| |
Trong
Mãdhyamaka Sãstra (Trung Quán Luận) của
Ngài Nãgãrjuna (Long Thọ) phẩm Quán về
Nhân Duyên có 16 bài tụng bàn luận về Nhân
Duyên .
Vì đương thời có nhiều thuyết cho rằng Vạn
Vật từ trời Ðại Tự Tại sinh, từ trời Vĩ
Nữu sinh, từ sự Hòa Hợp sinh, từ Thời Sinh
, từ Thế Tính sinh, từ Biến Hóa sinh, từ
Tự Nhiên sinh, từ Vi Trần sinh v.v… Vì có
những kiến chấp sai lầm bị rơi vào vòng tà
kiến , chấp : vô nhân, tà nhân, đoạn,
thường v.v… và chấp : ngã, ngã sở; do đó
không thể thấu hiểu chánh pháp .
Ðức Phật muốn đoạn trừ tất cả những tà
kiến nên đối với hàng Thanh Văn Ngài đã
giảng dạy 12 Nhân Duyên . Sau đó để dẫn
dắt lên bậc cao hơn Phật mới giảng dạy
Pháp Ðại Thừa nói rõ thật tướng của Pháp
Nhân Duyên là “tất cả pháp chẵng sinh
chẵng diệt, chẵng một chẵng khác, chẵng
thường, chẵng đoạn v.v… rốt ráo không .
Trong kinh Bát Nhã Ba La Mật Phật bảo ông
Tu Bồ Ðề rằng : “Bồ Tát khi ngồi ở Ðạo
Tràng, quán 12 nhân duyên như hư không,
không thể cùng tận…” .
Năm trăm năm sau Phật nhập diệt , vào thời
Tượng Pháp , con người không hiểu thâm ý
trong lời Phật dạy , chấp vào văn tự, nghe
trong kinh điển Ðại Thừa nói : “nghĩa rốt
ráo” nhưng chẵng thấu rõ nghĩa, không biết
vì nhân duyên gì mà Phật nói Tánh Không,
sinh tâm nghi ngờ kiến chấp : “Nếu tất cả
rốt ráo không thời làm sao phân biệt có
tội phước báo ứng; và như vậy sẽ không có
thế đế, và đệ nhất nghĩa đế?” .
Vì để giải rõ lý duyên khởi nên ngài Long
Thọ viết 16 bài tụng như sau (Do ngài Cưu
Ma La Thập dịch từ tiếng Phạn ra Hán văn,
Như Tạng dịch ra tiếng Việt) :
1. Không sinh cũng không diệt,
Không thường cũng không đoạn
Không một cũng không khác
Không đến cũng không đi.
(Bất sinh diệt bất diệt, bất thường diệt
bất đoạn
Bất nhứt diệt bất dị, bất lai diệt bất
xuất)
2. Khéo nói nhân duyên ấy
Hay diệt những hí luận
Ðệ nhất trong các thuyết
Con cúi đầu lễ Phật
(Năng thuyết thị nhân duyên, thiện diệt
chư hí luận
Ngã khể thủ lễ Phật, chư thuyết trung đệ
nhất)
Hai bài tụng trên tổng thể tóm kết 8 pháp
: không sinh, không diệt; không thường,
không đoạn; không một , không khác; không
đến, không đi .
Mặc dù Pháp có vô lượng nhưng 8 món đó đủ
tổng phá hết thảy Pháp để tìm hiểu về Tánh
Không.
Nói về tướng Sinh có nhiều thuyết rất khác
nhau như : nhân và quả một thể; nhân và
quả khác thể; hoặc là nói trong nhân trước
có quả; hoặc nói trong nhân trước không có
quả; hoặc cho là quả chính tự thể sinh;
hoặc cho là do cái khác sinh; hoặc do tự
và tha cọng sinh; hoặc cho là tự nhiên
sinh không có nguyên nhân v.v… Tất cả
những thuyết ấy đều phiến diện , không
đúng nên tướng sinh không thể tự có do đó
gọi là Không Sinh .
Ðã không Sinh thì không có cái gì để diệt.
Vì không sinh diệt nên sáu món còn lại
không tồn tại .
Nếu đi sâu vào nghĩa chẵng thường , chẵng
đoạn thì ta sẽ trỡ lại giống như chẵng
sinh , chẵng diệt . Vì nếu các pháp có
thật tức là không thể không có. Trước có
mà nay không tức là Ðoạn. Nếu trước sẵn có
Tính tức là Thường. Do đó chẵng thường ,
chẵng đoạn đồng nghĩa với chẵng sinh chẵng
diệt .
