|
Giới Thiệu Tổng Quát
1 – Bốn chân lý trong ngôn ngữ
hằng ngày
2 – Nghiệp báo đối diện với nhân
quả hành trạng
3 – Một vài hệ thống giải thích
nghiệp báo
4 – Nghiệp báo như một nhân tố
tinh thần của một sự thôi thúc
5 – Những ảnh hưởng của thái độ
nghiệp báo
6 – Hạnh phúc và bất hạnh
7 – Thái độ xây dựng và tàn phá
8 – Thuyết quyết định hay tự do
ý chí
9 - Mê muội về nguồn gốc của
nghiệp báo
10 – Giải thoát sự mê muội của
chúng ta
11 – Những lời kết luận
12 - Hỏi & đáp
--***--
1 – BỐN CHÂN LÝ CAO QUÝ TRONG
NGÔN NGỮ HẰNG NGÀY
Chúng tôi rất vui mừng hiện diện
nơi đây một lần nữa tại Xalapa,
và chủ đề mà tôi đã từng được
yêu cầu để nói tối nay là nghiệp
báo. Dĩ nhiên, khi chúng ta
nghiên cứu về một chủ đề nào đấy
trong Phật giáo, điều quan trọng
để có một ý tưởng nào đấy về
việc tại sao chúng ta muốn tìm
hiểu về nó, điều quan trọng của
nó là gì, và tại sao nó phù hợp
trong toàn bộ phạm vi của Phật
giáo. Một cách căn bản Đức Phật
nói về kinh nghiệm của mỗi người,
những điều chúng ta kinh nghiệm
trong đời sống, những gì sẽ xãy
ra. Nền tảng căn bản quan trọng
nhất của điều mà tất cả chúng ta
kinh nghiệm, mọi người kinh
nghiệm là gì? Đôi khi chúng ta
buồn rầu, và thỉnh thoảng chúng
ta vui vẻ. Đây là cung cách mà
kinh nghiệm chúng ta trãi qua
trong đời sống của chúng ta, có
phải không?
Khi chúng ta thẩm tra hoàn cảnh
đôi khi buồn rầu, và thỉnh
thoảng vui vẻ, chúng ta khám phá
ra rằng có nhiều vấn đề liên hệ
với điều ấy. Khi chúng ta không
vui, rõ ràng, đó là khổ não.
Không ai thích u sầu, có phải
thế không? Chúng ta có thể không
vui trong việc nhìn thấy mọi
việc, giống như một người bạn đi
xa, hay nghe về những việc,
những ngôn ngữ khó chịu, và
chúng ta cũng có thể không vui
khi nghĩ về nhiều việc khác nhau
với nhiều loại cảm xúc khác nhau.
Nhưng thỉnh thoảng chúng ta cảm
thấy không vui và dường như
không có bất cứ một liên hệ với
bất cứ những gì chúng ta thật sự
nghe và thấy, hay những gì đang
xãy ra chung quanh chúng ta. Đây
là một vấn đề, có phải không?
Nhưng về niềm vui thì thế nào?
Đôi khi chúng ta cảm thấy vui vẻ,
có phải không? Chúng ta cảm thấy
vui nghĩ về điều gì đấy, như nhớ
lại một thời điểm tuyệt vời mà
chúng ta có với ai đấy. Nhưng
khi chúng ta nhìn sâu xa hơn,
chúng ta thấy rằng niềm vui này
mà chúng ta trãi qua có một vài
vấn đề liên hệ với nó. Trước
tiên nhất, nó không bao giờ kéo
dài, và chúng ta không biết nó
sẽ kéo dài bao lâu. Và dường như
nó chẳng bao giờ đủ. Chúng ta có
thể vui khi ăn một muỗng thức ăn,
nhưng điều ấy không đủ - chúng
ta muốn ăn thêm và thêm và ăn
thêm nữa. Thật sự, đấy là một
câu hỏi rất thú vị - khối lượng
là bao nhiêu của vật gì đấy mà
chúng ta phải ăn nhằm đề thật sự
hưởng thụ một cách thích thú với
nó? Hãy nghĩ về điều ấy là vấn
đề đầu tiên. Một điều sai lầm
khác, một thoáng khác của niềm
vui này là chúng ta không biết
điều gì sẽ xãy ra tiếp theo.
Chúng ta có thể tiếp tục vui
trong giây phút tiếp theo, hay
chúng ta có thể buồn. Nó có thể
thay đổi, vì thế không có gì bảo
đảm trong niềm vui này.
Thật sự đối với Phật giáo loại
quán chiếu hay phân tích này vào
trong niềm vui và nổi buồn không
phải là điều gì đặc biệt; nhiều
đại tư tưởng gia trên thế giới
đã từng quán chiếu điều này và
giảng dạy về điều này. Nhưng
những gì Đức Phật dạy, những gì
Đức Phật thấu hiểu là sâu xa hơn
về vấn đề này hay khổ đau. Ngài
nhìn một cách sâu sắc hơn vào sự
thăng trầm trong hoàn cảnh đời
sống của mỗi người, và những gì
Ngài thấu hiểu là nguyên nhân
cho niềm vui ấy thật sự là bộ
phận của mỗi thời khắc mà kinh
nghiệm của chúng ta trãi qua.
Nói cách khác, cung cách mà
chúng ta kinh nghiệm mọi việc
với sự lên và xuống của vui và
buồn không ngừng đấy là hoàn
cảnh không hài lòng.
Thế nên, sau đó, Đức Phật nhìn
và thấy nguyên nhân nào ở tại
đấy trong mỗi thời khắc và điều
gì tiếp diễn liên tục trong hoàn
cảnh không hài lòng này, và Ngài
thấy rằng nó là sự mê mờ về thực
tại, sự rối rắm về hiện thực,
hay sự bất giác về hoàn cảnh.
Nói cách khác, mê mờ về việc
chúng ta hiện hữu như thế nào,
mỗi người chung quanh chúng ta
tồn tại như thế nào, về thế giới
hiển hiện như thế nào.
Điều này là hoàn toàn khác biệt
với những gì nhiều người khác đã
từng nói. Thí dụ, một số những
người khác đã từng nói, sự lên
và xuống của vui và buồn mà kinh
nghiệm chúng ta trãi qua một
cách căn bản do bởi tưởng thưởng
và trừng phạt: từ việc tuân thủ
luật pháp hay từ việc không tuân
theo luật lệ. Vấn đề căn bản cho
việc cảm thấy vui vẻ hay buồn
rầu là ‘vâng lời’, theo ý kiến
của nhiều vị thầy. Nhưng Đức
Phật nói rằng: không, không phải
trường hợp ấy. Nguyên nhân thật
sự của sự mê mờ của chúng ta,
không là vấn đề của vâng lời hay
không vâng lời; nó là sự biểu
hiện mê mờ về đời sống. Sau đó,
Đức Phật tiếp tục nói rằng sự mê
mờ rối rắm ấy không nhất thiết
là toàn bộ sự sống, của việc
chúng ta nếm mùi hay kinh nghiệm
mọi việc như thế nào. Nó không
phải ở đó: nó là điều gì đấy mà
có thể di chuyển được, và nó có
thể cởi bỏ được một cách hoàn
toàn, để nó không bao giờ trở
lại. Rồi thì Ngài nói rằng cách
thật sự để làm thế là hãy thay
đổi cung cách kinh nghiệm mọi
thứ của chúng ta.
Từ bỏ sự mê mờ ấy không phải là
vấn đề yêu cầu người nào khác để
tháo bỏ nó cho chúng ta, nhưng
một cách căn bản đấy là vân đề
thay đổi chính thái độ của chúng
ta, sự thấu hiểu của chúng ta về
thực tại. Nếu chúng ta có thể
thay thế sự không hiểu biết với
sự thông hiểu và sau đó sở hữu
sự thông hiểu này trong mọi lúc,
rồi thì chúng ta khám phá ra
rằng chúng ta không có sự lên và
xuống liên tục của vui và buồn
này, và chúng ta không ghi nhớ
mãi sự lên và xuống của vui và
buồn. Vì thế, đấy là một giáo
huấn vô cùng căn bản của Đức
Phật, đặt nó vào trong chính
ngôn ngữ hằng ngày.
2 – NGHIỆP BÁO ĐỐI DIỆN VỚI NHÂN
QUẢ HÀNH TRẠNG
Khi chúng ta nói về nghiệp báo,
nghiệp báo là giải thích căn bản
của việc làm thế nào và tại sao
những kinh nghiệm của vui và
buồn của chúng ta lên và xuống –
đấy là tất cả về nghiệp báo. Nói
cách khác, chúng ta rối rắm hay
mê mờ về việc sản sinh sự thăng
trẩm vui buồn,kinh nghiệm dễ
chịu và khó chịu như thế nào ?
