|
1 – HỎI: Có phải lý thuyết
nghiệp báo theo lối kinh nghiệm
và khoa học, hay có phải nó được
chấp nhận trên niềm tin?
ĐÁP: Ý tưởng về nghiệp báo có ý
nghĩa trong nhiều cách, nhưng có
một số thấu hiểu sai lạc về
nghiệp báo là gì. Một số người
nghĩ nghiệp báo có nghĩa là số
mệnh hay tiền định. Nếu ai đấy
bị đụng bởi một chiếc xe hay mất
nhiều tiền trong thương trường,
họ nói, “Ô, may mắn lớn, đó là
nghiệp báo của họ.” Đó không
phải là ý tưởng của Phật giáo về
nghiệp báo. Thực tế, đó là ý
tưởng về ý chí của Thượng Đế hơn
- điều gì ấy mà chúng ta không
hiểu hay không có bất cứ sự kiểm
soát nào trên ấy.
Trong Đạo Phật, nghiệp báo liên
hệ đến những sự thúc đẩy. Căn cứ
trên những hành động trước đây
mà chúng ta đã làm, những sự
thôi thúc sinh khởi trong chúng
ta để hành động trong những cách
nào đấy hiện tại. Nghiệp báo
liên hệ đến những thúc đẩy mà nó
hình thành trong tâm thức một
người để truyền cho một năng
lượng vào ngày trước khi nó bùng
nổ hay trước khi nó hiện lên
hiệu năng của nó. Hay, ai đấy có
thể có sự thúc đẩy để băng qua
đường chỉ ngay thời điểm khi
người ấy sẽ bị một chiếc xe đụng
phải, không phải năm sớm hơn hay
năm phút trể hơn. Việc sinh khởi
sự thúc đẩy ngay thời khắc ấy là
kết quả của một hành vi nào
trước đấy hay những hành động mà
người đó đã làm. Trong kiếp
trước, thí dụ thế, người ấy có
thể đã từng tra tấn hay giết ai
đấy. Thái độ tàn hại như thế
cũng kết quả trong thủ phạm trãi
qua một tuổi thọ ngắn ngủi
thường là trong một kiếp sống
khác. Vì thế, sự thúc đẩy để
băng qua đường đã sinh khởi ngay
thời khắc để bị đụng bởi một
chiếc xe.
Một người có thể có sự thúc đẩy
để la lên hay làm bị thương ai
đấy khác. Sự thúc đẩy đến từ
những thói quen xây đắp bởi thái
độ tương tự trước đây. La lối
hay làm bị thương người khác xây
dựng một khả năng, khuynh hướng,
và thói quen cho loại thái độ
này, vì thế trong tương lai,
chúng ta làm lại nó một cách dễ
dàng. La lối với sân hận xây
dựng nên thậm chí một khả năng,
khuynh hướng, và thái độ để làm
nên một cảnh giận dữ hơn một lần
nữa.
Hút thuốc là một thí dụ khác.
Hút một điếu thuốc hành động như
một khả năng cho sự hút một điếu
thuốc khác. Nó cũng xây dựng nên
một khuynh hướng và thái độ để
hút thuốc. Như một kết quả, khi
những hoàn cảnh là đúng lúc –
hoặc là trong kiếp sống này khi
ai đấy trao cho chúng ta một
điếu thuốc hay trong đời sống
tương lai khi như một đứa bé,
chúng ta thấy người lớn hút
thuốc – sự thúc đẩy đến trong
tâm thức chúng ta để hút thuốc
và chúng ta làm thế. Hút thuốc
tạo thành không chỉ sự thúc đẩy
tinh thần để lập lại hành động,
mà cũng ảnh hưởng sự thúc đẩy
vật lý với thân thể, thí dụ, mắc
phải chứng ung thư vì hút thuốc.
Ý tưởng về nghiệp báo làm nên
nhiều ý nghĩa, vì nó giải thích
những sự thúc đẩy của chúng ta
đến từ nơi nào.
2 – HỎI: Sự tiếp thu dễ dàng và
sự thấu hiểu về Phật Pháp của
một người có thể được quyết định
trước bởi nghiệp báo hay không?
ĐÁP: Có một sự khác biệt lớn lao
giữa điều gì đấy được quyết định
trước và điều gì ấy có thể giải
thích được. Sự tiếp thu dễ dàng
và thấu hiểu Phật Pháp của chúng
ta có thể được giải thích bằng
nghiệp quả. Đấy là, như một kết
quả của sự học hỏi và thực tập
trong những đời sống trước, thế
nên chúng ta tiếp thu đễ dàng
hơn những giáo huấn bây giờ. Nếu
chúng ta có một sự thông hiểu
tốt về giáo huấn trong quá khứ
thế thì, theo bản năng tự động,
chúng ta sẽ có một sự thông hiểu
tốt một lần nữa trong kiếp sống
này. Hay, nếu chúng ta có nhiều
sự bối rối trong đời sống trước,
sự mê mờ ấy sẽ mang theo đến
kiếp sống này.
Tuy nhiên, theo Đạo Phật, những
việc không phải được quyết định
trước. Không có định mệnh hay số
phận. Khi nghiệp báo được giải
thích như những sự thúc đẩy, nó
hàm ý rằng những sự thúc đẩy là
những thứ mà chúng ta có thể
chọn lựa để hành động hay không.
Căn cứ trên những hành vi chúng
đã làm trong kiếp này và những
đời trước, chúng ta có thể giải
thích hay dự đoán những gì có
thể xảy ra trong tương lai.
Chúng ta biết rằng những hành vi
xây dựng đem đến những kết quả
an lạc hạnh phúc và những thứ
tàn phá mang lại những hậu quả
không mong muốn. Tuy thế, làm
thế nào một hành vi nghiệp báo
đặc thù chín muồi sẽ tùy thuộc
trên nhiều nhân tố, và vì thế,
nhiều thứ có thể ảnh hưởng nó.
