|
Trong những năm gần đây ngày
càng trở nên rõ ràng rằng chúng
ta đang trãi qua một mức độ rộng
lớn về những vấn đề của môi
trường địa cầu – ô nhiễm chất
độc trong dây chuyền thực phẩm,
sự khai thác nhanh chóng và sự
cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên
và tác động của trái đất ấm lên.
Chúng ta phớt lờ một cách có hệ
thống những giải pháp cho những
khủng hoảng này của trái đất,
trong thiên hướng về sự phát
triển kinh tế cao hơn và sự phát
triển kinh tế nhanh chóng.
Bởi Phật Pháp và trách nhiệm
sinh thái học được định nghĩa là
những khái niệm để phân biệt và
những liên hệ thiêng liêng giữa
con người và môi trường của
chúng. Một cuộc thảo luận như
thế hướng tới làm nổi bật và ảnh
hưởng đến thái độ xã hội, bằng
sự khuyến khích đạo đức và trách
nhiệm phổ quát đối với mọi loài
chúng sinh, và đối với những thế
hệ tương lai. Chúng ta cần khám
phá những phương pháp truyền
thống của Đạo Phật có thể cống
hiến đến sự thực hành tỉnh thức
về môi trường và cung cách sống.
Trong Đạo Phật, chúng ta có
nguyên tắc tương duyên phụ thuộc
– sự liên kết của toàn bộ sự
sống, mạng lưới không thể thoát
mà trong ấy không thứ gì có thể
đổ vấy cho một sự tồn tại riêng
rẻ hay không thay đổi. Chúng ta
đang sống trong một thế giới mà
trong ấy bất cứ hành động nào
ảnh hưởng một phần riêng biệt
của hệ thống, có thể được tiên
đoán sẽ có ảnh hưởng trên toàn
thể những phần khác của cả hệ
thống. Do thế, chúng ta nên tôn
trọng thiên nhiên những sự sống
của các chúng sinh khác. Chính
sự tồn tại của mọi sự sống trên
trái đất này đã bao hàm sự tương
duyên phụ thuộc. Quan điểm rằng
thế giới chỉ thuộc về con người
là ngu ngơ và dại dột. Chúng ta
nên hạn chế thay đổi thiên nhiên
và dòng chảy tuần hoàn của sự
sống.
Trong Đạo Phật chúng ta tin
tưởng trong nguyên tắc vô thường.
Những giáo huấn của Đức Phật là
về sự thay đổi và vô thường của
thế giới tự nhiên. Chúng ta được
dạy để chấp nhận sự dòng chảy
liên tục của sự sống trong sinh
quyển, vòng tuần hoàn của sinh
và chết, sự vô thường của tất cả
mọi loài chúng sinh. Tuy thế,
những xu hướng thiết lập bởi sự
hợp tác toàn cầu đặt căn cứ trên
sự phủ nhận tính vô thường trong
thiên nhiên mà Đức Phật đã quán
chiếu. Bây giờ chúng ta có sự
khai thác ồ ạt tài nguyên thiên
nhiên, sự vận động thương trường
của vật chất di truyền qua kỷ
thuật sinh học và sự sản xuất dư
thừa hàng hóa chỉ đơn thuần để
làm giải khuây cho sự thoãi mái
của con người. Những hiện tượng
này không tương hợp với dòng
chảy tự nhiên của sự sống với
những tiến trình của tự nhiên.
Đúng hơn, họ là những biểu thị
của thế giới quan tìm kiếm sự
thống trị thiên nhiên, và giả vờ
hay có tham vọng rằng sự sống có
thể kiểm soát để thích ứng và
thõa mãn ‘nhu cầu’ của con người.
Nhưng con người có ‘nhu cầu’ vô
tận và vô giới hạn. Một ý nghĩa
chân thật của toại nguyện, trái
lại, có thể được chuyển hóa từ
Phật Pháp.
Phật Pháp khuyến khích chúng ta
hãy từ ái, bi mẫn và bất bạo
động, với chính chúng ta cũng
như với những người khác. Nhiều
người trong chúng ta tránh một
sự thẩm tra chân thật về đời
sống của chúng ta, vì sợ phơi
bày ra sự góp phần của chúng ta
đến những vấn nạn của địa cầu.
Tuy nhiên, khi chúng ta nhận ra
những hành động tập họp vô trách
nhiệm của chúng ta là cội rể của
sự đổ vở sinh thái học phổ quát,
Phật Pháp có thể giúp chúng ta
hợp lý hơn và đúng đắn hơn đối
với môi trường của chúng ta.
Giáo thuyết Phật Pháp khuyến
khích một sự thông hiểu về nhiều
phương pháp phức tạp mà chúng ta
ảnh hưởng đến người khác và môi
trường của chúng ta. Chỉ bằng
việc nhận ra chúng ta là toàn bộ
hệ thống này như thế nào là
chúng ta có thể làm việc một
cách năng động với nhau. Vì thế,
chúng ta có thể thoát ra những
cấu trúc phủ nhận sự sống mà
chúng ta đã từng theo đuổi cho
‘tiện nghi’, và nhân danh sự
‘phát triển.’
Giáo thuyết Đạo Phật về nghiệp
báo là căn cứ trên nhân quả về
hành động của một người. Trong
những hình thức có thể hiểu biết
giản dị, nếu chúng ta khăng
khăng với sự tàn phá môi trường,
chúng ta sẽ làm cho thế giới này
một nơi để sống vô cùng tệ hại
hơn bao giờ hết. Chúng ta sẽ để
lại cho những thế hệ tương lai,
một di sản của những hành vi vô
trách nhiệm của con người. Chúng
ta cần thấu hiểu những sự liên
kết này và tập trung trên những
nguyên nhân nền tảng nhằm để
khắc phục khủng hoảng môi trường
một cách có hiệu quả. Như trong
quá khứ, Phật Pháp có thể đóng
một vai trò nồng cốt trong sự
gieo những hạt giống tỉnh thức
và trách
Gyana Vajra Rinpoche sinh năm
1979 tại Dehradun, U.A, Ấn Độ.
Ông là con trai thứ hai của
Kyabje Sakya Trizin, thủ tọa
trường phái Sakya của Phật giáo
Tây Tạng. Khi là một cậu bé, ông
đã học tập nhiều kinh luận Phật
Pháp cổ điển dưới sự giáo thọ
của Lạt Ma Rinchen Zangpo. Ông
đã học tất cả những nghi thức và
cầu nguyện trong vài năm và sau
đấy học triết lý Phật giáo chiều
sâu trong năm năm. Ông đã tiếp
nhận vô số lễ khai tâm và những
giáo huấn đặc biệt trong nhiều
thập niên rèn luyện nghiêm khắc
với Kyabje Sakya Trizin, Đức Đạt
Lai Lạt Ma, Chogye Trichen
Rinpoche, Luding Khen Rinpoche,
và Khenchen Appey Rinpoche. Ông
đã thiết lập Học viện Sakya để
bảo tồn và phổ biến những giáo
huấn của Đức Phật và những cống
hiến đặc thù của những đạo sư
dòng Sakya. Chương trình cho
phép những tu sĩ trẻ học hỏi
những môn học phổ thông, cung
cấp cho họ một nền giáo dục hiện
đại liên hệ với thế giới bên
ngoài, và bảo đảm sự rèn luyện
Phật Pháp thích ứng một cách
hoàn toàn.
--***--
Dharma & Ecological
Responsibility
http://www.ecobuddhism.org/index.php/wisdom
/interviews/khondung_gyana/
Tác giả: Khondung Gyana Vajra
Rinpoche
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
|