| |
Người
phụ nữ VN bước về nẻo Phật như thế nào vẫn
là một thắc mắc lớn của tôi. Câu hỏi nảy
sinh khi tôi đến viếng các tu viện, thiền
đường hay tham dự các buổi Pháp Thoại ở
nhiều nơi mà điều đầu tiên tôi nhận ra là số
phụ nữ hiện diện rất đông, vượt trội nam
giới. Họ còn dẫn con cái theo cùng để học
đạo. Trọng tâm của đạo Phật là giúp con
người thấy bản chất chân thật của cuộc đời
cùng những phương cách tu thân dưỡng tính để
chứng nghiệm sự giải thoát toàn diện khổ
não(universal human sufferings) và mưu cầu
hạnh phúc an lạc cho chính mình và mọi
người. Không lẽ phụ nữ là một sinh vật có
nhiều bất ổn tâm linh, chịu nhiều áp bức,
đớn đau, thống khổ nhất trong các sinh vật
nên họ có duyên với Phật?
Hay là
chúng ta thử tìm hiểu xem người phụ nữ VN
đến gần tòa sen trong các trường hợp nào?
• Theo
truyền thống gia đình
Tuy
Việt Nam ảnh hưởng “ Tam Giáo Đồng Nguyên”
nhưng tinh thần và văn hóa Phật Giáo đã ăn
sâu vào lối sống suy tư và đã trở khuôn mẫu
đạo đức của người Việt chúng ta trước khi
các chủ thuyết hay bất cứ một đạo giáo nào
du nhập. Đối với những gia đình lấy đạo đức
Phật giáo làm gốc thì người phụ nữ tiếp xúc
với đạo Phật qua nền tảng truyền thống của
gia đình. Khi tôi phỏng vấn một số nữ Phật
Tử đã dự các buổi Pháp Thoại, phần lớn những
câu trả lời nhận được nằm trong trường hợp
này. Họ nói, họ đi chùa, học đạo vì gia đình
theo đạo, cha mẹ dẫn họ đi từ nhỏ hoặc lớn
lên theo chồng, cha mẹ chồng hoặc người thân
hay bạn bè rủ rê mà tìm đến đạo
Người
nữ đến với đạo Phật, học đạo, tụng kinh,
tuân thủ những giới luật căn bản của đạo
Phật (như ngũ giới nếu đã quy y) như một
thói quen nề nếp. Nếu có tinh thần mộ đạo
cao, người này có thể chuyển từ giai đoạn
Phật Tử tại gia qua xuất gia, đến tu ở chùa
cho được thanh tịnh.
• Đạo
như một nhu cầu tâm linh: tầm đạo, hiểu đạo,
mộ đạo
Có
những người lúc nào cũng băn khoăn, thao
thức, trăn trở về ý nghĩa của cuộc sống. Họ
là những người cầu đạo, tìm đạo, tìm chân lý
cho cuộc sống, trong số đó cũng có những
người đã từng là tín đồ các tôn giáo khác
ngay cả các vị nữ tu. Phật Đạo giúp họ
chuyển hướng qua một đời sống tỉnh thức đầy
sáng tạo và cuối đường là sự giải thoát,
giác ngộ.
Một nữ
Phật Tử khi hỏi nhân duyên nào đưa chị tới
với đạo Phật, chị trả lời:
Từ nhỏ
tôi đã có một câu hỏi trong đầu “Con người
khi chết sẽ đi về đâu?”. Và khi lớn, để tìm
câu trả lời tôi đã đọc rất nhiều sách, từ
các sách về thế giới siêu hình cho tới các
sách về tôn giáo. Một hôm, tình cờ tôi được
đọc “Đường xưa mây trắng” của thầy Nhất Hạnh”.
Tôi bắt gặp nhiều điều trong đó trả lời được
thắc mắc của tôi. Tôi đọc đi đọc lại nhiều
lần và sau đó tôi bắt đầu tìm đến đạo Phật
dù tôi là người theo đạo Tin Lành.