Một sự tương tự sẽ là: nếu chúng
ta tung một quả bóng lên trên
không, chúng ta có thể tiên đoán
rằng nó sẽ rơi xuống. Giống như
thế, căn cứ trên những hành vi
trước đây, chúng ta có thể dự
đoán những gì sẽ xãy ra trong
tương lai. Tuy vậy, nếu chúng ta
có thể bắt quả bóng, nó sẽ không
rơi xuống. Tương tự vậy, trong
khi chúng ta có thể dự đoán từ
những hành vi trước đây và những
gì sẽ đến trong tương lai, nó
không tuyệt đối là, định mệnh,
và được khắc trên đá để là biểu
hiện sẽ xãy ra. Những khuynh
hướng khác, hành vi khác, trường
hợp khác và v.v… có thể ảnh
hưởng sự chín muồi của nghiệp
báo.
Khi một sự thúc đẩy đến trong
tâm thức chúng ta để làm một
hành động, chúng ta có một sự
lựa chọn. Chúng ta không giống
như những đứa con nít thể hiện
bất cứ những sự thúc đẩy nào đến
trong đầu của chúng. Xét cho
cùng, chúng ta thật học hỏi được
rèn luyện phục sức; chúng ta
không hành động ngay lập tức bất
cứ điều gì thúc giục. Điều ấy
cũng đúng cho sự thúc đẩy nói
điều gì ấy mà có thể tổn thương
người khác, hay làm điều gì ấy
độc hại. Khi một sự thúc giục
như vậy đến trong tâm thức chúng
ta, chúng ta có thể chọn lựa,
“Tôi nên hành động điều ấy ra
hay kiềm chế không làm theo điều
đó?” Đây là khả năng để phản
chiếu và phân biệt giữa những
hành vi xây dựng và tàn phá là
những gì phân loại giữa con
người với con thú. Đây là một sự
tiến bộ vĩ đại của sự biểu hiện
của một con người.
Vì thế, chúng ta có thể chọn lựa
những gì chúng ta sẽ hành động
căn cứ trên việc có đủ không
gian trong tâm thức chúng ta để
chính niệm rằng những sự thúc
đẩy đang sinh khởi. Nhiều sự rèn
luyện của Đạo Phật được liên hệ
với sự phát triển chính niệm.
Khi chúng ta chậm lại, chúng ta
trở nên tỉnh thức hơn về những
gì chúng ta đang suy nghĩ và
những gì chúng ta sắp nói hay
hành động. Thiền tập trên hơi
thở, là điều mà trong ấy chúng
ta quán sát hơi thở vào và ra,
cho chúng ta không gian để có
thể chú ý những thúc đẩy khi
chúng sinh khởi. Chúng ta bắt
đầu quán chiếu, “Tôi có sự thúc
đẩy này để nói điều gì đấy mà nó
sẽ tổn thương người khác. Nếu
tôi nói nó, nó sẽ làm nên những
khó khăn. Vì thế, tôi sẽ không
nói nó.” Chúng ta có thể chọn
lựa. Nếu chúng ta không chính
niệm, chúng ta có một sự vội vả
của những tư tưởng và những thúc
đẩymà chúng ta sẽ không có cơ
hội để lựa chọn một cách thông
tuệ. Chúng ta chỉ hành động
những gì thúc giục và điều này
thường mang đến những rắc rối
trong đời sống của chúng ta.
Vì vậy, chúng ta không thể nói
rằng mọi thứ - như sự hiểu biết
hay sự lĩnh hội của chúng ta về
Giáo Pháp – là được định trước.
Chúng ta có thể dự đoán nó,
nhưng chúng ta cũng có một không
gian mở rộng có thể thay đổi.
3 – HỎI: Có phải những người của
những tôn giáo tín ngưỡng khác
cũng trãi qua kinh nghiệm nghiệp
báo?
ĐÁP: Vâng,. Ai đấy không phải
tin tưởng trong nghiệp báo nhằm
đề trãi qua với chúng. Nếu chúng
ta nện mạnh chân chúng ta, chúng
ta không phải tin tưởng trong
nhân quả để kinh nghiệm sự đau
đớn. Thậm chí nếu chúng ta nghĩ
rằng thuốc độc là một loại nước
uống ngon lành, khi chúng ta
uống vào, chúng ta mắc bệnh.
Tương tự thế, nếu chúng ta hành
động trong một cách nào đấy, kết
quả của hành động ấy sẽ đến, cho
dù chúng ta tin tưởng trong nhân
quả hay không.
4 – HỎI: Có phải tôi là sự tiếp
tục của ai khác đấy người đã
sống trước đây? Có phải giáo lý
Đạo Phật về tái sinh là là một
lý thuyết siêu hinh hay là một
loại khoa học? Giáo sư nói rằng
Phật giáo là dựa trên lý trí và
khoa học. Điều này cũng có thể
áp dụng vào sự tái sinh không?
ĐÁP: Có vài điểm ở đây. Một là:
làm thế nào chúng ta chứng tỏ
điều gì ấy một cách khoa học?
Điều này đưa lên một chủ đề: làm
thế nào chúng ta biết những sự
việc một cách có giá trị? Theo
giáo huấn của Phật giáo, mọi vật
có thể được biết một cách có giá
trị trong hai cách: bằng nhận
thức trực tiếp và bằng sự suy
luận. Bằng một cuộc thí nghiệm
trong phòng chuyên môn, chúng ta
có thể đánh giá sự hiện hữu của
điều gì ấy qua nhận thức thẳng
thắn. Chúng ta phải dựa vào sự
hợp lý logic, lý trí và suy luận.
Tái sinh là rất khó để minh
chứng bằng những phương tiện của
nhận thức thẳng thắn ý nghĩa,
mặc dù có một câu chuyện về một
vị thầy Phật giáo lâu xưa ở Ấn
Độ, người đã chết, tái sinh và
sau đó nói, “Đây là tôi một lần
nữa.” Nhầm đề chứng minh đến vị
vua rằng tái sinh hiện hữu. Có
nhiều thí dụ về những người nhớ
lại những đời trước của họ và
những người có thể xác định rõ
ràng những vật tùy thân của họ
hoặc là những người họ biết
trước đây.
Đề qua một bên những chuyện đó,
cũng có sự hợp lý tuyệt đối của
tái sinh. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã
từng nói rằng nếu những điểm nào
đấy không phù hợp với thực tế,
ngài sẽ quyết để cho chúng bị
loại ra khỏi Phật giáo. Điều này
cũng áp dụng vào tái sinh. Thực
tế, ngài tuyên bố lời này một
cách độc đáo trong hoàn cảnh ấy.
