|
Hàng tỉ năm trôi
qua giữa thời khởi thỉ của thế
giới này và khi sự sống lần đầu
tiên xuất hiện trên mặt đất Sau
đấy là khoảng thời gian dài lâu
để cho sự sống hình thành trở
nên trưởng thành trong suy tư-
trong sự phát triển và hoàn
thiện năng lực tuệ trí của
chúng; và ngay cả từ trong thời
gian loài người đạt đến sự
trưởng thành như hiện tại, hàng
nhiều nghìn năm đã trôi qua.
Xuyên qua thời gian bao la này
thế giới đã chịu đựng những sự
đổi thay không ngớt, để nó có
thể ở trong trạng thái tiếp diễn
liên tục.
Ngay cả hiện tại,
thuyết tương đối phát sinh gần
đây cho biết điều xuất hiện
trong thời gian ngắn duy trì
tĩnh tại được thấy đã trãi qua
sự thay đổi trong từng khoảnh
khắc. Người ta có thể tự hỏi
điều gì đã được duy trì không
thay đổi khi mà mỗi loại vật
chất và hiện tượng tâm linh
dường như là chủ thể lúc nào
cũng thế cho chương trình chuyển
biến, của tính thay đổi. Tất cả
những thứ ấy là mãi mãi khởi
sinh, phát triển và biến mất.
Trong cơn lốc của
tất cả những sự thay đổi này, có
một Sự Thật đơn độc duy trì liên
tục và không thay đổi được-trong
ngôn ngữ khác, đấy là, Sự Thật
Chính đáng thì đi kèm với kết
quả lợi ích, và sự thật của
những hành động xấu ác thì đi
kèm với kết quả tổn hại. Một
nhân lành sẽ sinh quả lành, một
nhân xấu sẽ sinh quả xấu. Tốt
hay xấu, lợi ích hay tổn hại,
mỗi kết quả tất yếu phải có một
nhân. Nguyên tắc độc hành này là
vĩnh cữu, không thay đổi và liên
tục. Điều này là một sự thật đã
hiện hữu lâu xa trước khi một
người bước vào thế giới này,
trong thời điểm bình minh của sự
hiện diện của người ấy, trong
thời gian hiện tại, và nó sẽ
tiếp tục theo đuổi với thời gian
tương lai vô cùng tận.
Có đúng là những nhân tố ngoại
tại duy nhất chịu trách nhiệm?
Tất cả chúng ta khao khát hạnh
phúc và né tránh khổ đau cùng
bất cứ thứ gì không hài lòng.Như
chúng ta đã biết, niềm vui thích
và đớn đau sinh khởi từ một
nguyên nhân. Không kể là những
hậu quả hiển nhiên nào đấy là do
một nguyên nhân hay bởi nhiều
nguyên nhân đã được quyết định
bởi bản chất tự nhiên của hậu
quả ấy. Trong vài trường hợp,
ngay cả nếu những nhân tố nguyên
nhân không quá mạnh cũng không
quá áp đảo, nó vẫn có thể làm
cho nhân tố kết quả xãy ra. Bất
cứ phẩm chất của nhân tố kết quả
như thế nào, hoặc là chúng tốt
hay xấu, sự to lớn và cường độ
của chúng tương ứng một cách
trực tiếp với số lượng và mãnh
lực của nhân tố nguyên nhân. Vì
vậy, để thành công trong việc
tránh những điều khổ đau không
mong đợi và gặt hái được những
niềm vui thích khát khao, vấn đề
này tự nó không phải nhỏ, đấy là
sự từ bỏ một khối lượng lớn
những thu thập nhân tố nguyên
nhân được yêu cầu.
Trong sự phân tích bản chất tự
nhiên và trạng thái của hạnh
phúc, nó được biểu hiện rõ ràng
qua hai phương diện. - Một là
niềm vui tức thời (tạm thời); và
thứ hai là niềm vui tương lai
(cơ bản).