Bốn món còn lại là chẵng một chẵng khác;
chẵng đến chẵng đi thì thế nào ? Nếu nhân
và quả nhất thể thì không có tương tục.
Nhất thể thì trước sau như một, đâu phải
tương tục từ nhân tới quả .
Chẵng một, chẵng khác ? Mầm nảy sinh từ
hạt lúa nhưng mầm không phải là hạt lúa.
Hai vật đó không phải một nhưng cũng không
phải khác. Ðó là thí dụ điển hình cho
tướng trạng của các pháp .
Chẵng đến , chẵng đi ? Mầm trong hạt lúa
không thấy từ đâu đến , vì nó đã có sẵn
trong hạt lúa nên nói không đến .
Không đi vì mầm ấy sinh ra từ hạt lúa và
phát triễn thành cây lúa , không có hiện
tượng mầm tách rời hạt để di động đi nơi
khác nên gọi là không đi . Những điều đó
tượng trưng cho tướng trạng của các pháp
không đến, không đi.
Trường hợp nầy trở lại hai trường hợp ban
đầu là vì các pháp không sinh nên không có
gì để diệt mất và do đó 6 món còn lại tự
nhiên không tồn tại nữa, trở về tánh không
của đệ nhất nghĩa đế mà Ngài Long Thọ muốn
nói đến.
3. Các pháp không tự sinh
Cũng không sinh từ cái khác
Không cọng sinh, không vô nhân sinh
Do đó nên hiểu rằng , các pháp vốn vô sinh
(Chư pháp bất tự sanh, diệt bất tùng tha
sanh
Bất cọng bất vô nhân, thị cố tri vô sanh)
Các pháp không sinh ra từ chính nó nghĩa
là phải hội đủ nhân duyên mới sinh khởi ra
được. Nếu pháp tự chính nó sinh ra tức là
một pháp có hai cá thể : sở sinh và năng
sinh . Và các pháp nếu không cần nhân
duyên mà sinh thì như thế nó cứ tự sinh
sinh mãi không hợp với luật nhân quả . Ví
dụ hạt lúa cứ để nơi khô ráo mãi thì tự nó
không thể nảy mầm được . Muốn cho hạt lúa
nãy mầm phải ngâm nước một thời gian cần
thiết và rồi phải gieo xuống đất một thời
gian cần thiết nó mới nãy mầm . Như thế
nếu bảo là tự sinh mà không có các nhân
duyên hợp thành tức là trái với luật nhân
quả .
Không sinh ra từ cái khác ? Ví dụ hạt cam
không thể sinh ra cây lúa .
Hạt lúa trộn với hạt cam và cứ thế để nơi
khô ráo mãi cũng không thể nẫy mầm thành
cây lúa được vì thiếu các nhân duyên sinh
. Do đó không phải tự nó hoặc cọng với cái
khác mà sinh ra được.
Nếu các pháp tự nhiên sinh tức là không
nhân mà lại có quả . Chẵng khác nào có
người vì muốn có quít để ăn mà hằng ngày
cứ ngồi chờ trên tảng đá mọc ra cây quít
thì than ôi có bao giờ có được !
Ngài Long Thọ nói các pháp vốn vô sinh
nghĩa là trỡ về cái tánh không của các
pháp, pháp vốn không có thì làm gì có Sinh
với vô sinh.
4. Như tự tánh các pháp
Không tại nơi trong duyên
Vốn dĩ không tự tánh
Tha tánh lại cũng không
(Như chư pháp tự tánh, bất tại ư duyên
trung
Dĩ vô tự tánh cố, tha tánh diệt phục vô)
Tự tính các pháp chính là Tự Thể của các
pháp. Vì các duyên hòa hợp sinh ra các
pháp nên nếu các duyên tan rã thì các pháp
mất do đó các pháp không có tự tính cá
biệt . Tự tính không ở trong các duyên .
Ví dụ vật chất được các nguyên tử kết hợp
thành phân tử , nhiều phân tử kết hợp lại
thành một vật nào đó . Ðó là những chuổi
dài các duyên hòa hợp sinh ra . Nếu phá vỡ
nguyên tử đi thì vật ấy bị hoại diệt . Như
thế là vật ấy không có tự tính cá biệt gì
cả chỉ do các duyên hòa hợp mà sinh ra .
Vì không có tự tính nên tha tính hẵn là
không có .
Vì tự sinh, tha sinh, cọng sinh, vô nhân
sinh không có tướng sinh nên gọi là vô
sinh.