Nếu khoa học có thể chứng minh
rằng tái sinh không hiện hữu,
sau đấy chúng ta phải buông bỏ
sự tin tưởng điều ấy là sự thật.
Tuy thế, nếu khoa học không thể
minh chứng rằng nó sai, thế thì
bởi vì họ tuân theo sự hợp lý
của những phương pháp khoa học,
là điều cởi mở với sự thông hiểu
về những điều mới mẻ, họ phải
kháo sát nó có hiện hữu hay
không. Để chứng minh tái sinh là
không hiện hữu, họ sẽ phải tìm
ra sự không tồn tại của nó. Chỉ
nói là, “Tái sinh không hiện hữu
bởi vì tôi không thấy nó với đôi
mắt của tôi” là không tìm ra sự
không tồn tại của tái sinh.
Nhiều việc hiện hữu mà chúng ta
không thể thấy bằng đôi mắt của
chúng ta.
Nếu những nhà khoa học không thể
chứng tỏ sư không tồn tại của
tái sinh, thế thì họ cần phải có
nhiệm vụ để khảo sát nếu tái
sinh thật tự hiện hữu trong thực
tế. Phương pháp khoa học là đặt
thành định đề trên những dữ liệu
nào đấy và rồi thì kiểm nghiệm
coi nó có giá trị hay không. Do
vậy, chúng ta nhìn vào dữ liệu.
Thí dụ, chúng ta chú ý rằng
những đứa bé không được sinh ra
như một băng thu âm hoàn toàn
trống rỗng. Chúng có những thói
quen và những đặc trưng cá nhân
nào đấy có thể quán sát ngay cả
khi chúng rất trẻ. Những thứ này
đến từ chốn nào?
Thật vô lý nếu nói rầng những
thứ ấy chỉ đến từ những sự tiếp
diễn của những thứ vật chất vật
lý cuẩ cha mẹ chúng, từ tinh
trùng và noãn châu. Không phải
mọi tinh trùng và noãn châu đến
cùng với nhau thâm nhập vào tử
cung để lớn lên thành bào thai.
Điều gì làm nên sự khác biệt
giữa việc khi chúng thật sự trở
thành một đứa bé và khi chúng
không hình thành bào thai? Điều
gì thật sự làm nên những thói
quen và những thiên hướng khác
nhau trong đứa trẻ? Chúng ta có
thể nói nó là DNA và những gien.
Đây là phía vật lý. Không ai có
thể phủ nhận rằng đây là khía
cạnh vật lý của việc làm thế nào
một đứa bé hình thành nên sự
hiện hữu. Tuy thế, những gì về
phía kinh nghiệm thì thế nào?
Làm thế nào chúng ta giải thích
cho tâm thức?
Từ Anh ngữ ‘mind’ dịch là ‘tâm
thức’ không có cùng ý nghĩa như
trong thuật ngữ của tiếng Phạn
hay Tạng mà nó đáng lẻ được dịch.
Trong ngôn ngữ nguyên thủy, ‘tâm
thức’ hay ‘mind’ liên hệ đến
hành vi tinh thần hay sự tinh
thần, hơn là điều gì đấy đang
làm hành động ấy. Hành động hay
sự kiện là sự khởi sinh nhận
thức của những thứ nào đấy – tư
tưởng, hình sắc, âm thinh, cảm
xúc, cảm giác và v.v…- và sự
nhận thức liên hệ với chúng –
thấy chúng, nghe chúng, hiểu
chúng, và ngay cả không hiểu
chúng. Hai đặc trưng này của tâm
thức thông thường được dịch như
“sự trong sáng” và “tỉnh thức”,
nhưng những từ ngữ tiếng Anh này
cũng không không hẳn đúng.
Hành vi tinh thần của sự sinh
khởi và sự liên quan với đối
tượng nhận thức trong một cá
nhân đến từ nơi nào? Ở đây,
chúng ta không nói về điều thân
thể đến từ đâu, vì điều đó rõ
ràng đến từ cha mẹ. Chúng ta
không nói về sự thông minh và
v.v…, bởi vì chúng ta cũng có
thể đưa đến một sự tranh luận
rằng có một cơ sở di truyền cho
điều ấy. Tuy thế, đề nói rằng sự
ưa thích của ai đấy về kem sô cô
la đến từ gien của một người là
sự mở rộng quá xa.
Chúng ta có thể nói rằng một số
sự hứng thú của chúng ta có thể
bị ảnh hưởng với gia đình chúng
ta hay bởi những tình trạng kinh
tế hay xã hội mà chúng ta đang
liên hệ trong ấy. Đây là những
yếu tố có một sự ảnh hưởng rõ
ràng, nhưng khó khăn để giải
thích một cách chắc chắn mọi thứ
mà chúng ta hành động trong cách
ấy. Thí dụ, tại sao tôi trở nên
thích thú với yoga như một đứa
con nít? Không ai trong gia đình
tôi hay trong xã hội chung quanh
tôi có thói quen ấy. Có một số
sách sẳn sàng trong vùng mà tôi
đang sống, vì thế bạn có thể nói
có một số ảnh hưởng nào đấy từ
xã hội, nhưng tại sao tôi thích
thú trong loại sách đặc thù ấy
về hatha yoga? Tại sao tôi cầm
nó lên? Đây là một câu hỏi khác.
Hãy đặt những thứ này qua một
bên, chúng ta hãy trở lại câu
hỏi chính: hành vi sinh khởi
những đối tượng nhận thức và một
liên hệ nhận thức trong chúng
đến từ nơi nào? Khả năng lĩnh
hội này đến từ chốn nào? Sự sống
bừng chớp lên từ chốn nào? Điều
gì làm nên sự phối hợp của tinh
trùng và noãn châu có một sự
sống thật sự? Điều gì làm nó trở
nên một con người? Điều gì cho
phép sự sinh khởi của những thứ
như tư tưởng và cái thấy và điều
gì làm nên sự liên hệ nhận thức
với chúng, cái nào là phía kinh
nghiệm của hoạt động hóa học và
vật lý của bộ não?
Khó khăn để nói rằng hành vi
tinh thần của một đứa bé sơ sinh
đến từ cha mẹ bởi vì nếu là như
thế, nó đến từ cha mẹ như thế
nào? Phải có một cơ cấu nào đấy
liên hệ. Có phải tia chớp của
đời sống – được đặc trưng bởi sự
tỉnh thức của mọi thứ - đến từ
cha mẹ cùng cách của tinh trùng
và noãn châu đã làm hay không?