Một
chị khác tâm sự:
Bản
chất tôi là người đa nghi. Vì thế nên tôi
không dễ tin, nhất là các tín điều. Tôi là
người Công Giáo(chị vừa nói vừa kéo mặt
thánh giá đeo trước ngực dấu ra sau lưng như
một hành động phạm tội) nhưng vì không tin
nên tôi cất công đi tìm hiểu các tôn giáo
khác. Tôi cầu đạo và đến với đạo Phật 12 năm
nay và tìm được giáo lý Phật giáo giúp ích
cho đời sống tinh thần của tôi vì đạo Phật
là một triết lý sống rất thực tiễn, một khoa
tâm lý học nghiên cứu sâu sắc về bản ngã con
người, giúp con người khắc phục được chính
mình để mưu cầu hạnh phúc, an lạc.
Một cô
kể lại:
Em
theo Tin Lành, từ trước tới giờ em không tin
những gì gọi là mê tín dị đoan. Nhưng bỗng
dưng từ hôm mẹ em mất, em thấy mẹ hoá thân
thành một con bướm và em biết đó là mẹ em
nên em bắt đầu tìm đến đạo Phật cho một giải
đáp của luân hồi hay một thế giới thứ ba.
• Có
ước muốn trở thành một phật tử.
Trong
trường hợp này người nữ thực sự thực hành
những pháp môn. Trong đạo Phật có tới tám
vạn bốn ngàn pháp môn. Có những người thực
hành các pháp môn khác nhau tùy căn cơ,
trình độ, giai cấp mà họ tự chọn lấy hay
những vị thầy của họ chọn cho họ. Tuy nhiên
khi chưa thọ Tam Quy, Ngũ Giới thì chưa phải
là người Phật Tử chân chính vì theo định
nghĩa của nhà Phật một người thọ Tam Quy,
Ngũ Giới mới thực sự theo chân Phật và trở
thành một Phật tử chân chính.
•
Giòng Tiếp Hiện
Đây là
một hình thức tu học mới trong đó những cư
sĩ tại gia vừa tìm thấy được pháp môn tu học
thích hợp vừa có cơ hội đem tài năng và chí
nguyện của mình để phụng sự cho lý tưởng từ
bi mà không cần xuống tóc trở thành một tu
sĩ. Giòng Tiếp Hiện do Thiền Sư Nhất Hạnh
sáng lập năm 1965 tại Việt Nam được Hoà
Thượng Thích Tâm Châu của Giáo Hội Phật Giáo
VN Thống Nhất chấp nhận. Hiện nay, ở hải
ngoại, Giòng Tiếp Hiện vì đáp ứng được nhu
cầu của nhiều người, nhất là các thanh niên
trí thức có cả các sinh viên ngoại quốc, nên
đã phát triển đông đảo với hàng ngàn cư sĩ
tại gia thuộc đủ mọi sắc tộc. Phụ nữ hải
ngoại thọ giới Tiếp Hiện rất nhiều vì có
những phụ nữ bận việc gia đình, nhà lại xa,
không thể lái xe, không đến chùa tu tập được
nên giòng này rất thích hợp với họ. Tiếp là
tiếp xúc và tiếp nối. Hiện là thể hiện ra
trong hiện tại. Tiếp xúc với thực tại, với
ngoại cảnh và thể hiện, chuyển hoá sự an
vui, hiểu biết, thương yêu thành sự sống cụ
thể. Người thọ giới này ngoài ngũ giới phải
thọ thêm Bồ Tát Giới, cộng chung là 14 giới.
• Xuất
gia
Giai
đoạn này người nữ thực sự bước hẳn vào đạo,
xuống tóc, xuất gia để trở thành một tỳ kheo
ni hay một nữ tu. Ước nguyện xuất gia có khi
là một ấp ủ từ lâu mãi đến khi gặp cơ hội
mới thực hiện được như một ni sư khi phỏng
vấn cô nói: Sau ngày giải phóng, chồng mất
tôi phải một mình nuôi bảy đứa con, khổ quá,
nhờ có đạo Phật giúp tôi thoát khổ và tôi
nguyện lúc các con khôn lớn nên người tôi sẽ
xuất gia. Giờ các con đã thành nhân, cũng là
lúc tôi về với Phật.
