Thoi-Nay - Giai Tri va Doi Song

 

  Trang chính
  Thế giới tâm linh
 

Mục lục

Đời - Đạo

Kinh tụng bằng nhạc

VIDEO

Nhạc

Hoa Đạo Pháp

Mở Trang Hiếu Hạnh (TNT Mặc Giang)

Mùa An Cư Kiết Hạ năm Canh Dần 2010

Nhân Mùa Phật Đản 2634 Phật lịch 2554

His Holiness the Dalai Lama

Câu chuyện cát đá - đạo vào đời

    Thế giới tâm linh - Phụ trách : TN  (last updated: 04/2008)    

LỜI NÓI - Phần 1

[Phần 1][Phần 2][Phần 3][Phần 4]

Cư Sĩ CHÁNH TRỰC

 

Lời nói chẳng mất tiền mua

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.

Tâm buồn chẳng nói lời nào,

Tâm vui lời nói ngọt ngào dễ thương.

Có thương yêu, bao nhiêu cũng được,

Hết thương rồi, nói ngược nói xuôi.

Lời nói dễ mích lòng nhau.

Lời nói chân thật ngọt ngào tình thương.

Có tình thương nói gì cũng dễ.

Hết thương rồi bất kể nói chi.

Nói nhiều tâm khởi sân si.

Bằng như không nói từ bi ai tường.

 

Trong cuộc sống hằng ngày, để có thể hiểu nhau biết nhau, trao đổi tin tức, phổ biến văn hóa, con người dùng ngôn ngữ, tức là: chữ viết và tiếng nói. Ðôi khi, không cùng chữ viết, cũng không cùng tiếng nói, nhưng con người cũng có thể hiểu biết nhau qua dáng điệu, cử chỉ, nét mặt, thái độ, hay giọng nói. Một vấn đề lớn đối với các gia đình người Việt sống ở hải ngoại chính là: Vấn Ðề Ngôn Ngữ. Ðối với thế hệ trước, tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ, cho nên rành rẽ rõ ràng, còn tiếng địa phương thì không thông thạo. Ðối với thế hệ sau, tiếng địa phương thì thông thạo, tuy tiếng Việt cũng là tiếng mẹ đẻ, nhưng nói thì vấp váp, gượng gạo, ngọng nghịu. Tại sao như vậy? Bởi vì thế hệ sau hấp thụ văn hóa Tây phương, tiếp xúc với xã hội bên ngoài nhiều hơn, còn trong gia đình, thế hệ trước muốn tập nói tiếng địa phương với thế hệ sau, cho nên thế hệ trước quên lửng chuyện dạy dỗ tiếng Việt cho thế hệ sau, dù người mẹ đẻ là người Việt. Hai thế hệ nói hai thứ tiếng khác nhau, tiếng Việt và tiếng địa phương, cho nên không thể thông cảm nhau dễ dàng. Chuyện không cảm thông nhau thường đưa tới việc đổ vỡ hạnh phúc gia đình, tức nhiên cuộc sống phiền não khổ đau, không sao tránh khỏi được.

Trong đạo Phật, nếu muốn nói với tâm Phật, tức là tâm từ bi hỷ xả, hay tâm thanh tịnh, thì chúng ta nên nói. Nếu muốn nói với tâm ma, tức là vọng tâm hay ác tâm, thì chúng ta không nên nói. Tại sao như vậy? Bởi vì, khi chúng ta bị tâm ma điều khiển để nói năng, tức là chúng ta đang tạo khẩu nghiệp, để rồi mãi mãi, chính chúng ta bị trôi lăn trong sanh tử luân hồi, khổ đau nhiều kiếp.

Trong giáo lý của đạo Phật, vấn đề lời nói được đề cập đến nhiều nơi: Một là trong Tứ Nhiếp Pháp, đó là: "Ái Ngữ". Hai là trong Bát Chánh Ðạo, đó là: "Chánh Ngữ". Ba là trong Pháp Tứ Y, đó là: "Y Nghĩa Bất Y Ngữ".

Thế nào là "Ái Ngữ"?

Ái ngữ chính là: lời nói dịu dàng, êm ái ngọt ngào, dễ nghe dễ thương, phát xuất từ lòng từ bi hỷ xả, phát xuất từ tâm thanh tịnh, phát xuất từ tấm lòng thương người như thể thương thân. Ái ngữ không phải là lời nói đầu môi chót lưỡi, không phải là lời nói hoa mỹ, không phải là lời nói tâng bốc khách sáo, cốt sao cho đẹp lòng người nghe, một cách không thực, đôi khi hàm chứa dụng ý bên trong. Ái ngữ có tác dụng đem lại an vui, bình yên thanh thản cho người nghe. Ái ngữ có tác dụng an ủi vỗ về những tâm hồn nhiệt não, âu lo sợ sệt.

Giọng nói êm ái, lễ độ tế nhị, ngọt ngào từ tốn, sắc mặt hiền hòa, dễ thương dễ mến, nhiếp phục lòng người, hơn là giọng nói, ồn ồn ào ào, ồm ồm rào rào, chanh chua khế chát, the thé khó nghe, mặt mày đỏ ké, khoa tay múa chân. Lời nói hiền từ, hòa nhã thanh tao, thân thiết thành thật, ngay thẳng rõ ràng, sáng suốt khôn khéo, cởi mở vui vẻ, rất là dễ dàng, cảm hóa lòng người, có thể hướng dẫn, người vào chánh đạo. Trong sách có câu:

Chim khôn hót tiếng thanh nhàn.

Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.

Khi thực hành hạnh bố thí, đồng thời, chúng ta nên thực hành ái ngữ. Nghĩa là: Khi cho vật gì, giúp đỡ việc gì, chúng ta nên làm, với cả tấm lòng, từ bi bình đẳng, và dùng lời nói, êm ái dịu dàng, khuyên nhủ an ủi, khuyến khích động viên. Chúng ta hiểu rằng: người cho nên cám ơn người nhận, chứ không mong cầu người nhận nhớ ơn. Tại sao như vậy? Bởi vì, nhờ có người nhận, người cho mới có cơ hội làm phước. Hiểu được như vậy, chúng ta đã thực hành hạnh bố thí một cách thanh tịnh, bất cần vụ lợi, bất cầu báo đáp, bất kể ơn nghĩa, trong kinh sách gọi là "bố thí ba-la-mật". Trong sách có câu:

Miếng khi đói gói khi no.

Của tuy tơ tóc nghĩa so ngàn trùng.

Ơn nghĩa ngàn trùng đó, chẳng qua do lời nói ái ngữ, khi đem cho một miếng vậy. Nói một cách khác, ơn nghĩa tạo được từ cách đem cho, và, lời nói khi cho, chứ không phải hoàn toàn do của đem cho. Sách cũng có câu: "Cách cho hơn của cho", chính là nghĩa đó vậy.

Bằng như ngược lại, người nào bố thí với tâm mong cầu sự đền đáp, hay trông đợi việc báo ơn, hoặc luôn miệng kể lể chuyện ơn nghĩa đã làm, với nhiều người khác, người đó chắc chắn sẽ nhận sự phủ phàng từ kẻ thọ ơn. Và việc làm phước như vậy mất đi ý nghĩa cao đẹp. Phước báo nếu có, cũng rất hạn hẹp, như tâm nhỏ hẹp, của người làm ơn. Người đời mỉa mai, như vậy gọi là: Bố thí ba la làng, hay: Bố thí la ba làng. Nghĩa là: người đó bố thí tiền bạc, hay đem của cải cho người khác, rồi la to lên cho cả ba làng, làng trên hay xóm dưới, xóm giữa, đều biết. Nhiều khi không khéo dùng lời nói, trong khi bố thí, thay vì được nhớ ơn, trái lại, người cho bị thù oán, mà chẳng hề hay biết! Trong nhiều trường hợp, việc đó xảy ra, ngay trong gia đình, giữa những người thân, ngay cả vợ chồng, cha mẹ con cái, hay anh chị em!

Thực hành được "ái ngữ" tức là tăng trưởng tâm Phật, tức là tâm từ bi hỷ xả. Thực hành được "ái ngữ" tức là dẹp được tâm ma, như là: tâm tham lam, tâm sân hận, tâm ganh ghét, tâm đố kỵ, tâm ganh tị, tâm hiềm khích, tâm tật đố, tâm hơn thua, tâm ngã mạn, tâm khinh người, tâm khen mình. Thực hành được "ái ngữ" tức là tu tập theo hạnh nguyện đại từ đại bi của Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát, tầm thinh cứu khổ chúng sanh. Chúng sanh thường đau khổ vì những lời nói của nhau. Cho nên thực hành được "ái ngữ" tức là đem lại an lạc và hạnh phúc cho mọi người chung quanh, đem nước cam lồ trong bình thanh tịnh của Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát, rưới vào những tâm hồn đang nhiệt não, rót vào tai những âm thanh êm ái dịu dàng, có công năng chuyển hóa những con người đang phiền muộn, những tâm hồn đang phiền não khổ đau, thành những con người vui tươi, những tâm hồn an lạc hạnh phúc.

Các bậc cha mẹ, thường dùng ái ngữ, tử tế dịu dàng, ngọt ngào dễ thương, để dễ cảm thông, cùng với con cái. Nhưng cũng đôi khi, cha mẹ phải dùng, những lời cứng rắn, nghiêm cấm khắt khe, không có bao che, để mà khuyên dạy, cho con nên người. Như vậy đó cũng là một dạng khác của ái ngữ, thực hiện với tâm từ bi của bậc Bồ Tát. Nói một cách khác, người không có lòng từ bi bác ái, không thể nào có "ái ngữ" được. Thực hành được "ái ngữ" tức là dùng lời nói để an ủi, trấn an những tâm hồn âu lo sợ sệt. Ðó là hạnh vô úy thí của Bồ Tát Quán Thế Âm. Muốn được Bồ Tát Quán Thế Âm cứu khổ, trước tiên chúng ta phải thực hiện theo hạnh nguyện của Ngài. Chứ không phải chỉ van xin cầu khẩn mà được toại nguyện đâu! Chúng ta thích nghe, lời nói thế nào, thì hãy nói ra, lời nói thế ấy, cho người khác nghe.

 
 
    Thoi Nay Montreal - Giai Tri va Doi Song

Mục lục

Phật Giáo và Khoa Học

Tông phái : Thiền - Mật - Tịnh

Bước đầu học Phật

Kinh

Luật

Luận

   
 

Copyright © 2011 | TN InfoWay