Có phải nó với kích thích cực
điểm? Với sinh học? Có phải là
tinh trùng? Noãn châu? Nếu chúng
ta có thể không thể nêu lên với
sự biểu lộ hợp lý, khoa học của
việc nó đến từ cha mẹ khi nào,
thế thì chúng ta phải tìm một
giải pháp khác.
Nhìn với sự hợp lý (logic) tuyệt
đối, chúng ta thấy rằng tất cả
những hiện tượng của chức năng
hoạt động đến từ chính sự liên
tục tâm linh của chính họ, từ
những khuynh hướng mô-men
(moment) trước của điều gì đấy
trong những hiện tượng cùng đặc
trưng. Thí dụ, một hiện tượng
vật lý, nó là vật chất hay năng
lượng, đến từ những khuynh hướng
quán tính trước của vật chất hay
năng lượng ấy. Nó là sự tiếp
diễn.
Hãy lấy sân hận như một thí dụ.
Chúng ta có thể nói về năng
lượng vật lý chúng ta cảm nhận
khi chúng ta giận dữ, đấy là một
thứ. Tuy thế, hãy lưu tâm hành
vi tinh thần của sự sân hận trãi
qua – kinh nghiệm sự sinh khởi
của cảm xúc và sự tỉnh thức có ý
hay vô ý của nó. Một kinh nghiệm
cá nhân của sân hận có khuynh
hướng mô-men trước của chính nó
về sự liên tục trong kiếp sống
này, nhưng nó đã đến từ nơi nào
trước đấy? Hoặ là nó đến từ cha
mẹ, và ở đấy dường như nó không
có cơ cấu để diễn tả nó xãy ra
như thế nào, hay nó đến từ một
Thượng đế tạo hóa. Nhưng rồi thì
chúng ta cần giải thích tại sao
một Thượng đế bác ái nhân từ lại
tạo nên sự sân hận trong chúng
ta , và có phải một đấng tạo hóa
nhân ái cần phải giận dữ nhằm để
tạo nên sự sân hận trong những
tạo vật của Ngài? Điều này khó
khăn để thấu hiểu. Một cách lựa
chọn, chúng ta phải nói nó đến
từ khuynh quán tính trước của sự
tiếp diễn của chính nó. Học
thuyết về tái sinh giải thích
giống như thế này.
Chúng ta có thể cố gắng để thấu
hiểu tái sinh với sự tương tự
của một bộ phim. Giống như một
bộ phim là một sự tiếp diễn của
những tấm ảnh của phim, sự tiếp
diễn của tinh thần hay dòng suối
tâm là những sự tiếp diễn của
những thời khắc thay đổi không
ngừng của tỉnh thức của những
hiện tượng trong một kiếp sống
và từ đời sống này đến đời sống
tới. Không có một thực thể cững
nhắc, có thể tìm thấy như “tôi”
hay “tâm thức của tôi”, điều ấy
chịu sự tái sinh. Tái sinh không
giống sự tương tự của một bức
tượng nho nhỏ ngồi trên một băng
tải, đi từ đời sống này đến đời
sống kế. Đúng hơn, nó giống như
một bộ phim, điều gì ấy liên tục
thay đổi. Mỗi hình ảnh là khác
nhau nhưng có sự tiếp tục trong
nó. Mỗi hình ảnh liên hệ đến
hình ảnh kế tiếp. Tương tự, có
một sự tương tục chuyển biến
liên tục của những thời khắc của
tỉnh thức của những hiện tượng,
ngay cả nếu một số thời khắc ấy
là vô ý thức. Xa hơn nữa, giống
như những bộ phim không giống
nhau, mặc dù chúng là tất cả
những bộ phim, giống như thế tất
cả những sự tương tục tinh thần
hay “những tâm thức” không là
một tâm thức. Có vô số những
dòng suối cá nhân của sự tương
tục tỉnh thức của những hiện
tượng.
Đây là những tranh luận mà chúng
ta bắt đầu khảo sát từ quan điểm
khoa học và có lý trí. Nếu lý
thuyết có ý nghĩa một cách hợp
lý (logic), thế thì chúng ta có
thể quan tâm một cách nghiêm
chỉnh hơn ở sự kiện rằng có
những người nhớ những đời sống
quá khứ của họ. Trong cách này,
chúng ta có thể thẩm tra sự hiện
hữu của tái sinh từ sự tiếp cận
của khoa học.
5 – HỎI: Đạo Phật nói rằng không
có linh hồn và tự ngã. Thế thì
điều gì tái sinh ?
ĐÁP: Một lần nữa, sự tương tự
của tái sinh không là một linh
hồn nào đấy, giống như một bức
tượng cứng nhắc nho nhỏ hay một
người, du hành trên một băng tải
từ đời này đến đời khác. Băng
tải đại diện thời gian và hình
ảnh bao hàm là một vật gì đấy
cứng nhắc, một cá thể cố định
hay linh hồn gọi là “tôi” đi qua
thời gian: “Bây giờ tôi trẻ, bây
giờ tôi già; bây giờ tôi trong
kiếp sống này, bây giờ tôi ở
trong đời sống ấy.” Đây không là
quan điểm của Phật giáo về tái
sinh. Đúng hơn, sự tương tự
giống như một bộ phim. Có một sự
tương tục với một bộ phim; những
hình ảnh hình thành một sự tiếp
diễn.
Đạo Phật cũng không nói rằng tôi
thành bạn, hay chúng ta là một.
Nếu chúng ta là một, và tôi là
bạn, thế thì chúng ta cùng đói
bụng, bạn có thể chờ đợi trong
xe trong khi tôi đi ăn. Nó không
giống như thế. Mỗi chúng ta có
một dòng suối cá nhân tương tục.
Cảnh trong phim của tôi sẽ không
biến thành phim của bạn, nhưng
những đời sống của chúng ta tiến
triển như những bộ phim trong ý
nghĩa rằng chúng không cứng nhắc
và cố định. Đời sống tiếp diễn
từ một khung ảnh này đến một
khung ảnh khác. Nó tuân theo một
sự tiến triển, tùy theo nghiệp
quả, và vì thế hình thành một sự
tương tục.