Ngoài
việc tu thân các sư cô còn phải trì giới tức
là tuân giữ các giới luật dành riêng cho ni
giới. Có những phụ nữ ấp ủ trong tâm một lý
tưởng đi tu để cứu giúp người khác, mục đích
này còn gọi là độ tha. Tôi được dịp nói
chuyện với một vài vị tỳ kheo ni trẻ và biết
được ý hướng giúp đời, giúp người rất cao
đẹp của họ. Họ đến từ thành phần có học, có
địa vị cao trong xã hội như Bác Sĩ, Kỹ Sư,
Luật Sư ... v.v.. đã từ bỏ đời sống vật chất
sung túc, chức vị trọng vọng để vào tu viện
trước là tu thân(tự độ) sau là giúp người(độ
tha).
Hiện
nay trong nước vì vấn đề khác biệt chánh
kiến và ý thức hệ nên Phật giáo không thể
phát triển đồng thời tự do tôn giáo bị cấm
đoán do đó tôi không thể tìm được tài liệu
hay thống kê nào rõ rệt về con số nữ phật tử
tại gia, xuất gia hay có ý xuất gia.
Ở
ngoài nước, riêng ở Hoa Kỳ, theo tôi biết so
với thời điểm những năm đầu tỵ nạn, số phụ
nữ mộ đạo và theo đạo và xuất gia tăng lên
rất nhiều tỷ lệ thuận với số tu viện, chùa
chiền gia tăng. Bạn có thể mở mục lục của
cuốn điện thoại niên giám địa phương, sẽ
nhanh chóng tìm ra điều này. Trên hai trăm
tu viện có mặt ở Mỹ, số tu viện có người trụ
trì là phái nữ chiếm 38 vị. Riêng Âu châu và
các nơi trên thế giới không kể Việt Nam có
khoảng một trăm ngôi chùa thì 30 chùa có vị
trụ trì là Tỳ kheo ni. Tỷ như: trụ trì Ni sư
Thích Nữ Như Ngọc-Chùa A Di Đà(Nam Cali), Ni
sư Thích Nữ Nguyên Thanh-Chùa An Lạc(Bắc
Cali), Ni sư Thích Nữ Diệu Từ- Chùa Diệu
Quang (Bắc Cali), Ni Sư Thích Nữ Chân
Như-ChùaChân Như (Colorado), Ni Sư Thích Nữ
Minh Phước-Chùa Phật Bửu(Nam Cali), Ni Sư
Như Phương- Chùa Phổ Minh(Bắc Cali), Ni sư
Thích Nữ Như Trí-Chùa Phổ Quang(Nam Cali),
Ni Sư Thích Nữ Chân Phước-Chùa Quan Âm(Nam
Cali).. v.v...
• Tới
với đạo vì cần một chỗ tựa
Người
phụ nữ sinh ra trời phú cho một bản chất
nhiều ưu điểm như nhu mì, dịu dàng, hiền
thục, sức chịu đựng dẻo dai, chuộng hòa khí.
Bên cạnh những ưu điểm họ cũng có nhiều
khuyết điểm như nhạy cảm, dễ xúc động, dễ
động lòng thương hay mau hờn giận, phẫn nộ,
đố kỵ, ghen ghét...v..v...Những ưu và khuyết
điểm này ngẫu nhiên cấu thành một thể chất
đầy cảm tính mà người ta thường gọi là yếu
đuối. Phái nữ không những bị xem là yếu đuối
phần tinh thần mà phần cấu trúc vật lý cũng
vậy. Hệ thần kinh yếu và mong manh nên dễ
mất bình tĩnh và thiếu sự xử sự sáng suốt
nếu gặp trường hợp quẫn bách, khó khăn, cùng
khổ, người phụ nữ không đủ sức đối đầu và
đảm đương.
Người
phụ nữ VN từ ngàn xưa chịu ảnh hưởng nền văn
hóa Khổng, Mạnh đã thừa hưởng đức tính phục
tòng(tam tòng, tứ đức) ăn sâu vào đầu óc nên
trở thành thụ động. Khi gặp tai biến thiếu
khả năng chống đỡ, họ phản ứng lại bằng cách
tựa vào một sức mạnh nào đó hoặc cần một trợ
lực tinh thần trong cơn phong ba bão táp.