Nói cách khác, nó đối diện với
nhân và quả, và nhân quả là một
chủ đề vô cùng phức tạp. Như Đức
Phật đã nói, một chậu nước không
đổ đầy bởi giọt nước đầu tiên và
nó cũng không phải được rót đầy
bởi giọt nước cuối cùng; mà nó
được làm đầy bởi sự tích lũy
toàn bộ những giọt nước. Tương
tự thế, những gì chúng ta kinh
nghiệm trong đời sống là kết quả
của không chỉ một nguyên nhân –
nguyên nhân chỉ là một thứ mà
chúng ta chỉ mới làm ngay lập
tưc trước hiện tại hay những gì
chúng ta đã làm hàng niên kỷ về
trước. Nó là kết quả của một
khối lượng khổng lồ của những
nhân tố nguyên nhân và những
điều kiện (nhân duyên).
Điều này hoàn toàn phù hợp với
quan điểm của khoa học, bởi vì
những gì đang nói là những sự
kiện không xãy ra trong cô lập,
mà thật sự mọi thứ liên kết với
nhau. Chỉ dùng một thí dụ rất
đơn giản, tất cả chúng ta không
thể hiện diện nơi đây trong
phòng này để nghe bài thuyết
trình này nếu người Tây Ban Nha
đã không đến Mỹ châu, có phải
thế không? Đó chỉ là một nguyên
nhân để chúng ta hiện diện ở đây.
Giống như thế, có rất nhiều
nguyên nhân khác nhau, trực tiếp
và gián tiếp, chúng cống hiến
đến điều mà chúng ta kinh nghiệm
ngay bây giờ hay bất cứ thời
khắc nào.
Tuy nhiên, nghiệp báo đang giải
thích những nguyên nhân liên hệ
một cách đặc biệt với tâm thức
của chính chúng ta. Nhưng có
nhiều nguyên nhân cung ứng đến
những gì chúng ta kinh nghiệm
hay trãi qua – nguyên nhân vật
lý, thí dụ, thời tiết, và v.v…
Nhiều thứ tác động chúng ta đang
đến không chỉ từ tâm thức chính
chúng ta, mà cũng từ tâm thức
của những người khác. Hãy nói về
những chính trị gia, những người
quyết định những chính sách khác
nhau mà chúng tác dộng đến chúng
ta, và những điều ấy cũng có thể
bị pha lẫn với sự mê mờ rối rắm
nào đấy, có phải không?
Nghiệp báo không nói về niềm tin
hay tín ngưỡng, nó không nói về
định mệnh hay tiền định và những
thứ như thế, mà đúng hơn nó nói
về việc chúng ta kinh nghiệm mọi
thứ như thế nào và thái độ chúng
ta tác động như thế nào đến
những gì chúng ta kinh nghiệm
trong đời sống. Từ ngữ ‘karma’
hay ‘nghiệp báo’ hay nghiệp
quả’được dùng trong một ý nghĩa
rất phổ biến để liên hệ đến mọi
thứ liên hệ ở đây trong thuật
ngữ “nhân quả hành trạng’, (nhân
thế nào sẽ cho ra quả thế nào);
nói cách khác, sự liên hệ nhân
quả đến từ thái độ và cung cách
cư xử của chúng ta. “Nghiệp báo”
có thể đang liên hệ đến toàn bộ
chủ đề ‘nhân quả hành trạng’
trong tổng quát, hay nó có thể
liên hệ một cách rất đặc biệt
đến một khía cạnh của toàn bộ
tiến trình ấy. Do vậy, nếu chúng
ta muốn thấu hiểu cơ chế của
nghiệp báo, chúng ta phải nhìn
vào nó với một ít chính xác hơn,
trong một chi tiết nào đấy.
3 – MỘT VÀI HỆ THỐNG GIẢI THÍCH
NGHIỆP BÁO
Khi chúng ta bắt đầu nhìn vào
những giải thích chính xác hơn
trong Phật giáo, chúng ta khám
phá một cách rất nhanh chóng
rằng không phải chỉ có một giải
thích. Một có người Tây phương
thấy điều ấy hơi không thoãi mái.
Như nếu chúng ta có một rắc rối
hay một hoàn cảnh, chúng ta có
thể giải thích trong một vài
cách khác nhau, tùy theo quan
điểm của chúng ta. Ở phương Tây
chúng ta làm như thế, chúng ta
có thể giải thích những việc từ
quan điểm xã hội, từ quan niệm
tâm lý, từ khái niệm kinh tế -
điều ấy không có gì ngạc nhiên.
Những sự giải thích đa dạng giúp
chúng ta thấu hiểu trong một
cung cách đầy đủ những gì đang
tiếp diễn. Và mỗi cách giải
thích về những gì đang diễn ra
căn cứ trên một hệ thống nào đấy
của tư tưởng – hệ thống của tâm
lý học, hệ thống của chính trị
học, kinh tế học và v.v… Chúng
ta có đôi điều tương tự ở đây
trong Phật giáo, và vì thế chúng
thấy rằng có vài giải thích từ
những hệ thống giáo lý triết học
khác nhau về vấn đề nghiệp báo
hoạt động như thế nào. Chúng ta
cũng có điều ấy ở phương Tây
ngay cả trong một hệ thống, như
tâm lý học – có thể có có một sự
giải thích từ quan điểm của phái
Freudian, và sự giải thích theo
quan niệm của phái Jungian; một
người có thể giải thích mọi việc
theo lối xã hội chủ nghĩa, hay
trong cung cách tư bản. Chúng ta
thấy điều ấy trong Phật giáo, và
nó rất hữu ích, thật sự, hãy
nhìn vào một vài hệ thống này,
do vì chúng cho chúng ta những
sự thấu hiểu khác nhau trong vấn
đề nghiệp báo hoạt động như thế
nào. Vì mục tiêu của chúng ta
không cần thiết để đi vào những
chi tiết về những sự khác nhau
của những hệ thống, nhưng nó hữu
ích để cảnh giác rằng có vài hệ
thống.
Điều ấy dĩ nhiên có nghĩa, một
cách ẩn tàng, rằng chúng ta cũng
có những hệ thống Tây phương
giải thích những gì đang xãy ra
với những gì chúng ta đang kinh
nghiêm hay đang trãi qua. Điều
ấy không nhất thiết mâu thuẩn
với những gì chúng ta nói với
nghiệp báo.
4 – NGHIỆP BÁO NHƯ MỘT NHÂN TỐ
TINH THẦN CỦA MỘT SỰ THÔI THÚC
Khi chúng ta nói về nghiệp báo
như một thứ đặc biệt, một vấn đề
đặc thù, nghiệp báo tự nó đang
liên hệ đến một nhân tố tinh
thần – nếu chúng ta theo một hệ
thống giải thích. Chúng ta muốn
nói gì với “nhân tố tinh thần?”
Một nhân tố tinh thần là một
phương thức nhận biết về điều gì
đấy. Hãy lấy một thí dụ: chúng
ta thấy ai đấy và chúng ta bước
tới họ. Có nhiều nhân tố tinh
thần liên hệ ở đây trong kinh
nghiệm ấy. Có nhiều khía cạnh
khác nhau đối với việc chúng ta
nhận biết về người này như thế
nào. Một số rất căn bản, như
phân biệt người này với ai đấy
khác, và với bức tường. Thích
thú – đấy là một cách thể hiện
để nhận biết về con người và
niềm thích thú ấy sẽ đi cùng để
thấy họ. Tập trung có thể ở đấy,
những cảm xúc khác nhau có thể ở
đấy. Tất cả những thứ này là
nhân tố tinh thần, và chúng tập
họp với nhau trong thời khắc ấy
để thấy người ấy và bước tới họ.
Nhân tố tinh thần nào là nghiệp
báo? Nghiệp báo là nhân tố tinh
thần đang đưa chúng ta đến người
ấy; đấy là sự thúc đẩy sẽ đi
theo để thấy người ấy và sau đó
đi tới họ. Đấy là tại sao trong
một số lý thuyết nghiệp báo được
giải thích hầu như một năng lực
vật lý. Dĩ nhiên có thể có những
nhân tố tinh thần khác, như ý
định. Chúng ta định làm gì với
người này? Chúng ta có thể có ý
muốn ôm họ hay chúng ta có ý
định đấm vào mặt họ. Có nhiều
nhân tố khác liên hệ, nhưng
nghiệp báo đơn giản là nhân tố
tinh thần thúc đẩy này đang đưa
chúng ta vào hành động ôm hay
đấm khi chúng ta thấy họ và khi
chúng ta đang đi tới họ. Cũng
thế, hãy nhớ rằng những sự thúc
đẩy tinh thần không chỉ là những
hành động vật lý chẳng hạn như
ôm hay đấm. Cũng có thể có một
sự thúc đẩy tinh thần mà chúng
ta nghĩ về điều gì ấy; nó không
chỉ trong dạng thức nói về điều
gì ấy hay làm điều gì ấy một
cách vật lý. Cho dù chúng ta
đang nghĩ về điều gì đấy, cho dù
chúng ta đang nói về điều gì đấy,
cho dù chúng ta đang làm điều gì
ấy – tất cả những thứ này liên
hệ với một loại thúc đẩy tinh
thần nào đấy.