Niềm vui tạm thời bao gồm sự
nhàn hạ và thích thú , là những
điều con người ao ước như nơi cư
trú tốt, vật dụng đáng yêu, thức
ăn ngon miệng, hợp tác tốt đẹp,
đối thoại vui lòng, v.v và
v.v... Nói một cách khác, sự
thoả mãn tạm thời là những điều
mà con người vui thích trong đời
sống này. Câu hỏi là không biết
sự hưởng thụ của những hoan lạc
và thỏa lòng này có nhận được
một cách trong sạch từ những
(nhân tố) nhu cầu ngoại tại được
thể nghiệm trong ánh sáng của
luận lý lôgic rõ ràng không. Nếu
nhân tố ngoại tại chịu trách
nhiệm một mình để cho hưng khởi
những cảm hứng khoái lạc như
vậy, một người sẽ vui sướng khi
những điều này hiện diện, và
ngược lại họ sẽ buồn phiền khi
chúng vắng mặt. Tuy nhiên, điều
này không phải như vậy. Bởi vì,
ngay cả trong khi vắng mặt những
điều kiện ngoại tại đưa đến sự
khoái cảm, một người vẫn có thể
vui vẻ và yên bình. Điều này
chứng minh rằng, những nhân tố
ngoại tại không chịu trách nhiệm
một mình nó cho sự kích thích
hạnh phúc con người. Có đúng là
những nhân tố ngoại tại duy nhất
chịu trách nhiệm hay chúng là
toàn bộ điều kiện để cho sự hưng
khởi của hoan lạc và hạnh phúc
không, nếu vậy một người sở hữu
một sự giàu có những nhân tố này
sẽ có một sự hỉ lạc không hạn
chế. điều này không luôn luôn có
nghĩa như vậy.
Điều đúng là những nhân tố ngoại
tại này thật sự công hiến một
phần để tạo nên sự hoan lạc
trong đời sống con người. Tuy
vậy, nếu tuyên bố rằng những
nhân tố ngoại tại là tất cả, là
cần thiết và vì vậy là nguyên
nhân độc nhất của hạnh phúc
trong khoảng thời gian ngắn ngủi
của đời sống con người là phát
biểu trì trệ và phi lý. Nó có
nghĩa không chắc chắn là sự hiện
diện của những nhân tố ngoại tại
như vậy sẽ tạo nên sự vui thích.
Trên phương diện ngược lại, căn
cứ trên những gì xãy ra như kinh
nghiệm của hạnh phúc to lớn nội
tại -mặc dù vắng mặt toàn bộ
những hoan lạc có được do những
nhân tố ngoại tại, và thường
vắng mặt vui sướng mặc dù chúng
(nhân tố ngoại tại) hiện diện-,
một cách rõ ràng chi cho thấy
nguyên nhân của hạnh phúc tuỳ
thuộc trên một tập hợp khác nhau
của những điều kiện (nhân tố).
Nhân tố nội tại và hạnh phúc
Nếu chúng ta bị lầm lạc rằng,
bởi những điều bàn luận về những
(nhân tố ngoại tại) điều kiện
được đề cập ở trên là nguyên
nhân duy nhất cấu thành của hạnh
phúc cho đến sự loại trừ bất cứ
những điều kiện nào khác tạo ra
, điều ấy hàm ý rằng (kết quả)
hạnh phúc thì liên đới với những
(nhân tố) nguyên nhân bên ngoài
một cách không thể tách rời. Sự
hiện diện hay vắng mặt của hạnh
phúc được quyết định độc quyền
bởi chúng. Sự việc thực tế rõ
ràng không đủ chứng cớ chứng tỏ
rằng nguyên nhân ngoại tại không
cần thiết hay hoàn toàn chịu
trách nhiệm đến kết quả của
(hiện tượng) hạnh phúc.
Bây giờ, điều gì khác của tập
hợp những nguyên nhân nội tại?