5. Nhân Duyên, Thứ Ðệ Duyên
Sở Duyên Duyên, Tăng Thượng Duyên
Bốn Duyên sinh các Pháp
Không còn Duyên thứ năm.
(Nhân duyên thứ đệ duyên, duyên duyên tăng
thượng duyên
Tứ duyên sanh chư pháp, Cánh vô đệ ngủ
duyên)
Nói về duyên thì có rất nhiều nhưng tổng
thể đều gôm vào 4 duyên kể trên. Do bốn
duyên hòa hợp mà sinh ra các pháp .
Nhân Duyên là chỉ cho các pháp hửu vi. Thứ
Ðệ Duyên là chỉ cho tâm tâm số pháp quá
khứ hiện tại, trừ tâm tâm số pháp tối hậu
của vị A La Hán quá khứ, hiện tại . Sở
Duyên Duyên và Tăng Thượng Duyên là chỉ
cho tất cả các pháp .
6. Quả là từ duyên sinh
Hay là từ phi duyên sinh
Trong duyên ấy là có quả
Hay trong duyên ấy là không có quả
(Quả vi tùng duyên sanh, vi tùng phi duyên
sanh
Thị duyên vi hửu quả , thị duyên vi vô quả
)
7. Nhân pháp ấy sinh quả
Pháp ấy gọi là Duyên
Nếu quả ấy chưa sinh
Sao không gọi là Phi Duyên
(Nhân thị pháp sinh quả, thị pháp danh vi
duyên
Nhược thị quả vị sanh, hà bất danh phi
duyên)
Ví dụ cái bánh mì . Khi thấy bánh mì ta
biết do nước và bột nhồi lại rồi nướng lên
mà thành bánh mì. Bánh mì là quả . Nhờ
thấy quả mà biết được bột và nước là duyên
của nó. Như thế khi chưa có bánh mì sao
không gọi bột, nước là phi duyên .
8. Quả, trước có trong duyên ?
Có, không đều không thể
Nếu trước không có quả, thì duyên ấy làm
duyên cho cái gì ?
Nếu trước đã có quả thì cần gì phải có
duyên?
(Quả tiên ư duyên trung, hửu vô câu bất
khả
Tiên vô vi thùy duyên, tiên hửu hà dụng
duyên)
9. Nếu quả không hửu sinh
Lại cũng không vô sinh
Cũng không hửu vô sinh
Sao có thể nói là hửu duyên
(Nhược quả phi hửu sanh, diệt phục phi vô
sanh
Diệt phi hửu vô sanh, hà đắc ngôn hửu
duyên)
Ðức Phật thường đã dạy các Pháp do nhân
duyên sinh nhưng tại sao đây lại phủ nhận
nhân duyên sinh ?
Ðức Phật dạy Pháp do nhân duyên sinh là
mục đích chỉ rõ các pháp vốn không có thực
thể , không có thật ngã độc lập ngoài các
duyên. Không phải do nhân duyên sinh ra
cái gì khác nó, riêng biệt ngoài nó mà quả
chỉ hiện có giả tạm trên các duyên. Do đó
nói pháp do duyên sinh nhưng thật ra không
sinh ra cái gì thật có độc lập. Nếu nhân
duyên sinh ra cái gì đó độc lập với nó tức
là hửu ngã chứ không phải duyên sinh vô
ngã.
Nhưng pháp đã do duyên sinh thì phải là vô
ngã chứ không thể hửu ngã. Như thế là
duyên không sinh ra cái gì khác nó nên gọi
là không có nhân duyên sinh, theo như ngài
Long Thọ đã nói .
10. Nếu khi quả chưa sanh
Ắc không thể có diệt
Pháp hoại diệt thì còn có thể làm duyên
cho cái gì được?
Do đó không có thứ đệ duyên
(Quả nhược vị sanh thời, tắc bất ưng hửu
diệt
Diệt pháp hà năng duyên, cố vô thứ đệ
duyên)
Các pháp hiện tại không lúc nào an trụ ,
nếu không an trụ thời không thể làm duyên
thứ đệ. Nếu an trụ thời nó không phải là
pháp hửu vi . Vì tất cả pháp hửu vi thường
có tướng hoại diệt. Nếu diệt rồi thời
không thể làm duyên thứ đệ.
Phật dạy hết thảy pháp hửu vi niệm niệm
diệt, không có một giây phút ngừng trụ,
vậy làm sao nói pháp hiện tại có một phần
sắp diệt, một phần chưa sắp diệt. Trong
luận A Tỳ Ðạt Ma nói có pháp sắp diệt, có
pháp chưa sắp diệt . Pháp sắp diệt là pháp
hiện tại , sắp muốn diệt. Pháp chưa sắp
diệt là chỉ tất cả pháp hiện tại khác và
pháp quá khứ , vị lai, pháp vô vi, trừ
pháp hiện tại sắp diệt. Ðó gọi là pháp
chưa sắp diệt.