5 – NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA THÁI ĐỘ
NGHIỆP BÁO
Phật giáo, giống như khoa học,
dạy rất nhiều trong những dạng
thức nhân quả. Vì thế, nếu bị
lèo lái bởi nghiệp báo – sự thúc
đẩy này – chúng ta làm những
việc, nói những điều, và suy
nghĩ những thứ gì đấy, sau đó sẽ
có một kết quả. Nghiệp báo không
nói quá nhiều về ảnh hưởng của
thái độ chúng ta đối với những
người khác – mặc dù, dĩ nhiên,
nó thật sự tác động trên những
người khác. Đây là bởi vì, một
cách thật sự, ảnh hưởng trên
những người khác của những gì
chúng ta thực hiện đối với họ là
tùy trên người ấy, đến một sự
phạm vi lớn. Một số ảnh hưởng
trên người khác của những gì
chúng ta thực hiện trên họ là
qua những nhân tố vật lý mà thôi:
bạn đấm ai đấy và làn da bị thâm
tím. Đó chỉ là nhân quả vật lý
thân thể; chúng ta không đang
nói điều ấy với nghiệp báo.
Nhưng ảnh hưởng có trên người
kia trong những dạng thức họ
trãi qua kinh nghiệm như thế nào
đối với những gì chúng ta nói
hay làm đối với họ, điều ấy tùy
họ, có phải không? Chúng ta có
thể nói điều gì đấy rất độc địa
đến ai đấy, thí dụ thế, và cảm
xúc mà họ nhận được có thể rất
tổn thương; ho có thể rất khó
chịu. Nhưng họ cũng có thể nghĩ
rằng chúng ta hoàn toàn là những
kẻ ngu ngơ ngốc nghếch, và vì
thế họ không tin chúng ta và
không tiếp nhận chúng ta một
cách nghiêm chỉnh. Hay họ có thể
không thậm chí không nghe chúng
ta hay họ nghe chúng ta một cách
sai lầm. Tâm tư họ có thể đã bị
bận tâm với điều gì khác, thí dụ
vậy. Do thế, thậm chí nếu chúng
ta có những ý định dữ dội thật
sự làm tổn thương cảm xúc của
người ấy, không có gì bảo đảm
rằng nó sẽ thật là gì – mặc dù
rõ ràng giáo huấn Đạo Phật dạy
rằng chúng ta cố gắng không làm
tổn thương bất cứ ai. Nhưng điều
ấy không liên hệ đến nghiệp báo
ở đây.
Khi chúng ta nói về những kết
quả nghiệp báo về điều gì ấy, nó
là những kết quả nghiệp báo mà
tự chúng ta sẽ nếm qua như một
kết quả của hành vi trong sự đẩy
mạnh này, một lối bắt buộc, với
sự thôi thúc của nghiệp báo.
Những ảnh hưởng gì trong chính
chúng ta? Một trong những ảnh
hưởng – và điều này rất giống
với những gì khoa học Tây phương
nói – là chúng ta điều kiện hóa
chính mình để suy nghĩ trong một
cách nào đấy, nói một cách nào
đấy, và hành động trong một cách
nào đấy, vì thế nó bồi đắp một
khuynh hướng để lập lại cung
cách của thái độ ấy. Và như một
kết quả của ý định ấy để lập lại
cung cách của thái độ ấy và cũng
là một khả năng để lập lại hành
vi ấy- chúng ta cũng làm một sự
khác biệt nào đấy giữa những khả
năng và những khuynh hướng , mặc
dù không nhất thiết để đi vào
chi tiết về điều ấy – như một
kết quả của chúng, chúng ta muốn
lập lại hành vi kia.
Nó thật sự sản sinh ra điều gì,
ý định kia hay khả năng nọ? Ý
định sản sinh một cảm xúc – cảm
giác muốn đi tới người ấy và ôm
người ấy, thí dụ thế, hay cảm
thấy muốn đi tới gần người nọ và
nói một điều gì đấy bất tịnh. Và
rồi thì, khi chúng ta cảm thấy
muốn làm điều ấy, dĩ nhiên,
chúng ta có sự lựa chọn thực
hiện điều ấy hay không. Đấy là
một điểm rất quan trọng, để nhận
thấy rằng chúng ta có sự lựa
chọn để thực hiện những gì chúng
ta cảm thấy muốn hành động hay
không. Nhưng nếu chúng ta quyết
định rằng chúng ta sẽ làm việc
ấy, hay nếu chúng ta ngay cả
không quyết định sẽ làm điều ấy
hay không, chúng ta chỉ thể hiện,
thế thì cấp độ kế tiếp là nơi mà
nghiệp báo biểu lộ. Nghiệp báo
là sự thúc đẩy, sự lèo lái, sự
cưỡng bách mà với nó chúng ta
thật sự tiến hành việc ấy.
Trong trường hợp ấy, có nhiều
thứ khác chín muồi từ những xu
hướng này. Một thứ mà một cách
căn bản cũng là nội dung của
những gì chúng ta trãi qua hay
kinh nghiệm. “Nội dung”
(content) là một chữ hơi rộng;
tôi nghĩ là chúng ta phải hơi rõ
ràng hơn. Ở đây, thí dụ, điều
phải làm là gặp gở người kia
không gặp mặt người nọ. Nó cũng
liên hệ cung cách mà người ta
hành động đối với chúng ta.
Chúng ta phải hết sức cẩn thận
về việc chúng ta nói thế nào,
nhằm để được chính xác hơn.
Nghiệp lực của chúng ta không là
nguyên nhân làm cho người kia la
hét đến chúng ta – họ la hét với
chúng ta như một kết quả của
những khuynh hướng mà họ phải la
hét đối với người ta. Nhưng
nghiệp lực của chính chúng ta là
chịu trách nhiệm để nếm mùi
những người khác la hét đối với
chúng ta.
Dĩ nhiên, điều ấy không phải là
một vấn đề dễ dàng lắm để thấu
hiểu, nhưng chúng ta nghĩ trong
cung cách của việc tiếp cận một
sự thấu hiểu về điều ấy với một
thí dụ. Nếu một đứa bé đang mang
những tấm tả và làm bẩn tấm tả,
thế thì đứa bé phải sống trong
hoàn cảnh; đứa bé phải sống với
tình trạng bẩn thỉu mà nó làm ra.
Hãy để qua một bên toàn bộ vấn
đề là có ai đấy thay tả cho đứa
bé, nhưng điểm ở đây là nếu bạn
tạo nên một tình trạng bẩn thỉu,
thì bạn phải nếm mùi hay lĩnh
nhận nó hay phải trãi qua với sự
bẩn thỉu ấy. Chúng ta tạo nên
tình trạng hổn độn trong đời
sống, và khi cuộc sống đi tới,
chúng ta phải chịu càng nhiều
lộn xộn bừa bộn hơn; một cách
căn bản, nó hoạt động như thế.
Một cách rõ ràng hơn, chúng ta
hành động trong một cách nào đấy
đối với những người khác, thì
chúng ta sẽ lĩnh nhận hành vi
của người khác trong một cung
cách nào đấy đối với chúng ta.
Nhưng một nguyên tắc khác rất
quan trọng ở đây với nghiệp báo
là điều này không hoạt động một
cách lập tức. Chúng ta có thể
nói với một cách rất thân ái và
nhẹ nhàng đối với ai đấy, nhưng
họ vẫn rất cuồng nộ, la lối đối
với chúng ta với sân hận.
Điều này là tại sao phải thấu
hiểu nghiệp báo một cách thật sự,
chúng ta phải đem toàn bộ sự
thảo luận về tái sinh, điều ấy
phải cần một thời gian vô cùng
lâu dài trước khi chúng sản sinh
một ảnh hưởng, và chúng có thể
không phát sinh một tác động
trong đời sống hiện tại. Thực tế,
hầu như chúng không bao giờ (có
tác dụng trong hiện kiếp). Điều
ấy thật không có gì khủng khiếp
để chúng ta như những người Tây
phương thừa nhận. Đối với một số
người dường như Đạo Phật nói
rằng, “Hãy hiền lương trong kiếp
sống này và trong kiếp tới, bạn
sẽ trãi qua những kết quả trên
thiên đàng; nếu xấu xa và, kiếp
sau, bạn sẽ phải nếm mùi những
kết quả nơi địa ngục.”
Chúng ta phải thẩm tra điều này
một cách thật sâu sát: Có phải
Phật giáo nói cũng giống như thế,
hay nó là khác? Đấy không phải
là một chủ đề dễ dàng, nó là một
đề mục rất phức tạp, bởi vì để
thật sự hiểu về nhân quả nghiệp
báo, chúng ta cần thấu hiểu tái
sinh – khái niệm của Phật giáo
về tái sinh, không phải quan
điểm tái sinh phi Phật giáo. Ai
liên lụy đến một nguyên nhân
nghiệp báo và ai phải nếm mùi
kết quả của nó? Có phải có một
“cái tôi” được tưởng thưởng hay
bị trừng phạt.