6 – HỎI: Những sự thúc đẩy khác
nhau cất chứa trong tâm thức như
thế nào và chúng trổi dậy như
thế nào?
ĐÁP: Điều này có hơi phức tạp.
Chúng ta hành động trong một
cung cách nào đấy, thí dụ, chúng
ta hút một điếu thuốc. Do vì có
một năng lượng nào đấy liên hệ
trong sự hút một điếu thuốc,
hành động ấy thể hiện như một
khả năng hay một năng lực để hút
một điếu thuốc khác. Có một tổng
năng lượng, mà nó chấm hết khi
một hành động chấm dứt, nhưng
cũng có một năng lượng vi tế
tiềm ẩn, mà nó là năng lượng khả
dĩ để lập lại hành động. Năng
lượng vi tế tiềm ẩn ấy của khả
năng hút thuốc được mang theo
với chính năng lượng vi tế nhất
mà nó cùng với chính tâm thức vi
tế nhất thích ứng đến trình độ
vi tế của hành vi của nhận thức
và tỉnh giác, trong khi năng
lượng vi tế nhất thích ứng đến
chính sự sống vi tế - năng lượng
hổ trợ giúp cho hành động này.
Cùng với nhau, chúng cấu thành
điều mà chúng ta gọi là “tia
chớp của sự sống”. Chúng là điều
đi từ đời sống này đến đời sống
khác. Những khả năng của nghiệp
báo được mang theo cùng với tia
chớp của sự sống.
Những khuynh hướng và những thói
quen cũng dược mang theo, nhưng
chúng không phải là vật lý tính.
Thói quen là gì? Thí dụ, chúng
ta có một thói quen uống trà.
Chúng ta uống trà sáng nay và
sáng hôm qua và những ngày trước
đó. Thói quen không là một tách
trà vật lý; nó không là tâm thức
chúng ta nói, “Uống trà.” Nó chỉ
là một sự tiếp triển của những
sự kiện tương tự - uống trà
nhiều lần. Căn cứ trên sự tiến
triển ấy, như một cử chỉ nói
năng, chúng ta nói hay “quy cho”
rằng có một thói quen về uống
trà. Chúng ta đặt tên cho sự
tiến triển là “thói quen uống
trà.” Một thói quen không là
điều gì vật lý, nhưng đúng hơn
nó là một khái niệm trừu tượng
xây dựng nên từ lối nói năng về
một sự tiến triển của những sự
kiện tương tự. Căn cứ trên điều
ấy, chúng ta có thể tiên đoán
rằng điều tương tự gì đấy sẽ xãy
ra trong tương lai.
Nó tương tự như khi chúng ta nói
về những thói quen, bản năng hay
khuynh hướng được mang đến tương
lai. Không có tính vật lý được
mang theo. Tuy nhiên, trên căn
bản của những khuynh hướng quán
tính của sự tương tục tinh thần,
chúng ta có thể nói có những thí
dụ tương tự tại lúc này và lúc
kia, và vì thế sẽ có những thí
dụ tương tự trong tương lai.
7 – HỎI: Nếu sự sống liên hệ sự
di chuyển của tâm thức, vậy có
bất cứ sự bắt đầu nào không?
ĐÁP: Đạo Phật dạy rằng không có
sự bắt đầu (vô thủy). Một sự bắt
đầu là không hợp lý (không
logic). Sự tương tục của vật
chât, năng lượng, và những tâm
thức con người là không có sự
bắt đầu. Nếu chúng có một sự bắt
đầu sự bắt đầu này đến từ chốn
nào? Điều gì trước sự bắt đầu?
Một số người nói, “Chúng ta cần
một sự bắt đầu. Do thế, Thượng
đế tạo nên mọi thứ.” Họ thừa
nhận một Thượng đế tạo hóa, kẻ
được ban cho nhiều tên gọi trong
những tôn giáo khác nhau. Vấn đề
mà một Phật tử sẽ hỏi là,
“Thượng đế đến từ chốn nào?
Thượng đế có sự bắt đầu không?
“Hoặc là họ sẽ trả lời rằng
Thượng đế là không có bắt đầu,
tại điểm mà người Phật tử tranh
luận sẽ nói, “A ha, không có sự
bắt đầu,” hay họ sẽ phải chỉ ra
điều gì đấy hay ai đấy tạo nên
Thượng đế, mà điều này mâu thuẩn
với chính triết lý của họ.
Một người vô thần nói, “Không có
Thượng đế. Mọi thứ đã đến từ sự
không có. Vũ trụ hình thành từ
số không. Sự tiếp diễn của tinh
thần chúng ta đến từ sự không
tồn tại.” Thế thì chúng ta hỏi,
“Số không ấy đến từ chốn nào?”
Họ nói, “Không có gì ấy luôn
luôn chung quanh. Luôn luôn có
không có gì. Không có gì không
có sự bắt đầu.” Thế là một lần
nữa, chúng ta trở lại sự không
có bắt đầu (vô thủy). Bất chấp
trả lời được đưa ra là gì chúng
ta trở lại không có bắt đầu.
Nếu không có bắt đầu là kết luận
duy nhất hợp lý chúng ta có thể
đến, sau đó chúng ta thẩm tra:
“Có thể cho điều gì đấy mà thực
hiện chức năng đến từ không có
gì hay không? Làm thế nào không
có gì có thể sản sinh điều gì
đấy?” Điều đó không làm nên trò
trống gì; mọi thứ cần phải có
nguyên nhân. Sự giải thích kia,
rằng có một đấng tạo hóa, có làm
nên ý nghĩa gì không? Chúng ta
cần thẩm tra rằng sự thừa nhận
càng gần hơn. Thí dụ, nếu có một
thần linh quyền năng vô hạn hay
ngay cả nếu một sự kiện hoàn
toàn vật lý Big Bang tạo nên mọi
thứ, thế thì có phải sự tạo hóa
xãy ra tại một thời điểm nào đấy
do bởi sự ảnh hưởng của một động
cơ, khuynh hướng, hay một hoàn
cảnh? Nếu nó làm thế, thế thì
điều ảnh hưởng sự sáng tạo mọi
thứ đã tồn tại trước khi sự sáng
tạo nên mọi thứ, và điều đó vô
nghĩa. Nếu một đấng sáng tạo là
cả từ bi và vô thủy, thế thì
đấng tạo hóa ấy tạo nên từ bi
như thế nào? Từ bi đã tồn tại
rồi.