Do đó nên không có thứ đệ duyên.
11. Như chư Phật đã dạy
Pháp chơn thật vi diệu
Ðó là pháp không duyên
Thì làm gì có sở duyên duyên
(Như chư Phật sở thuyết, Chơn thật vi diệu
pháp
Ư thử vô duyên pháp, vân hà hửu duyên
duyên)
Ðức Phật dạy các pháp , theo Ðại Thừa,
rằng tất cả các pháp hoặc có sắc không sắc
, có hình không hình , hửu lậu vô lậu, hử
vi vô vi, khi nhập vào pháp tính thời tất
cả đều không. Vô tướng, vô duyên ví như
muôn sông chảy vào biển, hòa đồng một vị,
đó là thật pháp đáng tin. Còn các pháp Ðức
Phật nói ra để thích ứng với căn cơ , đó
là những phương tiện truyền dạy các pháp
không thể xem là thật .
Do đó không có Sở Duyên Duyên.
12. Chư pháp không có tự tánh
Nên không có thật tướng
Nếu nói vì việc nầy có
Nên việc kia có là không hiển nhiên
(Chư pháp vô tự tánh, cố vô hửu hửu tướng
Thuyết hửu thị sự cố, thị sự hửu bất
nhiên)
Bài tụng nầy muốn phá chấp về Tăng Thượng
Duyên.
Vì các pháp từ các duyên sinh , tự nó
không có tự tính nhất định nên không có
thật tướng. Vì các pháp không có thật
tướng cho nên nếu nói vì việc nầy có nên
việc kia có là không đúng . Hàng phàm phu
phân biệt có và không nên Ðức Phật vì giáo
hóa hàng phàm phu mà phải nói các duyên để
phá trừ có và không .
Khi nói về 12 nhân duyên Phật dạy do cái
nầy có nên cái kia có, như có vô minh nên
có hành, có hành nên có thức v.v…mục đích
là để chỉ rõ lý duyên sinh của các pháp.
Nói vô minh có nên hành có không có nghĩa
là vô minh và hành có thật. Vì vô minh và
hành đều do duyên sinh . Tất cả các giai
đoạn giảng giải về duyên sinh của các pháp
đều là phương tiện để cuối cùng đưa về
tính không của các pháp .
13. Trong nhân duyên rộng, hẹp
Tìm quả không thể được
Nếu trong nhân duyên không có
Sao có thể gọi là từ duyên sinh
(Lược quản nhân duyên trung, cầu quả bất
khả đắc
Nhân duyên trung nhược vô, Vân hà tùng
duyên xuất)
14. Nếu nói duyên không quả
Nhưng từ trong duyên sinh
Quả ấy sao không từ
Trong phi duyên mà ra
(Nhược vị duyên vô quả, Nhi tùng duyên
trung xuất
Thị quả hà bất tùng, phi duyên trung nhi
xuất)
15. Nếu quả từ duyên sanh
Nhưng duyên ấy không có tự tánh
Từ vô tự tánh sinh
Không thể được gọi là từ duyên sinh
(Nhược quả tùng duyên sanh, thị duyên vô
tự tánh
Tùng vô tự tánh sanh, hà đắc tùng duyên
sanh)
16. Quả không từ duyên sanh
Không từ phi duyên sinh
Quả vốn thật sự không
Duyên, phi duyên cũng đều không .
(Quả bất tùng duyên sanh, bất tùng phi
duyên sanh
Dĩ quả vô hửu cố, duyên phi duyên diệt vô)
Ngài Long Thọ muốn tóm lược những lời Phật
dạy trong các kinh điển. Lúc đầu đưa ra
nhân duyên, 12 nhân duyên để giải thích sự
tương quan sinh khởi của các pháp . Thế
nhưng tóm lại tất cả pháp đều sinh diệt
tương tục, không có tự tánh nên duyên,
nhân duyên , phi duyên, nhân, quả,… đều
không thật có.
Dẹp mọi tà kiến hí luận như Ái Luận , tâm
đắm nhiễm chấp thủ các pháp. Hoặc Kiến
Luận, kiến giải sai lầm, như kiến chấp tà
nhân luận, vô nhân luận v.v…
Mục đích của bổn luận là đưa hành giả đến
chánh quán, thật tướng, trung đạo, tiến
đến giác ngộ giải thoát.
|
|