Nhưng hãy bỏ qua một bên vấn đề
tái sinh và ai lĩnh nhận nó qua
một bên, như chúng tôi đã đề cập
lúc bắt đầu, Đạo Phật không nói
về một hệ thống của thưởng phạt
căn cứ trên sự vâng lời luật lệ.
Phật giáo không nói về sự sống
này là một loại thử thách hay
kiểm nghiệm nào đấy, và chúng ta
sẽ đón nhận những kết quả của
kiểm nghiệm trong kiếp sống tới
của chúng ta. Nó chỉ đơn giản
nói rằng mọi thứ cần một thời
gian dài để sản sinh tác động
của chúng. Chúng ta có thể thấy
điều ấy trong dạng thức của môi
trường. Chúng ta hành động trong
một cách nào đấy và nó sản sinh
những ảnh hưởng trong đời sống
của chúng ta, nhưng nó sẽ sinh
sản những tác động ghê gớm nhiều
hơn trong đời sống của những thế
hệ tương lai. Nó là điều gì
tương tự như thế.
6 – HẠNH PHÚC VÀ BẤT HẠNH
Một không gian hoàn toàn khác
biệt với nghiệp báo chín muồi –
nói cách khác, một không gian
khác, với những kết quả đến từ
những hành động nghiệp báo này –
phải hoạt động với những gì
chúng ta nói về vào đầu của bài
thuyết trình này, đấy là không
gian của hạnh phúc và bất hạnh
này. Lập lại những hành động nào
đấy, chúng ta trãi qua những
việc nào đấy xãy ra đến chúng ta
– người ta hành động đối với
chúng ta trong những cung cách
nào đấy, hay nó có thể là một
hòn đá rơi từ đỉnh một mõm đá
lên đầu chúng ta. Chúng ta trãi
qua những thứ này với sự hạnh
phúc hay bất hạnh. Nghĩ về điều
ấy. Có những người nào đấy, khi
chúng họ dẫm lên một con gián,
họ cảm thấy rất vui – ta đã tóm
được thứ đáng ghét này! Những
người khác, khi họ dẫm lên một
con gián, cảm thấy kinh tởm, và
cảm thấy rất buồn. Một số người
khác, khi ai đấy đụng trúng họ,
hay la hét với họ, họ cảm thấy
kém may mắn và rất buồn, và
những người khác cảm thấy vui vẻ,
“Vâng, tôi là người tội lỗi; tôi
không tốt; tôi xấu xa; tôi đáng
để bị la rầy và bị đụng phải.”
Các bạn biết những lời như thế,
chúng tôi nghĩ rằng nó đến từ
đây, ở Mễ Tây Cơ, hay có lẽ ai
đấy vừa dựng lên như một câu
chuyện và chúng tôi tin nó,
nhưng nó là: “Nếu chồng tôi đánh
tôi có nghĩa rằng anh ấy thật sự
yêu tôi; nếu anh ấy không đánh
tôi có nghĩa rằng anh ấy không
yêu tôi.”
Niềm hạnh phúc hay bất hạnh này
dường như là một loại không gian
khác biệt, có phải không? Điều
gì xãy ra đối với chúng ta trong
hình thức của một không gian là
những gì chúng ta làm một cách
bắt buộc, do sự lập lại, và
những gì chúng ta kinh nghiệm,
nhưng những việc xãy đến cho
chúng ta – đó không phải là
không gian; và những không gian
khác là chúng ta thật sự trãi
qua như thế nào, với hạnh phúc
và bất hạnh. Những việc này mà
chúng ta trãi qua, có hai không
gian, là đang chín muồi cả từ
những hành động nghiệp báo quá
khứ, mà cũng từ những thứ khác.
Nếu chúng ta chỉ nhìn vào không
gian của hạnh phúc và bất hạnh,
điều này là một không gian rất
phổ quát. Nó đến từ hoặc là
chúng ta hành động trong một
cách tàn phá hay kiểu xây dựng.
Nếu chúng ta hành động một cách
tàn phá, kết quả là trãi qua
buồn khổ bất hạnh; nếu chúng ta
hành động một cách xây dựng, kết
quả là kinh qua hạnh phúc mừng
vui.
7 – THÁI ĐỘ XÂY DỰNG VÀ TÀN PHÁ
Bây giờ điều trở nên rất hấp dẫn
khi chúng ta khảo sát những gì
Phật giáo muốn nói qua xây dựng
và tàn phá. Một cách tự nhiên có
vài giải thích về điều này.
Nhưng khi chúng ta thấy, chúng
ta không thật sự định rõ bản
tính tự nhiên của một hành động
trong những dạng thức ảnh hưởng
nó có trong ai đấy khác, bởi vì
người biết điều gì tác động sẽ
là: có rất nhiều những nhân tố
khác sẽ bị tác động. Thế nên xây
dựng và tàn phá phải hành động
với một tình trạng của tâm thức,
với điều mà chúng ta hành động.
Nếu chúng ta hành động căn cứ
trên tham lam, hay dính mắc, hay
sân hận, hay ngu ngơ khờ khạo,
thế thì nó là tàn phá. Trái lại,
nếu chúng ta hành động trên căn
bản không sân hận, không tham
lam, không bị dính mắc, không
ngốc ngếch si mê, thế thì nó là
xây dựng. Một cách rõ ràng nếu
hơn thế nữa, nếu nó căn cứ trên
từ ái và bi mẫn, bố thí, v.v… nó
cũng là xây dựng.
Cũng có những nhân tố khác. Rất
thú vị để thẩm tra những nhân tố
khác này mà nó làm một hành động
xây dựng hay tàn phá. Một nhân
tố là đạo đức tự giác, hay hạnh
kiểm tự giác (tự tàm: thẹn với
mình). Điều đó phải hoạt động
với sự tự hình dung chúng ta và
tự trọng của chúng ta. Nếu chúng
ta không có sự tự trọng, thế thì
chúng ta không quan tâm đến tác
động thái độ của chúng ta đối
với chính chúng ta. Nó là thái
độ của “bất cứ điều gì.” Với
loại tự trọng thấp, chúng ta
hành động một cách tàn phá. Nói
cách khác, nếu chúng ta nghĩ về
chính mình trong những cách tích
cực, nếu chúng ta tôn trọng
chính mình như một người, thế
thì chúng ta không hành động như
một kẻ ngốc. Chúng ta sẽ không
hành động một cách ngu dại, tàn
nhẫn, bởi vì chúng ta không muốn
tự hạ thấp mình để hành động
trong cách đó – chúng ta có một
ý niệm cao thượng hơn nhiều về
chính mình, của những gì chúng
ta có thể hành động. Đây là một
nhân tố, chúng ta nói đến ở đây:
hoặc là có một ý nghĩa đạo đức
tự giác (tự tàm) hay không có ý
nghĩa của đạo đức tự thẹn. Đây
là một nhân tố vô cùng cốt yếu
để quyết định hoặc là chúng ta
hành động trong một cách xây
dựng hay một cách tàn phá.
Một nhân tố khác quan tâm đến
thái độ chúng ta phản chiếu trên
những người khác. Chúng ta đang
nói về điều gì? Nếu chúng ta
hành động trong một cách khủng
khiếp, nó phản chiếu thế nào
trên gia đình chúng ta? Nó phản
ánh thế nào trên quê hương chúng
ta? Nếu chúng ta hành động bằng
một cách dễ sợ, người ta sẽ nghĩ
gì về người Mễ Tây Cơ? Bởi vì
chúng ta có đủ lòng tôn trọng
đối với gia đình, hội nhóm của
chúng ta, hay bất cứ nó có thể
là gì – tôn giáo, quốc gia,
thành phố - với ý nghĩa quan tâm
về tác động của thái độ chúng ta,
với sự quan tâm về thái độ của
chúng ta phản chiếu trên những
người khác (quý tha: thẹn với
người), nếu chúng ta có điều ấy,
chúng ta sẽ kềm chế khỏi những
hành vi tàn phá; nếu chúng ta
không có nó, chúng ta sẽ hành
động một cách tàn phá. Đây là
một tuệ giác nội quán thậm thâm
của Đạo Phật. Nhân tố cốt yếu là
gì? Tự trọng, tự tàm và một ý
nghĩa quý trọng cộng đồng của
chúng ta.
Điều này cho chúng ta một tuệ
giác nội quán to lớn vào trong
một số nhân tố cần thiết được
đem vào sự quan tâm trong những
dạng thức đối phó với khủng bố.