Sự lựa chọn thứ ba được quan tâm
là có phải mọi thứ tiếp tục với
vô thủy? Điều này là sự tiếp cận
khoa học hơn mà tùy thuộc với ý
tưởng rằng vật chất không được
tạo nên cũng không bị hủy diệt,
chỉ chuyển hóa. Nó giống với sự
tương tục tinh thần của con
người. Không có sự bắt đầu, và
mọi thứ chuyển biến một cách phụ
thuộc, do bởi nguyên nhân và
hoàn cảnh.
8 – HỎI: Đức Phật đã nói với môn
đồ rằng Ngài không phải là
Thượng đế. Nếu đúng như thế, vậy
thì vai trò của nguyện cầu trong
Đạo Phật là gì?
ĐÁP: Vấn đề chính quan tâm đến
cầu nguyện là câu hỏi ‘Ai đấy
khác có thể tiêu trừ những khổ
đau và những rắc rối của chúng
ta hay không? Đức Phật nói rằng
không ai có thể giải trừ tất cả
những vấn đề rắc rối của chúng
ta trong một cách giống như
chúng ta nắm lỗ tai của con thỏ
và kéo nó ra khỏi một hoàn cảnh
khó khăn. Điều đó là không thể
được. Chúng ta tiếp nhận trách
nhiệm của chính mình cho những
gì xãy ra đến chúng ta. Do thế,
nếu chúng ta ước nguyện tạo nên
những nguyên nhân cho an lạc
hạnh phúc và để tránh những
nguyên nhân cho rắc rối, thì
chúng ta cần phải tuân theo
những đạo đức và hạnh kiểm trong
sạch. Nếu chúng ta muốn đời sống
của chúng ta cải thiện, nó tùy
thuộc chúng ta thay đổi cách cử
xử và những thái độ nhằm để tác
động những gì sẽ xảy ra trong
tương lai.
Chúng ta nguyện cầu trong Đạo
Phật, chúng ta không đòi hỏi:
“Lạy Phật, nguyện cầu Ngài cho
con một chiếc Mercedes!” Không
ai trên bầu trời có thể ban nó
cho chúng ta. Đúng hơn, bằng sự
nguyện cầu chúng ta đang thiết
lập một ước nguyện mạnh mẽ cho
điều gì đấy xãy ra. Những thái
độ và hành động của chúng ta làm
nó xãy ra; nhưng, tuy thế, chư
Phật và chư Bồ tát có thể truyền
cảm hứng cho chúng ta.
Đôi khi, trong thuật ngữ cho
“truyền cảm hứng” được diễn dịch
như “gia hộ”, nhưng đây là sự
chuyển tải rất nghèo nàn. Chư
Phật và Bồ tát có thể truyền cảm
hứng cho chúng ta bằng những mẫu
mực của các Ngài. Các ngài có
thể truyền dạy hay chỉ cho chúng
ta phương pháp, nhưng chúng ta
phải tự mình hành động. Như lời
nói là, “Bạn có thể đưa con ngựa
đến nguồn nước nhưng bạn không
thể uống thay cho nó.” Con ngựa
phải tự nó uống nước. Giống như
thế, chúng ta cần tự mình đi
theo con đường và đạt đến sự
thực chứng tự mình và làm những
vấn đề rắc rối của chúng ta dừng
lại. Chúng ta không thể đẩy
trách nhiệm ấy vào một thần linh
toàn năng ngoại tại, nghĩ rằng,
“Ngài là năng lực vô cùng, ngài
làm việc đó cho con. Con giao
phó thân mạng con trong tay
ngài.” Đúng hơn, trong Phật
giáo, chúng ta nhìn chư Phật cho
sự truyền năng lực, truyền cảm
hứng để nâng đở chúng ta bằng
những tấm gương của các ngài.
Qua sự truyền cảm hứng của các
ngài và những sự dạy bảo của các
ngài, các ngài hổ trợ chúng ta
và hướng dẫn chúng ta. Tuy
nhiên, chúng ta cần phát triển
tiềm năng từ chính phía chúng ta
để tiếp nhận sự truyền năng lực
của các ngài. Hành động căn bản
chúng ta phải tự tiến hành.
Nhiều sự hiểu sai lạc về Đạo
Phật sinh khởi do bởi sự chuyển
dịch nghèo nàn những thuật ngữ
và những khái niệm Phật giáo
sang Anh ngữ và những ngoại ngữ
khác. Thí dụ, nhiều thuật ngữ
chuyển dịch dùng để chuyển ngữ
Phật giáo sang Anh ngữ được tạo
ra bởi những người biên soạn từ
điển Phật giáo từ thế kỷ trước,
hay thậm chí sớm hơn. Những học
giả sớm sủa này thường đến từ
những đoàn truyền giáo hay thời
nữ hoàng Victoria và họ chọn lựa
những thuật ngữ mà chúng đến từ
sự giáo dục của chính họ. Nhiều
từ ngữ họ chọn, tuy thế, không
truyền tãi một cách chính xác ý
nghĩa nhằm tới trong Phật giáo.
Khi chúng ta đọc những chữ này,
chúng ta nghĩ chúng có nghĩa
giống như chúng có trong Ki Tô
giáo hay thời kỳ nữ hoàng
Victoria thiết lập, trong thực
tế, chúng không phải như thế.
Thí dụ những chữ như: bless –
gia hộ, sin – tội lỗi, virtuous
– đạo đức, nonvictuous – phi đạo
đức, confession – xưng tội, sám
hối, và v.v… Trong Ki Tô giáo,
chúng có sự hàm ý của một loại
phán xét đạo đức, tưởng thưởng
và trừng phạt. Tuy thế, khái
niệm Phật giáo hoàn toàn không
là những điều này. Nó tương tự
với chữ “blessing – gia hộ , phù
hộ”. Những từ ngữ này đến từ một
truyền thống văn hóa khác biệt.