Chúng được giải thích như thế
nào? Là những Phật tử, tất cả
chúng ta tin ở luật nghiệp báo-
luật tự nhiên của nhân và quả.
Bất cứ những (điều kiện) nguyên
nhân nội tại của người nào đấy
xuyên qua trong đời sống tiếp
theo là kết quả từ những tích
tập từ những hành động của cá
nhân trong những đời sống trước
đây. Khi năng lực nghiệp báu của
những hành vi quá khứ chín muồi,
một người cảm nhận vui thích hay
ưu phiền. Chúng không gì khác
hơn mà chỉ là hậu quả của những
hành động của người ấy trong quá
khứ. Điều quan trọng nhất để
hiểu là, khi những kết quả thích
đáng của những nghiệp báu từ tất
cả những hành động quá khứ xuất
hiện, những nhân tố ngoại tại
của người ấy liên kết như những
thuận duyên. Điều xãy đến liên
hệ với những điều kiện xuyên qua
hành động (nghiệp) và những nhân
tố ngoại tại sẽ sản sinh trạng
thái tinh thần thoãi mái. Về mặt
khác, nếu thiếu vắng điều kiện
thiết yếu cho kinh nghiệm vui
thích nội tại thì sẽ không có cơ
hội cho những nhân tố bên ngoài
thích ứng, hay ngay cả nếu những
nhân tố bên ngoài hiện diện, sẽ
không thể làm cho một người được
kinh nghiệm vui thích. Điều này
chỉ cho thấy rằng nhân tố nội
tại là căn bản trong những điều
này, và đấy là nhân tố chính
quyết định hiện thực của hạnh
phúc hay ngược lại. Vì vậy, để
đạt được những kết quả khao
khát, điều khẩn thiết cho chúng
ta là phải tích tập cùng lúc cả
hai nguyên nhân-tạo nên nhân tố
ngoại tại và nguyên nhân-tạo nên
nhân tố nội tại ( nghiệp ).—(
Hay nguyên nhân nội tại là nhân
và nguyên nhân ngoại tại là
duyên.)
Để phát biểu vấn đề một cách đơn
giản hơn, cho sự tích tập cuả
nhân tố lành nội tại (thiện
nghiệp), những gì cần thiết
chính như những phẩm chất như là
một ít nhu cầu, sự toại ý, sự
nhún nhường, sự giản dị, và
những đức tính quý báu khác.
Thực hành những nhân tố nội tại
này sẽ thuận tiện ngay cả chuyển
biến những nhân tố ngoại tại đã
kể trước đây chúng sẽ biến đổi
thuận tiện ngay cả chuyển hoá
những ích lợi đặc trưng cho sự
sinh khởi của hạnh phúc. Sự vắng
mặt của những nhân tố nội tại
thích đáng, như có một ít nhu
cầu của sự toại ý, nhẫn nại, tha
thứ, v.v... sẽ ngăn trở người ấy
hưởng thụ sướng vui, hạnh phúc
ngay cả khi tất cả những nhân tố
ngoại tại hiện diện. Bên cạnh
điều ấy, người ta còn phải có
nguồn năng lực của công nghiệp
và đức hạnh tích tập trong những
đời quá khứ. Nếu khác đi, những
hạt giống hạnh phúc không thể
tạo thành quả phúc được.
DỤC TRI TIỀN THẾ NHÂN , KIM SINH
THỌ GIẢ THỊ
Vấn đề có thể phát biểu theo một
cách khác. Sự vui thích và sự
thất vọng, hạnh phúc và khổ đau
kinh nghiệm bởi mỗi cá nhân là
những kết quả lợi ích không thể
tránh được và hoặc là những hành
động xấu mà người ấy đã gây ra,
vì vậy được thêm vào tàng thức
người ấy.
Nếu tại một thời điểm nhất định
trong đời sống hiện tại này
những quả lành do những thiện
nghiệp chín muồi người ấy sẽ thể
nhận được, nếu đấy là một người
thông thái, thì đấy là những quả
phúc của những hành vi sáng suốt
đáng khen trong quá khứ. Điều
này sẽ tưởng thưởng và khuyến
khích người ấy đạt thêm công
nghiệp.
