| |
Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng
nhau.
Tâm buồn chẳng nói lời nào,
Tâm vui lời nói ngọt ngào dễ
thương.
Có thương yêu, bao nhiêu cũng
được,
Hết thương rồi, nói ngược nói
xuôi.
Lời nói dễ mích lòng nhau.
Lời nói chân thật ngọt ngào
tình thương.
Có tình thương nói gì cũng dễ.
Hết thương rồi bất kể nói
chi.
Nói nhiều tâm khởi sân si.
Bằng như không nói từ bi ai tường.
Trong cuộc sống hằng ngày, để
có thể hiểu nhau biết nhau, trao đổi tin tức,
phổ biến văn hóa, con người dùng ngôn ngữ,
tức là: chữ viết và tiếng nói. Ðôi khi,
không cùng chữ viết, cũng không cùng tiếng
nói, nhưng con người cũng có thể hiểu biết
nhau qua dáng điệu, cử chỉ, nét mặt, thái độ,
hay giọng nói. Một vấn đề lớn đối với các
gia đình người Việt sống ở hải ngoại chính
là: Vấn Ðề Ngôn Ngữ. Ðối với thế hệ trước,
tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ, cho nên rành rẽ
rõ ràng, còn tiếng địa phương thì không
thông thạo. Ðối với thế hệ sau, tiếng địa
phương thì thông thạo, tuy tiếng Việt cũng
là tiếng mẹ đẻ, nhưng nói thì vấp váp, gượng
gạo, ngọng nghịu. Tại sao như vậy? Bởi vì
thế hệ sau hấp thụ văn hóa Tây phương, tiếp
xúc với xã hội bên ngoài nhiều hơn, còn
trong gia đình, thế hệ trước muốn tập nói
tiếng địa phương với thế hệ sau, cho nên thế
hệ trước quên lửng chuyện dạy dỗ tiếng Việt
cho thế hệ sau, dù người mẹ đẻ là người Việt.
Hai thế hệ nói hai thứ tiếng khác nhau,
tiếng Việt và tiếng địa phương, cho nên
không thể thông cảm nhau dễ dàng. Chuyện
không cảm thông nhau thường đưa tới việc đổ
vỡ hạnh phúc gia đình, tức nhiên cuộc sống
phiền não khổ đau, không sao tránh khỏi được.
Trong đạo Phật, nếu muốn nói
với tâm Phật, tức là tâm từ bi hỷ xả,
hay tâm thanh tịnh, thì chúng ta nên nói.
Nếu muốn nói với tâm ma, tức là vọng
tâm hay ác tâm, thì chúng ta không nên nói.
Tại sao như vậy? Bởi vì, khi chúng ta bị tâm
ma điều khiển để nói năng, tức là chúng ta
đang tạo khẩu nghiệp, để rồi mãi mãi, chính
chúng ta bị trôi lăn trong sanh tử luân hồi,
khổ đau nhiều kiếp.
Trong giáo lý của đạo Phật,
vấn đề lời nói được đề cập đến nhiều nơi:
Một là trong Tứ Nhiếp Pháp, đó là: "Ái Ngữ".
Hai là trong Bát Chánh Ðạo, đó là: "Chánh
Ngữ". Ba là trong Pháp Tứ Y, đó là: "Y Nghĩa
Bất Y Ngữ".
Thế nào là "Ái Ngữ"?
Ái ngữ chính là: lời nói dịu
dàng, êm ái ngọt ngào, dễ nghe dễ thương,
phát xuất từ lòng từ bi hỷ xả, phát xuất từ
tâm thanh tịnh, phát xuất từ tấm lòng thương
người như thể thương thân. Ái ngữ không phải
là lời nói đầu môi chót lưỡi, không phải là
lời nói hoa mỹ, không phải là lời nói tâng
bốc khách sáo, cốt sao cho đẹp lòng người
nghe, một cách không thực, đôi khi hàm chứa
dụng ý bên trong. Ái ngữ có tác dụng đem lại
an vui, bình yên thanh thản cho người nghe.
Ái ngữ có tác dụng an ủi vỗ về những tâm hồn
nhiệt não, âu lo sợ sệt.
Giọng nói êm ái, lễ độ tế nhị,
ngọt ngào từ tốn, sắc mặt hiền hòa, dễ
thương dễ mến, nhiếp phục lòng người, hơn là
giọng nói, ồn ồn ào ào, ồm ồm rào rào, chanh
chua khế chát, the thé khó nghe, mặt mày đỏ
ké, khoa tay múa chân. Lời nói hiền từ, hòa
nhã thanh tao, thân thiết thành thật, ngay
thẳng rõ ràng, sáng suốt khôn khéo, cởi mở
vui vẻ, rất là dễ dàng, cảm hóa lòng người,
có thể hướng dẫn, người vào chánh đạo. Trong
sách có câu:
Chim khôn hót tiếng thanh
nhàn.
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.
Khi thực hành hạnh bố thí,
đồng thời, chúng ta nên thực hành ái ngữ.