Nếu chúng ta tước đoạt một con
người và cộng đồng của họ với
mọi ý nghĩa của tự trọng về họ,
làm cho đời sống của họ thật sự
khủng khiếp và suy nghĩ những
thứ kinh khủng về họ, họ cảm
thấy rằng không có gì quan trọng
đối với những gì họ cố gắng hành
động. Nếu họ không có ý thức về
tự trọng hay giá trị cộng đồng
của họ, thế thì tại sao không
hành động một cách tàn phá? Họ
cảm thấy rằng họ không có gì để
mất. Chúng tôi nghĩ rằng điều
này là một việc hổ trợ để nhớ
lại trong dạng thức của việc
chúng ta đối phó như thế nào với
người khác, một cách đặc biệt
trong những hoàn cảnh rắc rối
trên thế giới. Điều quan trọng
là đừng bao giờ tước đoạt ý thức
tự trọng của ai đấy hay một cảm
giác chân giá trị cộng đồng của
họ.
Cũng có một vài nhân tố tinh
thần liên quan ở đây với điều
làm nên một hành động tàn phá
hay làm nên một việc làm xây
dựng. Nó cũng là những thứ giống
như thừa nhận sự thực rằng cung
cách chúng ta hành động và xử sự
đối với người khác sẽ ảnh hưởng
đến họ. Điều này ám chỉ đến việc
có một ý nghĩa của quan tâm hay
chăm sóc – Chúng tôi gọi nó là
“thái độ thận trọng.” Nhưng đôi
khi chúng ta rất ngu ngơ, chúng
ta nghĩ rằng chúng ta nói bất cứ
điều gì đến người kia và chúng
chẳng can hệ gì. Chúng ta không
thật sự quan tâm đến cảm giác
của người khác một cách nghiêm
chỉnh. Thế thì chúng ta thiếu
vắng một thái độ thận trọng.
Nếu chúng ta hành động với những
loại thái độ tinh thần này –
tham lam, sân hận, không có ý
nghĩa tự trọng, không quan tâm
đối với điều gì chúng ta thật sự
phản chiếu trên người khác,
không cẩn trọng, không lưu ý một
cách nghiêm chỉnh rằng những gì
chúng ta hành động sẽ có một ảnh
hưởng đến những người khác và
cũng có một tác động đến chính
chúng ta – kết quả của điều ấy
là gì? Bất hạnh, buồn phiền. Nổi
buồn phiền này, nó là một sự
trừng phạt, thế ấy.
Chúng ta cần phải suy nghĩ một
cách hoàn toàn sâu sắc thật sự
về điều này. Có phải thể trạng
tâm thức với tất cả những nhân
tố tiêu cực này thật sự là một
tình trạng vui vẻ hạnh phúc của
tâm tư, và có phải nó thật sự
phát sinh một kinh nghiệm hạnh
phúc trong chúng ta? Hay nó chỉ
có thể sinh ra bất hạnh buồn
phiền? Nếu chúng ta càng nghĩ về
nó hơn nữa, nó thật sự làm nên ý
nghĩa rằng tình trạng ấy của tâm
tư, thể trạng ấy của tâm thức,
sẽ đưa đến kết quả trong kinh
nghiệm bất hạnh buồn phiền, và
nếu chúng ta có chó một thể
trạng đối ngược lại của tâm thức,
không có tham lam, sân hận, và
tất cả những điều khác này, nó
sẽ sản sinh hạnh phúc . Do thế,
chúng ta có những thái độ đặc
trưng phổ biến này – xây dựng và
tàn phá – và chúng sẽ đưa đến
kết quả trong những kinh nghiệm
hạnh phúc hay bất hạnh.
Thêm nữa, sau đó chúng ta có
những loại hành động đặc thù mà
chúng ta hành động: la lối vào
ai đấy, hay thể hiện sự ân cần
đến ai đấy, và v.v…, và những
loại này cũng có những ảnh hưởng
trong hình thức của những khuynh
hướng để lập lại thái độ hay
những khuynh hướng ấy để đi đến
những tình cảnh mà trong ấy
những người khác hành động trong
cách nào đấy đến chúng ta.
Một kết quả khác của thái độ
nghiệp báo của chúng ta – nhưng
không cần thiết phải đi vào
những chi tiết to lớn ở đây –
liên hệ đến loại tái sinh nào mà
chúng ta có: chúng ta sẽ tái
sinh với một thân thể và tâm
thức của một con chó, một con
gián, hay của một con người.
Loại thân thể và tâm thức mà
chúng ta sẽ có là thế nào như
phạm vi cho những kinh nghiệm
nào đấy xãy ra đến chúng ta và
sự hành động của chúng ta trong
một cung cách nào đấy. Có nhiều
chi tiết khác ở đây, những chúng
tôi muốn chỉ bao quát trong
thuyết trình giới thiệu này,
những nguyên tắc phổ biến nhất.
8 – THUYẾT QUYẾT ĐỊNH HAY TỰ DO
Ý CHÍ
Vì thế, về một phương diện,
chúng ta kinh nghiệm những loại
thái độ nào đấy lập lại và mọi
việc xãy đến với chúng ta; và ở
một mặt khác, chúng ta kinh
nghiệm tất cả những điều này với
sự thăng trầm của hạnh phúc và
bất hạnh, những điều đôi khi ứng
hợp với thái độ của chúng ta và
có lúc dường như chẳng dính vào
đâu. Và tất cả những điều này
lên và xuống, khắp mọi thời, và
chúng ta không biết điều gì sẽ
xãy ra kế tiếp. Và dĩ nhiên
những gì xãy ra đến cho chúng ta
không chỉ là do bởi tôi và
nghiệp báo của riêng cá nhân
chúng ta mà thôi. Nó cũng bị ảnh
hưởng bởi những gì sẽ diễn biến
với những người khác trong vũ
trụ và nghiệp báo của họ, và
những họ đang hành động, cộng
với những gì đang xãy ra với
chính vũ trụ vật lý – những yếu
tố của vũ trụ: thời tiết, động
đất, những thứ như vậy. Do bởi
thế, rất khó để tiên đoán những
gì chúng ta sẽ trãi qua kế tiếp
– những nhân tố ảnh hưởng cũng
giống như thế, rất phức tạp, và
thực tế, Đức Phật nói rằng nó là
vấn đề phức tạp nhất của bất cứ
điều gì để thấu hiểu.
Chúng ta phải hoàn toàn thấu
triệt rõ ràng ở đây, bởi vì rất
nhiều người hỏi về nghiệp báo -
có phải nó là thuyết quyết định
hay có phải chúng ta có tự do ý
chí? Không có điều nào là đúng,
cả hai đều là những cực đoan.
Thuyết quyết định thường bao hàm
rằng có ai đấy khác đã quyết
định cho chúng ta những gì chúng
ta sẽ làm hay những gì chúng ta
sẽ nếm mùi – một nhân vật ngoại
tại, một đấng cao cấp thiêng
liêng nào đấy, hay bất cứ gì.
Phật giáo nói rằng không phải
điều đó; không phải ai đấy đã
quyết định những gì chúng ta sẽ
làm và chúng ta chỉ là những kẻ
bù nhìn hay những con rối, thể
hiện một vai trò nào đấy mà ai
khác đấy đã thảo (kịch bản) cho
chúng ta.
Trái lại, tự do ý chí hơi giống
như ai đấy ngổi trong nhà hàng,
cầm một thực đơn trước mặt họ và
quyết định những gì họ muốn đặt
hàng. Cuộc sống không như thế đó.
Tưởng tượng đời sống như vậy,
Đạo Phật nói rằng, đó là sai, nó
rối rắm, nó là sự mê muội. Có
thể dường như và cảm nhận như
giống như có một cái “tôi” riêng
biệt – tách khỏi đời sống, riêng
khỏi kinh nghiệm, lìa khỏi điều
kinh qua, và người ngoại cuộc
đối với mọi thứ đang xãy ra có
thể nhìn đời sống như một thực
đơn và chọn những món trên ấy.
Không có “tôi” riêng biệt với sự
sống, hay riêng rẽ với kinh
nghiệm và những gì đang xãy ra
đến chúng ta không hiện hữu như
những món nho nhỏ trên thực đơn
mà chúng ta có thể chọn lựa,
giống như chúng đã đang ngồi đấy
sẳn, và rồi thì chúng ta chỉ ấn
nút và nó chui ra khỏi máy (như
một lon nước), hay điều gì tương
tự như thế. Chúng tôi nghĩ đấy
là một thí dụ rất hình tượng để
thấy nó ngớ ngẫn như thế nào. Nó
không phải là những kinh nghiệm
đang tồn tại như những món ăn
khô làm sẳn trong một máy thực
phẩm và chúng ta chọn lựa món
nào chúng ta muốn; đặt tiền vào,
nhấn một nút, và nó chui ra cho
chúng ta. Cuộc sống không phải
như thế, có phải không? Không
phải là chúng ta quyết định
trước, “Hôm nay, tôi trãi qua
hạnh phúc và tôi sẽ thấy rằng
mọi người sẽ tử tế đối với tôi.”
Sau đó chúng ta đặt tiền vào máy
của cuộc đời và nhạc pop sẽ hát
lên những gì chúng ta chọn lựa.
Đấy là tự do ý chí, có phải
không? Tự do ý chí để quyết định
những gì sẽ xãy ra cho chúng ta
và những gì chúng ta sẽ làm.