Một cách đơn giản, khi người nào
xãy ra kinh nghiệm khổ đau hay
không hài lòng, người ấy có thể
chịu đựng một cách trầm tĩnh nếu
người ấy duy trì một sự tin chắc
không giao động rằng, cho dù
người ấy có nguyện ước (thệ
nguyện) hay không, người ấy phải
đau khổ và mang lấy những hậu
quả của chính những hành vi
người ấy đã làm trong quá khứ,
mặc dù sự thật bình thường người
ấy thường thấy rằng cường độ và
mức độ,của sự thất vọng thì rất
khó để chịu đựng, hay mang lấy.
Bên cạnh, nhận thức rằng chúng
không là gì nhưng chỉ là kết quả
của những hành động vụng về
trong quá khứ sẽ làm người ấy đủ
thông minh chừa bỏ những hành
động vụng về từ nay trở đi.
Giống như vậy, tư tưởng hài lòng
rằng,- với sự chín muồi của
những nghiệp xấu trong quá khứ,
và phần quả xấu bởi những hành
động xấu trong quá khứ đã hiện
ra,- sẽ là niềm an ủi, khích lệ
lớn lao cho người ấy.
Một sự đánh giá đúng đắng tuệ
trí này sẽ góp phần hiểu thấu
bản chất để đạt được yên bình
cho thân và tâm. Thí dụ, giả sử
một người bất ngờ bị đau khổ với
chấn thương vật lý trầm trọng
qua một nhân tố ngoại tại. Nếu,
chỉ là năng lực tuyệt đối của ý
chí ( căn cứ trên sự tin chắc
rằng người ấy tự chịu trách
nhiệm cho những bất hạnh và khổ
đau hiện tại), người ấy có thể
vô hiệu hoá sự tăng gia khổ đau
rồi thì tâm tư người ấy sẽ thoãi
mái và yên tĩnh.
CHUYỂN NGHIỆP - HẠNH PHÚC - TU
TÂM
Bây giờ để chúng tôi giải thích
điều này trong một trình độ khá
hơn, cao hơn. Sự quan tâm, sự
phấn đấu, và thực thi này là
điều có thể làm một cách có hệ
thống để tiêu huỷ những điều bất
như ý và nguyên nhân của chúng.
Như đã nói ở trước, vui sướng
hay khổ đau, hạnh phúc hay bất
như ý là kết quả của những hành
động tốt hay xấu của một người.
Những hành động tốt hay xấu
(nghiệp) không là những hiện
tượng ngoại tại. Chúng tuỳ thuộc
một cách có căn bản vào tình
trạng của tâm. Làm những cố gắng
tích cực để tạo dựng mọi thứ có
thể của thiện nghiệp và đẩy xa
chúng ta những vết tích của bất
thiện nghiệp, là con đường để
sáng tạo hạnh phúc và tránh sự
tạo đớn đau và khổ sở. Đấy là
điều vẫn thường thấy rằng một
kết quả vui vẻ theo sau một nhân
lành và hậu quả xây dựng bởi
nguyên nhân vụng về là khổ đau.
Vì vậy, quan trọng nhất, chúng
ta cố gắng mọi ý nghĩa có thể để
gia tăng phẩm chất và khối lượng
của những hành động thiện xảo và
làm những hành động tương ứng
cắt xén bớt những hành động vụng
về của chúng ta.
Làm thế nào để việc này được
hoàn thành? Những nguyên nhân
đáng khen thưởng và ngược lại,
kết quả hạnh phúc và khổ đau
không tương đồng với đối tượng
bên ngoài. Thí dụ, trong cơ thể
con người hệ thống gồm những
phần khác nhau như phổi, tim, và
những bộ phận khác có thể thay
thế bằng những bộ phận mới.
