếu biên soạn lại
như thế thì chỉ còn chừng một phần mười
của nguyên bản, nhưng muốn nghiên cứu xem
trong A-hàm có bao nhiêu điều giáo lý
trọng yếu, nội dung của các giáo lý ấy thế
nào, chúng quan hệ với nhau ra sao, đều có
thể thấu hiểu, và quan điểm căn bản nguyên
thủy của Phật giáo do đây có thể xác lập.
-- Đem những tư liệu có liên quan đến xã
hội, phong tục Ấn Độ trong A-hàm phân
loại, biên tập và xem xét mối quan hệ của
nó với Phật giáo, như những đoạn ghi chép
về chế độ bốn giai cấp cho ta thấy được
tinh thần bình đẳng của Phật giáo, xem
những ghi chép về các nghi thức tế lễ,
nhân đó thấy được tinh thần phá trừ mê tín
của Phật giáo.
-- Cần phải chú trọng đến địa phương và
nhân sự, đem những nơi Đức Thích Tôn đã cư
trú và du hóa trong A-hàm lập thành một
bảng kê, xem Ngài thuyết pháp ở đâu nhiều
nhất, kế đến là nơi nào, ở nơi nào thuyết
loại pháp nào. Về những người được tiếp
xúc với Phật như đệ tử, quốc vương, trưởng
giả, thường dân, ngoại đạo..., mỗi loại
người nên làm một biểu để biết được cách
ứng cơ thuyết pháp của Phật. Như vậy có
thể cung cấp tư liệu chính xác về truyện
Phật Thích-ca, truyện đệ tử Phật, lịch sử
Ấn Độ...
Bốn bộ A-hàm là
một kho tàng văn hóa quý báu, bất luận
nghiên cứu về phương diện nào cũng đều có
giá trị.
|
|