Do thế, trong nghiên cứu Phật
giáo, điều rất quan trọng là
phải dọn dẹp càng nhiều càng tốt
màn sương văn hóa phủ trên những
từ ngữ mà những dịch giả trước
đây đã dùng. Họ là những nhà
khai phá lớn về nghiên cứu Phật
giáo và chúng ta phải cảm ơn cho
những nổ lực vô giá của họ. Tuy
thế, bây giờ chúng ta cần phải
trở lại một lần nữa những ngôn
ngữ nguyên thủy của kinh luận và
thông hiểu những khái niệm Phật
giáo bằng những sự định nghĩa
của chúng trong những ngôn ngữ
ấy và đặt chúng vào trong những
từ ngữ tiếng Anh hay thành ngữ
mà phù hợp với những ý nghĩa của
chúng.
9 – HỎI: Phật giáo nói gì về
thuyết tiến hóa của Darwin?
ĐÁP: Học thuyết của Darwin trình
bày sự tiến hóa có thể có của
thân thể vào trong điều mà sự
tương tục tinh thần có thể phải
tái sinh trong nhiều kỷ nguyên
của lịch sử của trái đất. Nó
không diễn tả sự tiến hóa của
thân thể mà một sự tương tục
tinh thần của cá thể sẽ phải
tiếp nhận trong những đời sống
sau. Có một sự khác biệt lớn lao
giữa những hình thái thật sự của
sự sống vật lý trên hành tinh
này và sự tương tục của dòng
suối tâm linh được tái sinh
trong chúng.
Một số giải thích về sự tiến hóa
trong kinh luận Phật giáo có thể
dường như hơi lạ đối với chúng
ta. Chúng nói về những chúng
sinh đã ở trong những hoàn cảnh
tốt hơn chúng ta trong quá khứ
và rồi thì bị làm cho xấu đi.
Cho dù điều này là đúng hay
không đi nữa cần phải khảo sát.
Không phải tất cả mọi thứ mà Đức
Phật và hàng môn đồ của ngài đã
dạy có thể được chứng thực bởi
khoa học, và những thứ không
thể, Đức Đạt Lai Lạt Ma đang tự
nguyện để nó qua một bên. Những
đạo sư có thể đã đưa ra những
giảng giải dường như lạ lùng vì
những lý do đặc thù và không có
ý định để chúng được tượng trưng
đúng theo nghĩa đen như vậy.
Chúng có thể biểu hiện cho những
sự thật đa dạng của xã hội hay
tâm lý.
Tuy nhiên, trong phạm vi của
thuyết tiến hóa, đã có một thời
với những con khủng long và bây
giờ chúng bị tiệt chủng. Không
còn có nghiệp báo hay những thúc
đẩy rơi rớt lại để cho chúng
sinh phải tái sinh như những con
khủng long trên hành tình hiện
nay. Có những căn bản thân thể
vật lý khác biệt sẳn sàng cho
những dòng suối tâm linh tiếp
nhận như một thân thể bây giờ.
Nó không mâu thuẩn với những sự
giải thích của Đạo Phật cho
những cơ sở thân thể sẳn sàng
cho tái sinh thay đổi theo thời
gian.
Trong một cuộc thảo luận mà Đức
Đạt Lai Lạt Ma có với những nhà
khoa học, ngài đã được hỏi những
máy điện toán có thể trở thành
những chúng sinh hay không:
Những máy điện toán có thể một
ngày nào đấy có tâm thức hay
không? Ngài đã trả lời trong một
cung cách hấp dẫn, nói rằng nếu
một máy điện toán hay một rô bô
đạt tời một điểm mà nó có thể
phức tạp đủ để phục vụ như một
căn bản cho một sự tương tục
tinh thần, không có lý do nào
tại sao mà một dòng suối tâm
không thể nối kết với một máy
móc hoàn toàn vô cơ như một căn
bản thân thể vật lý cho một
chúng sinh sống với sự sống của
nó. Điều này quả là vượt xa hơn
Darwin!
Điều này không nói rằng một máy
điện toán là một tâm thức. Nó
không nói rằng chúng ta có thể
tạo nên một tâm thức nhân tạo
trong một máy điện toán. Tuy
nhiên, nếu một máy điện toán
phức tạp đúng mức, một dòng suối
tâm thức có thể nối kết với nó
và nhận nó như căn bản vật lý
hay thân thể.
Tư tưởng tiếp cận xa xôi như thế
làm cho con người của kỷ nguyên
hiện đại thích thú và hấp dẫn
với Đạo Phật. Người Phật tử mạnh
dạn và sẳn sàng tiến vào những
thảo luận này với những nhà khoa
học và để đối diện với những vấn
đề phổ biến trong thế giới hiện
đại. Phật giáo sống động và sôi
nổi trong cung cách này. Đạo
Phật không chỉ có tuệ trí cổ đại
từ những sự trao truyền không
đứt đoạn của Đức Phật, mà cũng
đầy khí lực và đối diện với
những vấn đề của hiện tại và
tương lai.
10 – HỎI: Điều gì xãy ra đến
dòng suối tâm khi một người trở
thành một vị Phật?
ĐÁP: Trước khi trả lời câu hỏi
này, chúng tôi phải trả lời rằng
Đức Phật dạy cho nhiều người.
Không phải mọi người đều giống
nhau. Chúng ta có những thiên
hướng và khả năng khác nhau. Đức
Phật thiện xảo vô vàn và ban cho
những giáo huấn đa dạng vì thế
mỗi người có thể tìm thấy một sự
tiếp cận thích ứng cho đặc trưng
hay khuynh hướng của người ấy.
Do thế, những truyền thống quan
trọng của giáo lý Đạo Phật là
Tiểu thừa cho những hành giả có
đầu óc bình thường và Đại thừa
cho những hành giả có đầu óc
rộng rãi. Trong mười tám bộ phái
Phật giáo Tiểu thừa hiện hữu
trong thời xưa, Thượng tọa bộ
hay Theravada là bộ phái duy
nhất còn hiện diện đến ngày nay.