Nhưng điều này không như vậy với
những hành động của nghiệp, điều
tịnh hoá tâm. Sự thu thập công
nghiệp tươi tốt và sự tiêu huỷ
những nhân xấu, là quá trình
tịnh hoá tâm linh. Chúng không
thể đạt được với bất cứ sự giúp
đở nào ở bên ngoài. Phương pháp
duy nhất để hoàn thành là bằng
sự kiểm soát và luyện tập tâm
chưa thuần hoá (cho đến nay).
Cho điều này, chúng ta đòi hỏi
một sự nhận thức đầy đủ hơn yếu
tố gọi là TÂM.
TÍNH BẢN NHIÊN CỦA TÂM
Qua những cánh cửa của năm giác
quan một chúng sinh thấy, nghe,
ngữi, nếm và dẫn đến sự tiếp xúc
với các hình sắc tiếp nhận bên
ngoài, các đối tượng, ấn tượng.
Hãy để hình sắc, âm thinh, mùi
hương, vị nếm, tiếp xúc(va chạm)
và những sự kiện tinh thần,
những điều liên hệ với sáu thức
cảm giác được đóng lại. Khi điều
này được hoàn tất sự thu thập
của những sự kiện quá khứ trên
điều tâm hướng đến để động não
(suy nghĩ ủ ê, nghiền ngẫm), sẽ
hoàn toàn bị đoạn dửt và dòng
chảy của ký ức bị cắt đứt. Một
cách đơn giản, những dự tính cho
tương lai và sự dự định hành
động tương lai không được phép
hưng khởi.
Cần thiết phải tạo một không
gian, nơi tâm trở nên rỗng không
với tất cả những trình tự như
trên, trong nơi của tất cả những
chương trình như vậy của tư
tưởng (dự tính,dự định,dự
kiến).Tự tại với tất cả những
trình tự như vậy nơi ấy duy trì
một tâm tinh khiết, trong sáng,
rõ rệt và tịch tĩnh. Bây giờ hãy
để chúng ta kiểm nghiệm những
đặc điểm nào cấu thành "tâm" khi
nó đạt đến trạng thái này.
Một cách chắc chắn rằng chúng ta
sở hữu điều gọi là "tâm", nhưng
làm thế nào để chúng ta thể nhận
được sự hiện hữu của nó? Thực tế
và bản chất của "tâm", điều được
tìm thấy khi toàn bộ gánh nặng
của những điều trở ngại và lầm
lạc nói chung (nhận thức của các
giác quan, ký ức suy tư.v.v...)
được làm sạch bóng. Thấy rõ, sâu
sắc diện mạo này của thật tâm,
chúng ta sẽ khám phá rằng, không
giống như những đối tượng ngoại
tại, thật tính bản nhiên của nó
là xa rời hình thức hay màu sắc,
mà có thể chúng ta cũng không
tìm thấy bất cứ căn bản nào
chính xác cho những điều sai lầm
và những khái niệm lừa dối như
vậy như: "tâm" vốn dĩ từ điều
này hay điều kia, hay là "tâm"
di chuyển từ nơi này đến nơi nọ,
hay là "tâm" được xác định vị
trí ở nơi như vậy và như vậy.
Đến khi tiếp xúc được với không
đối tượng tâm giống như một điều
trống không rộng rãi vô biên,
hay như một đại dương bình lặng,
trong sáng và vô tận. Khi thình
lình chạm trán với một đối tượng
nó lập tức nhận ra ngay đối
tượng của nó, như một tấm gương
lập tức phản chiếu một người
đứng trước nó. Bản chất thật sự
của tâm không chỉ gồm có nhận
thức rõ ràng đối tượng nhưng
cũng truyền đạt kinh nghiệm cụ
thể của đối tượng đến người kinh
nghiệm qua nó. (* Đây là hai
khía cạnh, thể nhận tri thức và
truyền đạt kinh nghiệm liên hệ
để biết điều gì là đối tượng và
cảm giác, nếm, thấy,...thế nào).