Khi bị phụ bạc, ruồng rẫy, thất tình, khủng
hoảng tinh thần người phụ nữ thường tìm đến
nương nhờ cửa Phật. Đạo Phật đến với người
phụ nữ như một cứu tinh, một giải thoát
nhiệm màu.
Do đó
hễ thấy bất cứ một sư cô nào thấp thoáng ở
thiền môn người ta lại thầm nghĩ “chắc thất
tình đi tu” hoặc “chắc chán đời nên đi tu”.
Sự phỏng đoán này ngẫu nhiên biến thành lý
do chính trong việc “đi “tu” của người phụ
nữ VN hoặc đây là lý do chiếm đa số trong
các lý do khiến người phụ nữ bước về nẻo đạo.
Nếp nghĩ truyền thống này làm sai lạc hoặc
mất đi ý nghĩa cao đẹp của những phụ nữ tìm
đến đạo Phật bằng trí thông tuệ của sự hiểu
đạo, cảm đạo và mến đạo. Tôi đã từng ghé
thăm tu viện Lộc Uyển của thiền sư Nhất Hạnh,
(một chi nhánh của Làng Mai bên Pháp) và
thấy được rất nhiều sư cô cũng như nhiều
thiếu nữ VN cũng như ngoại quốc trẻ đến tu
học và thọ giới. Có điều tôi biết chắc là họ
tìm đến đạo vì ham học đạo, thán phục phương
pháp thiền định và mến mộ Đức Phật người chỉ
lối cho họ vào con đường hạnh phúc, an lạc,
chứ không phải vì thất tình đi tu. Tuy nhiên,
người đến với đạo vì bất cứ mục đích nào đi
trốn hay đi tìm, tiêu cực hay tích cực, cửa
chùa lúc nào cũng rộng mở bất kể nam, nữ,
nghèo, giàu, màu da, tôn giáo.
Đi sâu
vào văn hóa dân gian, ta thấy truyện tình
“Lan và Điệp” là một thí dụ điển hình cho sự
phỏng đoán trên. Sau khi nghe tin Điệp lấy
vợ, nhân vật nữ tên Lan đau đớn vì bị phụ
tình, bỏ vào chùa tu. Khi hay tin này, Điệp
tìm vào thăm. Sư cô Lan đã can đảm cắt đứt
dây chuông như cắt đứt quá khứ, cắt đứt chữ
si, hay đoạn tuyệt mối tình để yên tâm mà
rảnh dạ tu hành.
Trong
kho tàng văn học nước ta, một Thúy Kiều
thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần minh
chứng người nữ bước vào đạo như một giải
thoát những khổ lụy vì tình. Chúng ta hầu
như ai cũng đã đọc Truyện Kiều, không ai
không biết đến“cái ghen Hoạn Thư”. Cái ghen
mà Nguyễn Du mô tả khéo léo trong thơ ông,
ghen hay đến nỗi tình địch là Thúy Kiều có
miệng mà nói không nên lời, chết không được,
sống cũng không xong và cuối cùng nàng chỉ
còn một con đường giải thoát cuối cùng là
trốn ra Quan Âm Các để “nhồi tâm hương” là
xin Hoạn Thư cho nàng đi tu. Nguyễn Du đã để
Hoạn Thư mở cho Thúy Kiều một lối thoát của
khổ hạnh.
“Tam
quy, ngũ giới cho nàng xuất gia”
Thúy
Kiều lo việc chuông mõ, chép kinh, nhồi tâm
hương tức là tô bồi năm phấn hương của pháp
thân.
“Phật
tiền thảm lấp sầu vùi
Ngày
phô thủ tự, đêm nhồi tâm hương
Cho
hay giọt nước cành dương
Lửa
lòng rưới tắt mọi đường trần duyên”
Số
phận chìm nổi của Kiều lại đưa nàng về nẻo
Phật lần thứ hai khi nàng xui Từ Hải về hàng
và bị Hồ Tôn Hiến đánh lừa gả cho Thổ Quan.