Nhưng những gì xãy đến cho chúng
ta là vi tế và phức tạp vô cùng
hơn hai loại cực đoan của thuyết
quyết định và tự do ý chí hoàn
toàn.
9 – MÊ MUỘI VỀ CỘI NGUỒN CỦA
NGHIỆP BÁO
Chúng ta đã nói ở phần trước của
bài thuyết giảng rằng những gì
hoàn toàn đặc biệt trong Phật
giáo là Đức Phật đã dạy nguyên
nhân cho sự lên xuống liên tục
của những kinh nghiệm hạnh phúc
và bất hạnh và cho tất cả mọi
loại mọi sự xãy ra đến chúng ta
mà chúng ta thật sự không muốn
xãy ra và rằng chúng ta không có
bất cứ một sự kiểm soát nào đối
với chúng. Nguyên nhân là bộ
phận của mỗi thời khắc mà chúng
ta trãi qua và không ngừng, đây
là toàn bộ hội chứng – và nguyên
nhân đấy là sự mê mờ. Không chỉ
thế, nhưng khi chúng ta hành
động với mê muội – cho dù tàn
phá hay xây dựng – nó tăng cường
điều được gọi là “thói quen
không ngừng” hay “tính khí liên
tục” – thói quen của hành động
một cách liên tiếp với mê muội –
và vì thế chúng ta tiếp tục hành
động với si mê ở mỗi thời khắc
riêng lẽ.
Sự mê muội này là gì? Đấy là một
chủ đề rất sâu sắc trong Phật
giáo; nhưng nếu chúng ta đặt nó
trong những dạng thức thật sự
đơn giản, thế thì chúng ta đang
nói về sự mê mờ về vấn đề chúng
ta hiện hữu như thế nào, người
ta tồn tại như thế nào, và mọi
thứ hiện diện như thế nào. Thí
dụ, chúng ta nghĩ rằng tôi là
trung tâm của vũ trụ; tôi là
người quan trọng nhất; tôi nên
luôn luôn tìm ra con đường của
tôi; tôi luôn luôn đúng; người
ta nên luôn luôn có thời gian
cho tôi. Chúng ta có thể nhận ra
thái độ này trong những hình
thức của điện thoại cầm tay:
chúng ta cảm thấy rằng tôi có
thể gọi bất cứ ai và bất cứ lúc
nào và làm gián đoạn họ bất chấp
điều gì họ đang làm, và họ phải
nên sẳn sàng cho tôi, bởi vì
những gì tôi phải nói là quan
trọng hơn bất cứ thứ gì mà người
ta có thể làm bây giờ. Căn cứ
trên sự mê muội này, chúng ta có
thể hành động một cách tàn phá
đối với ai đấy – la lối với họ,
hung dữ đối với họ - và chúng ta
sẽ làm thế bởi vì họ không làm
những gì tôi muốn họ làm hay họ
đang làm điều gì đấy mà tôi
không thích. Người ta nên làm
những gì tôi thích bởi vì những
gì tôi muốn rõ ràng quan trọng
hơn những gì họ muốn. Hay, căn
cứ trên sự mê muội giống như thế,
chúng ta có thể làm điều gì đấy
ân cần cho ai đấy, thể hiện sự
tử tế đến họ, bởi vì tôi muốn họ
thích tôi; tôi muốn họ vui vẻ
hạnh phúc với tôi. Tôi muốn cảm
thấy cần thiết trong đấy tôi
đang làm điều gì đấy cho ai đấy
mà tôi nghĩ họ cần, vì thể tôi
sẽ nói với con gái tôi nuôi
dưỡng con cái của nó như thế nào,
và điều hành việc nhà nó như thế
nào. Không phải là hữu ích hay
sao? Và không cần biết người con
gái ấy có muốn lời khuyên bảo và
giúp đở hay không, nhưng chúng
ta nghĩ rằng tôi là quan trọng
nhất, và tôi muốn là người thiết
yếu, và rõ ràng tôi hiểu biết
hơn con gái tôi trong việc nuôi
dưỡng con cái như thế nào và cô
ta rõ ràng cần phải nghe những
lời ấy của tôi.
Vì thế, có sự mê muội này, rối
rắm này, và nó ở phía sau cả
thái độ tàn phá lẫn xây dựng. Vì
bởi sự mơ muội này chúng ta
không ngừng thăng - trầm, lên –
xuống với vòng lẩn quẩn này. Do
vậy chúng ta phải thẩm tra làm
thế nào để lìa bỏ điều đó.
10 –GIẢI THOÁT SỰ MÊ MUỘI CỦA
CHÚNG TA
Khi chúng ta nhìn vào cơ cấu về
việc những khuynh hướng và những
thói quen nghiệp báo chín muồi
như thế nào, một cách đặc biệt
những khuynh hướng, rồi thì tất
cả phải hành động với thái độ
của chúng ta đối với niềm vui và
nổi buồn lên xuống này mà chúng
ta trãi qua. Chúng ta có hai
nhân tố tinh thần mà chúng đồng
hành với những kinh nghiệm vui
buồn và chúng nổi bật ở đây. Thứ
nhất gọi là “tham dục.” Khi
chúng ta kinh qua hạnh phúc,
chúng ta khẩn cầu ao ước – có
nghĩa là chúng ta có một lòng
khao khát rất mạnh mẽ - không
phải tách rời khỏi điều ấy.
“Đừng bỏ đi, ở lại đây với tôi,
người có thể ở lại lâu hơn” –
việc như thế này xãy ra khi
chúng a đang cùng vui thú với ai
đấy. Hay chúng ta đang hưởng thụ
và cảm thấy hạnh phúc với việc
ăn sô cô la và vì thế chúng ta
không muốn bị tách rời khỏi niềm
vui ấy. Do bởi thế, chúng ta
tiếp tục ăn nữa và nữa và nữa và
nữa, có phải thế không? Đó là
tham dục. Rồi thì, khi chúng ta
kinh qua bất hạnh, trãi qua đau
buồn, chúng ta muốn được tách
rời khỏi chúng một cách nhanh
nhất có thể được. Bên dưới của
cả hai thứ buồn vui là nhân tố
thứ hai – một thái độ mạnh mẽ
của cái “tôi” rõ ràng, một cái
“tôi” vững chắc, với những gì
chúng ta đang trãi qua. Tôi phải
tìm để có niềm vui này và bất cứ
nó là gì, nó cho tôi niềm hạnh
phúc, nữa và hơn nữa, và không
bị tách rời khỏi nó. Tôi phải
tách biệt với những gì tôi không
thích. Tôi không thích bạn nói,
vì thế tốt hơn là bạn hãy im đi
hay tôi sẽ quát bạn.
Khi chúng ta kinh nghiệm buồn
vui lên xuống trong cuộc sống
của chúng ta với niềm tham dục
khao khát này và một sự minh
định và một cái “tôi” vững chắc
với những gì sẽ diễn tiến – cái
“tôi”, điều mà rốt cùng căn cứ
trên sự mê muội, bất giác – điều
này làm nên tất cả những khuynh
hướng nghiệp báo đi đến chín
muồi. Trong cách ấy, chúng ta
đang liên tục không ngừng với sự
thăng trầm của niềm vui, lên
xuống của nổi buồn và đang lập
lại tất cả những thái độ trước
đây của chúng ta, bởi vì đây là
những gì chín muồi từ những
thiên hướng ấy. Điều thật sự ghê
gớm là sự mê muội này ở đấy với
mỗi thời khắc của vui và buồn,
hạnh phúc và khổ đau. Nó ghi nhớ
mãi những thời khắc của hạnh
phúc và khổ đau, mà chúng cũng
sẽ là với mê muội. Sự mê muội mà
chúng ta trãi qua bây giờ là kết
quả của sự si ám trước đây, khi
chúng ta đang kinh nghiệm hạnh
phúc và buồn đau (của quá khứ).
Vòng tuần hoàn tái diễn không
thể kiểm soát này, sự tự tuần
hoàn không ngừng này– chính là
điều mà Phật giáo gọi là “luân
hồi-samsara.” Nếu chúng ta có
thể giải thoát khỏi sự mê muội
này, thế thì toàn bộ hệ thống
của nghiệp báo tan vở thành từng
mãnh và chúng ta được giải thoát
khỏi vòng luân hồi sinh tử. Nếu
chúng tat hay thế sự mê muội này
với một sự thấu hiểu đúng đắn –
và chúng tôi sẽ không đi vào chi
tiết, chỉ cho những quan điểm
tổng quát – nếu chúng ta thay
thế sự mê mờ này với sự thông
hiểu đúng đắn, trong trường hợp
này không có cơ sở cho cái “tôi”
vững chắc – không căn cứ địa cho
điều “tôi phải có điều này và
không có điều kia.” Không có
tham dục, vì thế không có sự
khởi động hay đánh thức những
khuynh hướng và thói quen này,
bạn không thể nói rằng bạn vẫn
còn có những khuynh hướng và
thói quen.