Một cách bình thường, những hình
thức của các tri giác của chúng
ta như: nhận thức của mắt, nhận
thức của tai, v.v... diễn tả
những chức năng trên những hiện
tượng bên ngoài trong thái độ
liên hệ méo mó toàn bộ. Kiến
thức kết quả trên nhận thức cảm
giác, căn cứ trên toàn bộ những
hiện tượng bên ngoài, cũng là
toàn bộ thiên nhiên. Khi toàn bộ
kích thích loại này bị đóng kín
và khi những kinh nghiệm cụ thể
và nhận thức trong sáng khởi lên
từ trong ấy, tâm thể hiện đặc
tính trống không vô tận giống
như không gian vô biên.
Nhưng cái "không" này không được
xem như thật tính tự nhiên của
tâm. Chúng ta phải trở nên thật
quen thuộc với sự nhận thức đến
hình thể và màu sắc của toàn bộ
những đối tượng, khi chúng ta
tập trung sự tự quán sát bên
trong đến tính bản nhiên của
tâm, nó là, như chúng tôi đã
nói, được tìm thấy là một sự
trống không vô tận tự tại với
bất cứ sự u tối vô minh hay
những chướng ngại nào khác. Tuy
vậy, điều này không có nghĩa là
chúng ta đã thấy rõ thật tính
tinh tế bản nhiên của tâm. Những
điều được giải thích ở trên liên
quan đến trạng thái của tâm
trong sự liên hệ với kinh nghiệm
cụ thể và nhận thức trong sáng
bởi tâm, những điều là chức năng
của nó, nhưng nó chỉ diễn tả
tính bản nhiên tương đối của tâm
.
NỀN TẢNG THỰC SỰ CỦA TÂM
Thêm một vài khía cạnh và trạng
thái khác của tâm. Trong ngôn
ngữ khác, thể nhận tâm ở mức độ
căn bản nhất, có nhiều thuộc
tính liên hệ đến nó. Chỉ như củ
hành bao gồm những lớp chồng
chất lên nhau và có thể bóc ra,
vì vậy mỗi một đối tượng có vô
số lớp chồng chất; và điều này
không sai với tính bản nhiên của
tâm được giải thích ở đây; nó
cũng vậy, có lớp này trong lớp
nọ, trạng thái này trong trạng
thái kia.
Tất cả những sự, những vật được
hợp thành là những đối tượng để
tan rã. Tự bao giờ, những kinh
nghiệm và kiến thức là vô thường
và là đối tượng để tan rã,
"tâm", của điều là những chức
năng (tự nhiên), không phải là
điều gì ấy được duy trì bất biến
và vĩnh cữu. Từ từng khoảnh khắc
nó phải thay đổi và tàn hoại. Sự
chuyển biến này của tâm là khía
cạnh tự nhiên của nó.
Tuy vậy, khi chúng ta quán sát,
thật tính tự nhiên của tâm có
nhiều khía cạnh, bao gồm những
nhận thức của những kinh nghiệm
cụ thể và tri thức của những đối
tượng. Bây giờ chúng ta hãy thể
nghiệm xa hơn để hiểu thấu ý
nghĩa tinh tế căn bản của một
tâm như thế. Tâm hiện hữu bởi
nguyên nhân của chính nó. Để phủ
nhận căn nguyên của tâm tuỳ
thuộc vào một nguyên nhân, hay
nói rằng nó được mệnh danh như
một ý nghĩa được thừa nhận tự
nhiên của tập hợp tâm, thì không
đúng.