Kiều đã dứt nghiệp khi trầm mình ở sông Tiền
Đường và được Giác Duyên vớt lên để bắt đầu
một nghiệp khác ở Chiêu Âm Am với sư Giác
Duyên:
“Sớm
khuya lá bối phiến mây
Ngọn
đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương”
Chú
tiểu Lan, ni cô Trạc Tuyền hay bất cứ phụ nữ
nào một khi đã quyết tâm xuống tóc xuất gia
đều phải dọn lòng để bước vào con đường tu
tập đầy chông gai thử thách. Con đường tu
đạo, tứ đại giai không, thắng được chính
mình không phải là một con đường hoa bướm dễ
đi, ai cũng có thể đến được bến bờ an lạc.
Đối với những người có tâm tìm đạo, việc
tuân giữ các giới luật đã khó khăn khôn xiết,
người đến với Pháp bằng con đường tựa đạo mà
đi, sự việc còn gian nan thập phần. Nếu là
xuất gia, thì tùy theo trình độ tu học, xuất
gia lâu năm hay mới xuất gia mà phân biệt.
Có 10 giới, dành cho người mới xuất gia (Sa
Di và Sa Di Ni). 250 giới dành cho các bậc
Tỳ Kheo đã xuất gia lâu năm, tối thiểu trên
10 năm và có trình độ thọ giới đầy đủ. 348
giới dành cho các bậc Tỳ Kheo Ni, tức nữ tu
sĩ, xuất gia lâu năm. Ngoài ra còn có 48
giới Khinh và 10 giới Trọng dành cho các bậc
thọ Bồ Tát Giới, xuất gia hay tại gia. Ở
Làng Mai hay Tu Viện Lộc Uyển của Thầy Nhất
Hạnh còn có 14 giới dành cho các Phật tử đã
quy y và đang chuẩn bị bước vào con đường
xuất gia gọi là giới Tiếp Hiện.
Người
phụ nữ VN ở hải ngoại ngày nay phải đương
đầu với bao sự thay đổi từ việc chuyển đổi
ngôn ngữ, địa vị, văn hoá, nếp sống cho đến
môi trường xã hội. Sự đáp ứng của người nữ
nhanh, nhạy hơn người nam nhưng khi vấp phải
đau thương người nữ ngã đau hơn người nam.
Gần đây tỷ lệ ly hôn của nhiều gia đình VN
tăng cao, người nữ sống độc thân ngày càng
nhiều.
Sự
chán nản, đau khổ cũng như ngán ngẩm nhân
tình thế thái càng khiến người phụ nữ tìm
đến đạo như tìm sự an lạc, giải thoát cho
tâm hồn ngày càng đông. Đạo đến với giới trẻ
như một câu trả lời cho những ước ao tìm
chân lý sống, những thao thức trong câu hỏi
về đời sống tâm linh và ước nguyện lý tưởng
giúp đời, cứu người. Người lớn tuổi trở về
nẻo đạo mưu cầu sự thanh thản, hạnh phúc,
thong dong, bình yên trong cuộc sống vật
chất nhiều giả dối, xô bồ, xáo trộn và đầy
áp lực. Hầu như tất cả các nguyên nhân gây
ra khổ đau cho đời sống tâm linh con người
đều là nguyên nhân đưa con người tìm về nẻo
Phật. Người phụ nữ là hoa, khi hoa tìm về
nẻo Phật là hoa đi tìm những giọt nước, giọt
sương mai tưới tắm cho cánh mềm tươi thắm,
cho đài bung nhụy ngát hương và trên dung
nhan ngày lúc nào cũng rạng rỡ nở một đoá
môi cười.
Trịnh
Thanh Thủy
Tài
liệu tham khảo
- Phụ nữ trong đạo Phật- Ni sư
Thích Nữ Như Thủy-www.thuvienhoasen.org
- Giới luật- Thư Viện Hoa Sen
http://www.thuvienhoasen.org/index-gioiluat.htm
- Giới Tiếp Hiện chú giải của Nhất
Hạnh |
|