Nếu Đức Phật muốn nói đến ai
đấy, người bình thường trong sự
cảm hứng và mục tiêu, rằng dòng
suối tâm của mọi người tồn tại
mãi mãi, người ấy có thể trở nên
mất can đảm. Một số người bị
tràn ngập với những vấn đề rắc
rối của chính họ, và vì thế, đối
với họ Đức Phật nói, “Con có thể
xa rời những vấn đề rắc rối của
con, trở thành một vị giải thoát
– một bậc a la hớn – và đạt đến
niết bàn. Khi con lìa đời con
thể chứng bát niết nàn
(parinirvana). Vào lúc ấy, dòng
suối tâm của con chấm dứt, giống
như một cây nến vụt tắt khi dòng
sáp của nó cạn tận.” Đối với
người ấy, một giải thích như thế
sẽ là lời cổ vũ rất mạnh mẽ, đối
với người nguyện ước thoát ly
khỏi vòng tuần hoàn tái diễn
liên tục của những rắc rối và
tái sinh, và không phải bị quấy
rầy nữa. Do vậy, nó có hiệu lực
với loại người ấy. Tuy nhiên,
nên chú ý rằng, Đức Phật không
dạy rằng cuối cùng, tất cả những
dòng suối tâm trở thành một như
những dòng suối nước hòa hiệp
trong đại dương. Đấy là sự giải
thích của Ấn Độ giáo.
Đối với người có đầu óc rộng rãi
hơn, Đức Phật sẽ nói, “Ta đưa ra
lời giải thích trước để làm lợi
ích cho những ai bình thường.
Tuy thế, nhưng không có nghĩa
rằng những gì ta giải thích thật
là như vậy bởi vì, thực tế, dòng
suối tâm sẽ tiếp diễn mãi mãi.
Sau khi con đã loại bỏ những vấn
đề rắc rối của con và thể chứng
niết bàn, phẩm chất của tâm con
thay đổi. Tâm con không tiếp tục
trong hình thức rắc rối giống
như trước đây.” Vì vậy, đến
những người có khuynh hướng tâm
tư rộng lớn để đạt đến giác ngộ,
Đức Phật giải thích rằng thực tế
dòng suối tâm tồn tại mãi mãi –
không có bắt đầu, không có chấm
dứt (vô thủy, vô chung). Khi
những bậc giác ngộ rời thân thể
hiện tại, dòng suối tâm của các
ngài vẫn tiếp tục.
Có một sự khác nhau giữa những
vị a la hớn, những vị giải
thoát, đạt đến niết bàn, và
những Đức Phật, bậc hoàn toàn
giác ngộ. Trong khi a la hớn tự
do với những rắc rối của họ, khổ
đau và nguyên nhân của nó; những
Đức Phật đã vượt thắng tất cả
những sự giới hạn và thể chứng
tất cả những khả năng nhằm để
lợi ích mọi người trong những
phương tiện hiệu quả nhất.
11 – HỎI: Có phải thể trạng niết
bàn là thường trú? Khi chúng ta
đạt đến giác ngộ, chúng ta đạt
được một thể trạng bình đẳng của
xả, là điều không phải vui cũng
chăng phải buồn. Điều ấy đúng
hơn không phải là vô tri vô giác
hay chậm hiểu chứ?
ĐÁP: Chúng ta phải cần thận về
việc chúng ta dùng từ ngữ thường
trụ (permanent) như thế nào. Đôi
khi nó có nghĩa là tĩnh lặng hay
chẳng bao giờ thay đổi. Một ý
nghĩa khác của thường trụ
(permanent) là tồn tại mãi mãi.
Khi chúng ta thể chứng niết bàn,
chúng ta xa lìa tất cả mọi vấn
đề rắc rối của chúng ta. Thể
trạng ấy tồn tại mãi mãi – một
khi những rắc rối đã biến đi,
chúng đi luôn vĩnh viễn và không
trở lại; thể trạng sẽ luôn luôn
là như thế. Tuy nhiên, chúng ta
không bao giờ nên hiểu với ý
tưởng rằng niết bàn là thường
trụ vì thế nó vững chắc và cụ
thể và chúng ta không phải làm
gì trong ấy. Nó cũng không phải
thế. Khi chúng ta thể chứng niết
bàn, chúng ta có thể tiếp tục hổ
trợ người khác và hoạt động mọi
thứ. Niết bàn là không thường
trụ trong ý nghĩa tất cả mọi
hành vi ngừng dứt và không có
bất cứ điều gì xãy ra. Chúng ta
phải hơi chính xác hơn về việc
sử dụng từ ngữ thường trụ
(permanent) và phải cảnh giác về
ý nghĩa rộng rãi của nó. Thể
trạng của niết bàn tự nó không
thay đổi; nó tồn tại mãi mãi.
Tuy nhiên, cá nhân thể chứng thể
trạng như thế tiếp tục hành
hoạt.
“Bình đẳng tính” (equanimity)
cũng có vài ý nghĩa rộng rãi là
thư thái hay xả. Nó có thể có
nghĩa là một cảm giác trung tính
của sự thể hiện không vui cũng
không buồn, nhưng đấy không phải
là điều chư Phật trãi qua. Một
số chư thiên tầng cao miệt mài
sâu trong những tầng thiền định
vượt ngoài những cảm giác vui
hay buồn; họ kinh nghiệm một cảm
giác hoàn toàn trung tính trong
những sự nhập định này. Đức Phật
cũng từ bỏ những cảm giác như
thế, vì chúng liên quan đến mê
muội. Khi chúng ta xa lìa tất cả
những rắc rối và những giới hạn,
chúng ta phóng ra một khối năng
lượng to lớn mà trước đây nó kết
chặc với những chứng rối loạn
thần kinh, băn khoăn và lo lắng.
Chúng ta kinh nghiệm sự giải
thoát tất cả năng lượng không
kết hợp với bất cứ sự mê mờ nào
đấy là như sự đại an lạc. Điều
này là hoàn toàn khác biệt với
niềm hạnh phúc thông thường phối
kết với mê muội hay si ám, và nó
khác biệt hẳn với trung tính hay
tối dạ hay vô tri giác.
Một cách sử dụng khác của từ ngữ
‘bình đẳng’ (equanimity) liên hệ
với chư Phật có lòng bình đẳng
đối với mọi người. Ở đây ‘bình
đẳng’ không có nghĩa là dửng
dưng, mà có một thái độ bình
đẳng quan tâm chăm sóc đối với
tất cả. Chư Phật không thương
mến số người này và quên lãng số
người nọ.
--***--
Basic Questions on Karma and
Rebirth
Singapore, August 10, 1988
Revised excerpt from
Berzin, Alexander and Chodron,
Thubten. Glimpse of Reality.
Singapore: Amitabha Buddhist
Centre, 1999.
TUỆ UYỂN
Ngày 16-03-2010
|