Với sự quán sát nông cạn của
chúng ta, tâm, điều có kinh
nghiệm cụ thể và nhận thức rõ
rệt như tính tự nhiên của nó,
xuất hiện như một thực thể toàn
năng, độc lập, thống trị một
cách hoàn toàn ở khắp nơi. Tuy
nhiên, phân tích sâu hơn sẽ thấy
rằng tâm này, sở hữu như nó làm
chức năng của kinh nghiệm và
nhận thức, nó không là một thực
thể tự sáng tạo nhưng lệ thuộc
vào những nhân tố khác cho sự
tồn tại của nó. Vì lý do này nó
tuỳ thuộc vào những điều khác
hơn chính nó. Phẩm chất không
độc lập này của căn bản của tâm
là thực tính tự nhiên của nó
trong điều khiến đấy là nền tảng
thực sự của chính nó.
Ở hai khía cạnh này, thật tính
cơ bản tự nhiên của tâm và một
kiến thức của thực tính cơ bản
tự nhiên đấy, điều trước là căn
bản và điều kế tiếp là thuộc
tính. Tâm (tự nó) là căn bản và
tất cả nhũng trạng thái khác
nhau của nó là những thuộc tính.
Tuy vậy, căn bản và những thuộc
tính, điều căn bản-đầu tiên có
cùng thể chất với từng đơn
vị-những thuộc tính. Sự sáng tạo
vô ngã (tuỳ thuộc trên một
nguyên nhân khác chính nó) thực
thể tâm (nền tảng căn bản) và
bản chất của nó, tính không, có
sự tồn tại một cách không ngừng
như một thực chất , giống nhau,
không thể tách rời từ khởi
nguyên vô thỉ. Tính tự nhiên của
tính không toả khắp tất cả mọi
yếu tố. Bây giờ khi chúng ta và
từ khi chúng ta không thể hiểu
thấu hay nhận thức thấu đáo sự
bền bỉ, tự nhiên, nền tảng thực
sự (tính không) của tâm chúng
ta, chúng ta tiếp tục liên luỵ
vào những sai lầm và những thiếu
sót của chúng ta vẫn cứ dai
dẳng.
NỔ LỰC TỐI ĐA VÌ MỘT TÂM KHÔNG
CÓ CHỖ CHO NHỮNG NGHIỆP KHÔNG
LÀNH
Nhận tâm như chủ thể và thực tại
cơ bản của tâm như đối tượng của
nó, chúng ta sẽ đạt đến một sự
lĩnh hội thích đáng với bản chất
thực tính của tâm... thực tại
tột cùng của tâm. Và khi, sau
một thời gian dài kiên nhẫn
thiền định, chúng ta sẽ nhận
biết và hiểu thấu thực tại tột
cùng của tâm, là điều lìa xa
những đặc tính của nhị nguyên,
chúng ta sẽ dần dần có thể làm
rỗng không ảo tưởng và những
khiếm khuyết của những tư tưởng
trung tâm và phụ thuộc như giận
dữ, thích phô trương, ghanh
ghét, thèm muốn, v.v...
Thất bại trong việc nhận diện
tính bản nhiên của tâm chúng ta
sẽ mất cơ hội đạt được năng lực
nhận biết thực tại cơ bản của
tâm. Điều này sẽ xoay việc nhỗ
gốc của khát dục và thù ghét và
tất cả cội rễ của những vọng
tưởng phụ thuộc khác của chúng
ta từ căn bản. Vì thế, không có
chỗ để tích tập những nghiệp
không lành.
Theo những nghĩa này việc tạo
những ác nghiệp ảnh hưởng cho
những đời sống tương lai sẽ bị
loại trừ; chúng ta sẽ có thể gia
tăng chất lượng và số lượng của
điều kiện nguyên nhân công hạnh
lành và để trừ tiệt gốc sự tạo
tác điều kiện nguyên nhân tổn
hại ảnh hưởng những đời sống
tương lai-ngoài những nghiệp xấu
tích tập trước đây ra.