Nghĩa là: Khi cho vật gì, giúp đỡ việc gì,
chúng ta nên làm, với cả tấm lòng, từ bi
bình đẳng, và dùng lời nói, êm ái dịu dàng,
khuyên nhủ an ủi, khuyến khích động viên.
Chúng ta hiểu rằng: người cho nên cám ơn
người nhận, chứ không mong cầu người nhận
nhớ ơn. Tại sao như vậy? Bởi vì, nhờ có
người nhận, người cho mới có cơ hội làm
phước. Hiểu được như vậy, chúng ta đã thực
hành hạnh bố thí một cách thanh tịnh, bất
cần vụ lợi, bất cầu báo đáp, bất kể ơn nghĩa,
trong kinh sách gọi là "bố thí ba-la-mật".
Trong sách có câu:
Miếng khi đói gói khi no.
Của tuy tơ tóc nghĩa so ngàn trùng.
Ơn nghĩa ngàn trùng đó, chẳng
qua do lời nói ái ngữ, khi đem cho một miếng
vậy. Nói một cách khác, ơn nghĩa tạo được từ
cách đem cho, và, lời nói khi cho, chứ không
phải hoàn toàn do của đem cho. Sách cũng có
câu: "Cách cho hơn của cho", chính là
nghĩa đó vậy.
Bằng như ngược lại, người nào
bố thí với tâm mong cầu sự đền đáp, hay
trông đợi việc báo ơn, hoặc luôn miệng kể lể
chuyện ơn nghĩa đã làm, với nhiều người khác,
người đó chắc chắn sẽ nhận sự phủ phàng từ
kẻ thọ ơn. Và việc làm phước như vậy mất đi
ý nghĩa cao đẹp. Phước báo nếu có, cũng rất
hạn hẹp, như tâm nhỏ hẹp, của người làm ơn.
Người đời mỉa mai, như vậy gọi là: Bố
thí ba la làng, hay: Bố thí la ba làng.
Nghĩa là: người đó bố thí tiền bạc, hay đem
của cải cho người khác, rồi la to lên cho cả
ba làng, làng trên hay xóm dưới, xóm giữa,
đều biết. Nhiều khi không khéo dùng lời nói,
trong khi bố thí, thay vì được nhớ ơn, trái
lại, người cho bị thù oán, mà chẳng hề hay
biết! Trong nhiều trường hợp, việc đó xảy ra,
ngay trong gia đình, giữa những người thân,
ngay cả vợ chồng, cha mẹ con cái, hay anh
chị em!
Thực hành được "ái ngữ" tức
là tăng trưởng tâm Phật, tức là tâm từ bi hỷ
xả. Thực hành được "ái ngữ" tức là dẹp được
tâm ma, như là: tâm tham lam, tâm sân hận,
tâm ganh ghét, tâm đố kỵ, tâm ganh tị, tâm
hiềm khích, tâm tật đố, tâm hơn thua, tâm
ngã mạn, tâm khinh người, tâm khen mình.
Thực hành được "ái ngữ" tức là tu tập theo
hạnh nguyện đại từ đại bi của Ðức Quán Thế
Âm Bồ Tát, tầm thinh cứu khổ chúng sanh.
Chúng sanh thường đau khổ vì những lời nói
của nhau. Cho nên thực hành được "ái ngữ"
tức là đem lại an lạc và hạnh phúc cho mọi
người chung quanh, đem nước cam lồ trong
bình thanh tịnh của Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát,
rưới vào những tâm hồn đang nhiệt não, rót
vào tai những âm thanh êm ái dịu dàng, có
công năng chuyển hóa những con người đang
phiền muộn, những tâm hồn đang phiền não khổ
đau, thành những con người vui tươi, những
tâm hồn an lạc hạnh phúc.
Các bậc cha mẹ, thường dùng
ái ngữ, tử tế dịu dàng, ngọt ngào dễ thương,
để dễ cảm thông, cùng với con cái. Nhưng
cũng đôi khi, cha mẹ phải dùng, những lời
cứng rắn, nghiêm cấm khắt khe, không có bao
che, để mà khuyên dạy, cho con nên người.
Như vậy đó cũng là một dạng khác của ái ngữ,
thực hiện với tâm từ bi của bậc Bồ Tát. Nói
một cách khác, người không có lòng từ bi bác
ái, không thể nào có "ái ngữ" được. Thực
hành được "ái ngữ" tức là dùng lời nói để an
ủi, trấn an những tâm hồn âu lo sợ sệt. Ðó
là hạnh vô úy thí của Bồ Tát Quán Thế Âm.
Muốn được Bồ Tát Quán Thế Âm cứu khổ, trước
tiên chúng ta phải thực hiện theo hạnh
nguyện của Ngài. Chứ không phải chỉ van xin
cầu khẩn mà được toại nguyện đâu! Chúng ta
thích nghe, lời nói thế nào, thì hãy nói ra,
lời nói thế ấy, cho người khác nghe.
|
|