Chúng tôi cố gắng đưa ra một thí
dụ. Nếu có một xu hướng để thấy
những con khủng long, thế thì
khi những con khủng long bị tiệt
chủng, không còn khuynh hướng để
thấy những con khủng long nữa
khi bạn đi qua khu rừng, có phải
thế không? Đã thường có khuynh
hướng này: khi chúng ta đi qua
một khu rừng tôi luôn luôn thấy
khủng long. Bây giờ không còn
khủng long nữa, thế nên không
còn gì tạo nên khuynh hướng để
thấy khủng long nữa. Dùng thí dụ
ấy, khi không còn gì tạo nên một
khuynh hướng làm cho chín muồi –
một con khủng long đi trước mặt
chúng ta, tạo nên khuynh hướng
để thấy một con khủng long chín
muồi – nếu không có gì đánh thức
khuynh hướng ấy, chúng ta không
có khuynh hướng ấy nữa. Và nếu
những khuynh hướng nghiệp báo
không đi đến chín muồi nữa bởi
vì không có những khuynh hướng
ấy nữa, thế thì chúng ta không
trãi qua sự thăng trầm của hạnh
phúc hay lên xuống của buồn đau
nữa, chúng ta cũng không còn
kinh nghiệm bất cứ sự mê muội
nào với nó nữa; điều đó cũng mất
rồi.
Đây là cách, là con đường mà
chúng ta được giải thoát khỏi
toàn bộ tình trạng luân hồi này.
Chúng ta không còn kinh qua sự
không hài lòng, không bảo đảm
thăng trầm của hạnh phúc và buồn
đau, nhưng thay vì thế chúng ta
có một kinh nghiệm rất vững chãi
một loại an lạc hạnh phúc rất
khác biệt, một phẩm chất rất
khác biệt – không phải loại hạnh
phúc lẫn lộn với mê muội, và
không phải loại hạnh phúc “tôi
thắng cuộc chơi và vì thế đây là
phần thưởng của tôi.” Đấy là
loại an lạc hạnh phúc mà chúng
ta kinh nghiệm từ sự tự do với
những hoàn cảnh khó khăn. Chúng
tôi nghĩ một thí dụ đơn giản,
mặc dù không là một thí dụ chính
xác, cho sự tiếp cận với những
gì mà điều này đang nói về sẽ là
niềm hạnh phúc mà chúng ta cảm
nhận khi chúng ta lấy một chiếc
giày chật cứng vào cuối một ngày
– đấy là một niềm vui thư thái
mà chúng ta tự do khỏi sự đau
đớn đó.
Cũng thế, những gì chúng ta kinh
nghiệm với sự giải thoát, kinh
qua với sự tự do là những hành
động của chúng ta không còn bị
lèo lái bởi những thúc đẩy bắt
buộc của nghiệp báo với điều mà
chúng ta hành đọng trong một
cách nào đấy, kinh nghiệm những
điều nào đấy. Đúng hơn, nếu
chúng ta đang hành động, vươn
khỏi chỉ sự giải thoát, để trở
thành một vị Phật, những gì lèo
lái cho hành động của chúng ta
là từ bi (từ ái và bi mẫn) – một
nguyện ước cho những người khác
được tự do với nổi khổ và nguyên
nhân của đau khổ ấy của họ.
11 – NHỮNG LỜI KẾT LUẬN
Đây là một giải thích căn bản
đến một số nguyên tắc liên hệ
đến nghiệp báo. Có nhiều, nhiều,
nhiều, nhiều hơn thế ấy có thể
nói và giải thích. Một số được
giải thích với những nguyên tắc
phổ biến, như loại hành động này
đưa ra kết quả trong loại ảnh
hưởng này, và nếu nhân tố này là
ở đấy kết quả sẽ mạnh mẽ hơn, và
nếu nó không ở đấy – nếu chúng
ta làm điều gì đấy do tai nạn
như đối ngược lại với hành động
với một mục tiêu - ảnh hưởng sẽ
khác biệt, và v.v…Có nhiều chi
tiết ở đấy.
Cũng thế, trong dạng thức của
những gì sẽ chín muồi ngay bây
giờ, điều ấy rất khó khăn để
khái quát hóa với những nguyên
tắc, bời vì điều ấy ảnh hưởng
bởi mọi thứ khác đang xãy ra
chung quanh chúng ta. Điều gì
xãy ra cho chúng ta bây giờ,
chúng ta không chỉ khái quát hóa
vói những nguyên tắc chung
chung, bởi vì những gì xãy ra
bây giờ bị ảnh hưởng bởi mọi thứ
khác đang xãy ra. Chỉ nghĩ về
việc nếu chúng ta có một tai nạn
trên đường, điều gì đã đem đến?
Đó là nghiệp báo đã mang mọi thứ
khác vào trong con đường ấy từ
phía của họ, và những điều kiện
giao thông, và thời tiết, và
điều kiện đường xá. Rất nhiều
thứ đã được đem đến chuyện đặc
thù để có một tai nạn chín muồi
bây giờ.
Nếu chúng ta thích thú về chủ đề
này, có một không gian rộng lớn
để khám phá nhiều khía cạnh khác
nhau của nó. Càng học hỏi về
nghiệp báo, chúng tôi nghĩ, càng
hữu ích hơn trong sự vượt thắng
việc bị khống chế của nghiệp
báo, vì thế chúng ta không chỉ
được giải thoát chính mình khỏi
sinh tử luân hồi, mà chúng ta
cũng sẽ ở trong vị thế tốt hơn
có thể hổ trợ người khác.
[For a more detailed
explanation, see: The Mechanism
of Karma: TheMahayana
Explanation, Except for Gelug
Prasangika.]
Quý vị có câu hỏi gì?
12 – HỎI ĐÁP
HỎI: Trong phạm vi này, tội lỗi
không có trong tấm ảnh? Không có
việc gì với tội lỗi ở đây, có
phải không?
ĐÁP: Đúng thế. Sự giải thích của
Đạo Phật về nghiệp báo không
liên can gì đến tội lỗi. Tội lỗi
là căn cứ trên sự suy nghĩ trong
những hình thức của một cái
“tôi” rất mạnh mẽ vững chắc như
một thực thể tồn tại riêng biệt
và những gì tôi đã làm như một
thực thể riêng lẻ khác, giống
như hai quả bóng bàn, hay điều
gì ấy giống như thế. Và sau đó
chúng ta tin tưởng rằng thực thể
cái “tôi” là quá tệ và thực thể
“những gì tôi đã làm” cũng là tệ
hại. Vì thế cũng có một sự phán
đoán của hai thực thể dường như
vững chắc và rồi thì không thể
buông xả được – đó là tội lỗi.
Giống như chẳng bao giờ vất rác
ra khỏi nhà chúng ta, mà chỉ giữ
nó bên trong và nói nó ghê tởm
như thế nào, nó hôi thối như thế
nào, nó nhơ bẩn như thế nào, và
chẳng bao giờ buông bỏ.
HỎI: Nghe có vẻ rất rõ ràng và
rất hơp lý (logic), và tôi có
thể hiểu toàn bộ hệ thống, và
làm thể nào giải thoát khỏi sự
mê muội, và sự những khuynh
hướng thúc đẩy cùng mọi thứ.
Nhưng tôi nghĩ rằng thấu hiểu nó
chưa đủ để giải thoát ngay bây
giờ đối với những kinh nghiệm
hay sự thúc đẩy hành động một
cách bắt buộc.
ĐÁP: Đúng thế. Vâng, đấy là tại
sao trước tiên chúng ta cần thực
nghiệm đạo đức tự giác (tự tàm).
Hãy nhớ là, chúng ta đề cập rằng
có một khoảng cách nhỏ giữa điều
khi tôi cảm thấy giống như muốn
nói, “Ô thật là một bộ đồ xấu xí
mà bạn mặc hôm nay,” và khi tôi
thật sự nói nó. Nếu chúng ta có
thể nắm bắt khoảng không gian
ấy, thế thì chúng ta có khả năng
để quyết định những gì sẽ ảnh
hưởng nếu tôi nói với người ấy
rằng người ấy đang mặc một bộ đồ
xấu xí. Và nếu chúng ta thấy
rằng điều ấy sẽ không là sản
phẩm tốt đẹp chúng ta không phát
hành nó. Đấy là nơi chúng ta bắt
đầu – với nguyên tắc đạo đức và
sự tự kiểm soát.
Cũng thế, chúng ta có thể thẩm
tra cảm xúc nào tôi đang cảm
nhận khi tôi muốn làm việc gì
ấy? Tại sao tôi ao ước làm việc
gì ấy căn cứ trên một cảm xúc
phiền não, chẳng hạn như tham
lam? Có phải nó căn cứ trên sân
hận; có phải nó căn cứ trên si
mê? Tôi có nghĩ rằng nếu nói bộ
đồ của bạn là xấu xí sẽ không có
bất cứ ảnh hưởng nào đối với
bạn? Hay có phải tôi ao ước làm
việc gì đấy căn cứ trên sự tử tế
ân cần, và đây là những việc
tích cực hơn? Đây là tại sao sự
định nghĩa của một cảm xúc phiền
não hay một thái độ quấy rầy là
rất hữu ích: nó một tình trạng
của tâm thức, là thứ, mà khi nó
sinh khởi, nó làm cho chúng ta
mất sự an bình của tâm thức và
mất sự tự kiểm soát.