Trong việc thực hành để đạt được
kiến thức toàn hảo của thực tính
bản nhiên của tâm, đòi hỏi những
cố gắng tích cực và tập trung
tinh thần để nhận biết thấu đáo
đối tượng. Trong những điều kiện
bình thường của chúng ta như
hiện tại, khi tâm chúng ta tiếp
xúc với bất cứ gì nó liền bị lôi
cuốn tức thì. Điều này khiến sự
nhận hiểu bất lực. Vì vậy, để
đạt được năng lực tịch tĩnh to
lớn của tinh thần, sự nổ lực
thật tối đa là đòi hỏi cấp thiết
nhất. Thí dụ như, một dòng sông
lớn trôi chảy qua một vùng mở
rộng sẽ có rất ít năng lực,
nhưng khi nó xuyên qua một dốc
núi hẹp tất cả nước tập trung
trong một không gian hẹp và vì
vậy nó tuôn chảy với một mãnh
lực lớn. Với một lý do đơn giản
tất cả những điều xao lãng của
tinh thần, điều lôi cuốn tâm xa
rời với đối tượng quán chiếu
được tránh và tâm duy trì kiên
định không chuyển trên đối
tượng. Ngoại trừ điều này được
hoàn tất, sự thực hành để đạt
được một sự thấu hiểu thích đáng
thực tính bản nhiên của tâm sẽ
hoàn toàn thất bại.
CON ĐƯỜNG ĐỂ ĐẠT HẠNH PHÚC TRỰC
TIẾP-TỨC THỜI-GẦN NHÂT
Làm cho tâm thuần thục ngoan
ngoản, là điều căn bản cho chúng
ta rèn luyện và kiểm soát nó tốt
đẹp. Lời nói và hành động của
thân là điều tương ứng với trình
tự của tinh thần, tuyệt không
cho phép nó diễn tiến trong
chiều hướng vô ý, thả lỏng, và
bừa bãi. Chỉ như một huấn luyện
viên luyện tập và trầm tĩnh một
con ngựa hoang bướng bỉnh bằng
khuất phục nó và sự rèn luyện
dài lâu. Vì vậy những hành động
hoang dã, rong ruỗi, bừa bãi
phải được thuần hoá và làm chúng
ngoan ngoản, chính đáng, và
thiện xảo. Vì vậy những lời Dạy
của Đức Thế Tôn bao gồm trong ba
chủ đề, đó là giới (rèn luyện
đạo đức cao thượng), định (rèn
luyện thiền định cao thâm) và
tuệ trí (rèn luyện tuệ trí cao
xa), tất cả đấy là để dành cho
rèn luyện tâm.
Bằng việc học tập, thiền định và
thực hành tam vô lậu học trong
phương pháp này, chúng ta hoàn
thành tiến trình thực chứng. Một
người luyện tập sẽ được phú cho
phẩm chất tuyệt vời của khã năng
có thể chịu đựng một cách kiên
nhẫn những bất hạnh và khổ đau,
những điều là kết quả những
nghiệp chướng quá khứ của người
ấy.
Người ấy sẽ quan tâm sự bất hạnh
của chính họ như chuyện không
may mà lại hoá may, làm cho
người ấy sáng tỏ ý nghĩa của
nghiệp báo và làm cho người ấy
nhận thức thấy sự cần thiết để
tập trung tiến hành duy chỉ
những hành động đạo nghiệp xứng
đáng mà thôi. Nếu nghiệp xấu quá
khứ của người ấy chưa trổ quả,
nó sẽ vẫn có thể được xoá sạch
những nghiệp chưa chín này bằng
việc sử dụng sức mạnh của bốn
năng lực:
1- Quyết định đạt đến Phật quả;
2- Quyết định tránh làm những
hành vi sai trái lỗi lầm, ngay
cả cái giá của một đời sống;
3- Tiến hành những hành vi tốt
lành;
4- Sám hối.
Đấy là con đường để đạt được
hạnh phúc trực tiếp,tức thời,
gần nhất, để mở đường cho đạt
đến giải thoát và giúp chúng ta
tránh tích tập những lỗi lầm xa
hơn.
__________________
Happiness, Karma and Mind
-His Holiness the Dalai Lama-
Tuệ Uyển chuyển ngữ |