Chúng ta có thể nói rằng khi
chúng ta mất sự an bình của tâm
thức: tim chúng ta đập hơi nhanh
hơn; và chúng ta cảm thấy hơi
khó chịu. Vì thế, chúng ta cố
gắng chú ý, thí dụ, những việc
vi tế, như có phải tôi đang nói
điều gì đấy do tự hào? Thí dụ,
ai đấy nói, “Tôi không hiểu điều
đó,” và bạn nói, “Ô, nhưng tôi
hiểu!” Quý vị sẽ chú ý một sự
hơi bực bội, một chút tự hào,
một sự kiêu hãnh nào đấy, và vì
thế đây là những gì chúng ta đề
phòng.
HỎI: Tôi có hơi không hiểu. Tôi
nghĩ, giáo sư đề cập rằng có hai
cảm xúc không ngừng đây là hạnh
phúc và bất hạnh, những sự giao
động lên xuống này. Có phải giáo
sư đang nói rằng một trong hai
điều này la tham dục, còn thứ
kia là gì?
ĐÁP: Những gì tôi đang giải
thích là hai nhân tố mà chúng
khởi động những khuynh hướng
nghiệp báo – những điều này đến
từ những giáo lý mười hai nhân
duyên. Một thứ là tham dục (ái -
thứ 8) và thứ kia – tôi đang làm
cho đơn giản – thứ kia đặc biệt
gọi là thái độ hay cảm xúc đạt
được tức là chấp trước (thủ -
thứ 9), và nó là một danh sách
khoảng năm khả năng khác nhau.
Đây là những gì sẽ đạt đến một
kết quả, và vì thế điều nổi bật
nhất là xác định rõ một cái
“tôi” vững chắc với nó chúng ta
đang trãi qua, với những gì đang
diễn tiến.
HỎI: Có phải sự xác định cái
“tôi” vững chắc trong mối quan
hệ đến điều gì đấy? Rõ ràng có
sự rối rắm ở đây, và rằng chúng
ta phải chăm sóc nó và thoát
khỏi sự rối rắm mù mờ. Nhưng
điều gì chúng ta thật sự đang mù
mờ và điều chúng ta đang rối rắm
với nó?
ĐÁP: Đấy không phải là một câu
hỏi dễ dàng để trả lời trong một
cách đơn giản. Chúng ta đang mê
mờ cái “tôi” thật sự tồn tại,
cái “tôi” quy ước, với cái “tôi”
sai lầm không thật sự hiện hữu.
Nhưng gì chúng ta đang làm là
đang tưởng tượng cái “tôi” hiện
nay, là thật sự tồn tại hiện hữu
trong một cách không thể xãy ra
được nào đấy, nó sự thổi phồng.
Nó đang thêm vào điều gì đấy
không có ở đó. Thí dụ: tôi vui
vẻ hay tôi không vui vẻ. Không
phải là bạn không vui vẻ; tôi
không vui vẻ. Khi có một kinh
nghiệm hạnh phúc hay bất hạnh,
chúng ta liên hệ nó trong những
dạng thức của tôi hạnh phúc.
Không phải rằng bạn vui vẻ và ai
đấy khác vui vẻ - tôi vui vẻ.
Cái “tôi” (‘I’ hay ‘me’) là cái
“tôi” quy ước, là điều thật sự
hiện hữu.
Hãy để chúng tôi dùng một thí dụ
cho cái “tôi” quy ước này. Giả
sử chúng ta xem một bộ phim và
hãy nói bộ phim là “Cuốn Theo
Chiều Gió”. Trong ấy, có một
cảnh vui, rồi một cảnh không
vui, và rồi một cảnh vui khác.
À…,điều gì đang xãy ra ở đây?
Màn hạnh phúc là một cảnh trong
phim “Cuốn Theo Chiều Gió” và mà
không vui là một cảnh khác của
bộ phim. “Cuốn Theo Chiều Gió”
là chúng ta đã đặt tên một cách
quy ước cho toàn thể các màn ấy,
tất cả các cảnh ấy, cả vui vẻ
hạnh phúc và buồn đau bất hạnh.
“Cuốn Theo Chiều Gió”, tuy thế,
chỉ là tiêu đề, chỉ là một cái
tên. Nhưng khi chúng ta nói về
“Cuốn Theo Chiều Gió”, chúng ta
không chỉ nói về tựa đề. Chúng
ta đang nói về bộ phim thật sự -
mà tựa đề liên hệ đến. Đấylà bộ
phim hiện hữu một cách quy ước:
nó tồn tại. Bộ phim là điều gì
đấy tách biệt khỏi mỗi màn của
những cảnh ấy – một bộ phim tách
rời và độc lập với những cảnh ấy
sẽ là một bộ phim không thật. Nó
không tồn tại. Một bộ phim tồn
tại một cách quy ước đơn thuần
là những gì có thể đặt tên hay
quy cho, chúng ta nói, trên căn
bản của những màn, những cảnh.
Tương tự thế, chúng ta có những
thời khắc hạnh phúc trong đời
sống, chúng ta có những lúc
không vui trong cuộc đời và
v.v…, và chúng ta liên hệ như
thế nào đến tất cả những điều
ấy? Chúng ta liên hệ tới nó như
cái “tôi” – cái “tôi” quy ước,
là điều thật sự hiện hữu: nó
không phải là bạn, nó là “tôi”.
Tương tự thế, bộ phim là “Cuốn
Theo Chiều Gió”, không phải là
“Chiến Tranh Các Vì Sao”. Nhưng
không có cái “tôi” tách biệt từ
những thời khắc của kinh nghiệm
hạnh phúc và bất hạnh và cái
“tôi” là điều đang kinh nghiệm
những thời khắc ấy. Đó sẽ là cái
“tôi” không thật, một cái “tôi”
không thật sự tồn tại. Và cái
“tôi” không chỉ là một từ ngữ;
vì thế cái “tôi” chỉ đơn thuần
là những gì mà từ ngữ ấy đang
liên hệ đến trên căn bản của tất
cả những thời khắc trãi qua của
một đời sống.
Sự mù mờ, thế thì, sẽ là để nghĩ
rằng có một cái “tôi” riêng biệt
nào đấy hiện diện trong thân thể
này, cư ngụ trong đấy, nối kết
với nó bằng cách nào đấy, nhấn
những nút bấm, và bây giờ cái
“tôi” ấy là đang trãi qua cái
đau trên bàn chân của tôi, và
tôi rất đau khổ và tôi không
thích điều ấy. Nó giống như có
một cái “tôi” tách biệt với toàn
bộ những kinh nghiệm bên trong
cái vật xa lạ ấy được gọi là
thân thể. Sau đó, trên căn bản
sự mê mờ rối rắm về cái “tôi”
riêng biệt – cái “tôi” không
thật này – với cái “tôi” quy ước
và đồng hóa nó với cái “tôi”
không thật, chúng ta cảm nhận,
với tham dục (ái), “tôi pahir
tách biệt khỏi sự buồn phiền
này, từ sự đớn đau này, từ sự
bất hạnh mà tôi trãi qua với cái
đau của thân thể vật lý.” Dĩ
nhiên, khi chúng ta không có
nhận thức sai lầm ấy về cái
“tôi” vững chắc, điều ấy không
có nghĩa là rằng chúng ta chỉ
ngồi đấy và tiếp tục có cái đớn
đau. Nếu bàn chân chúng ta ở
trên ngọn lửa, dĩ nhiên, chúng
ta đưa bàn chân chúng ta ra khỏi
lửa, nhưng khái niệm cái “tôi” ở
phía sau là hoàn toàn khác biệt.
Không có gì sợ hãi.
Nhưng khái niệm của một cái
“tôi” không thật đối kháng với
một cái “tôi” quy ước là rất
phức tạp và cấp tiến cao độ. Vì
thế, hãy rời nó bây giờ. Hãy
chấm dứt ở đây, thay vào đấy,
cho buổi tối hôm nay với một lời
hồi hướng. Chúng ta quán niệm:
bất cứ điều hiểu biết nào, bất
cứ năng lực tích cực nào đã đến
từ điều này, nguyện cầu tất cả
được thâm nhập càng sâu sắc hơn
hơn nữa, phát triển càng mạnh mẽ
hơn hơn nữa, và hành động như
nguyên nhân để đạt đến giác ngộ
vì lợi ích cho tất cả.
Tác giả: Alexander Berzin
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển –
15/03/2010
Introductory Lecture on Karma
http://www.berzinarchives.com/web/en/archives/sutra
/level2_lamrim/initial_scope/karma/
introductory_lecture_karma.html
|