Lâu nay, nhiều người được đọc một bài viết nhan đề:
“Lời tự thú của một Sư Cô” [1] được phổ biến rộng
rãi trên mạng lưới thông tin điện tử và báo giấy
tiếng Việt toàn cầu.
Đây là lời “tự thú” của một nữ tu sĩ Phật giáo, 50
tuổi đời và có hơn 30 năm tuổi đạo. Tuy lai lịch
thực hư của tác giả chưa được xác định rõ ràng,
nhưng người viết đã nói lên hai vấn đề được đề cập
khá rộng rãi và thường xuyên trong sinh hoạt đạo
Phật từ xa xưa đến bây giờ: Trí tuệ và Pháp môn.
Theo lời tự giới thiệu của tác giả bài viết – sư cô
Thích Nữ Tuệ Nhi (?) – thì bản thân sư cô trong suốt
hơn 30 năm qua vừa tu hành, vừa học hành nên đã đạt
được “4 văn bằng đại học, 2 bằng tiến sĩ, làm giảng
sư; nhưng chưa hiểu được gì về con đường tu hành cầu
giác ngộ của đạo Phật cả.” Sư cô đem bản thân mình
so với thân phụ và thân mẫu: Hai cụ tuy không có
điều kiện học hành, ít chữ nghĩa; song lúc về già
chỉ chuyên tâm niệm Phật mà “phát minh được trí huệ
qua quá trình niệm Phật… nên khi chết được vãng sanh
về cõi Phật.” Trong khi đó, sư cô Tuệ Nhi tự đánh
giá bản thân qua lời tự thú rằng, tuy sư cô có bằng
cấp đầy mình nhưng vẫn còn lạc hướng vì “chỉ có sở
học thế gian mà chưa hiểu đạo để phát minh trí huệ”
mà tu hành, cầu tìm con đường giải thoát chân chính.
(Xin mời xem nguyên văn “lời tự thú” của sư cô Tuệ
Nhi trong phần phụ chú).
Độc giả, kẻ đang viết những dòng nầy, đã có “duyên”
được đọc thì cũng xin “trợ duyên” mạo muội góp đôi
lời sơ luận:
*
Đi vào một thế giới Phật giáo thật sự không phải là
đi vào một thiền lâm kinh điển tôn giáo; nhưng là đi
vào một thế giới sống động muôn màu muôn vẻ của dòng
đời đa dạng mà ngôn từ Phật giáo thường gọi là Vạn
Pháp. Tuy nhiên dẫu vạn pháp mênh mông qua biểu hiện
hình tướng thì tự bản chất của lý tưởng giác ngộ
giải thoát cũng chỉ quy hướng về một mối – vạn pháp
quy nhất – không ta, không người; không đối tượng,
không chủ thể nào còn tồn tại. Cái “nhất” lắng đọng,
thanh tịnh hầu như tuyệt đối đó mới là con người
thật của chính mình. Cái “Vô ngã thuần khiết tuyệt
đối – Purely absolute non-egoism” của lý tính phương
Tây chỉ mới dừng lại ngang ý thức và vô thức. Chỉ có
lý nhà Phật mới tìm đến thể tánh mà trong kinh điển
Hán tạng thường gọi là “bản lai diện mục” với bản
thể thanh tịnh không hề sinh mà cũng chẳng hề diệt.
Cái Thật hay Không Thật đều sẽ không còn. Tất cả đều
không cần dựa vào một đối thể nào khác mà chỉ còn
chân tánh (Phật tánh) thường hằng tự tại, như như
bất động.
Khi không còn Ta và Người đối đãi nhau thì những cái
Mình – Ngã – đầy vọng tưởng như ta, tôi, tớ, ông, bà,
chú, bác, anh, chị, em… và vô vàn cái mũ, chiếc áo
xác định thân tướng sẽ tan biến; tâm ý sạch làu; tất
cả đều tuyệt diệt không còn chỗ dựa là ở trạng thái
giác ngộ. Người tìm được trạng thái giác ngộ là bậc
giác ngộ, là Phật. Có hằng hà sa số chư Phật đã lấy
vô lượng pháp môn làm phương tiện mà đi đến giác ngộ
đều giống nhau, nghĩa là cùng một bản lai diện mục,
cùng một tính Phật như nhau. Đức Phật Thích Ca trong
đêm Giác Ngộ đã chiến thắng huy hoàng bảy đợt tiến
công của sáu binh đoàn loài quỷ Lục căn Mara mà đợt
quyết liệt nhất trước bình minh là sự đối mặt với
Quỷ vương dữ dằn, hung hãn và nguy hiểm nhất, đó là
“Quỷ Vương Ta.” Cái Ta bất trị không thể quên, không
thể cùm, không thể khóa, không thể phân, không thể
diệt được. Cái Ta chỉ chịu biến mất tạm thời hay
vĩnh viễn giữa rỗng lặng, trong diệu không. Đó là
khi Ngã không còn gì, kể cả chính nó. Khi Ngã không
còn điểm tựa, mặt trời Giác Ngộ bừng sáng chiếu hào
quang từ trong cõi Tâm – diệu ứng thanh tịnh vô ngã
– của Ngài.
Đạo Phật lấy Từ Bi để cứu khổ và giải thoát đau khổ;
lấy Trí Tuệ để làm phương tiện tiến tới chỗ giác ngộ
tròn đầy, viên mãn. Không có Từ Bi thì Phật giáo chỉ
là một trường phái học thuật không thể giải thoát ra
khỏi khổ đau, chẳng cứu được ai ra khỏi tam đồ ác
đạo. Không có Trí Tuệ thì Phật giáo chỉ là quần thể
thực hành bái vọng phiếm thần không thể đạt đến giác
ngộ, thoát ra khỏi vòng luân hồi sinh tử. Trí tuệ
tròn đầy và phương tiện dùng đúng (trí tuệ viên mãn,
pháp môn diệu dụng) là điều kiện lý tưởng để hành
giả nương nhờ.
Tam tạng kinh điển nhà Phật trùng trùng như núi cao,
biển rộng cũng chỉ hướng đến một điểm đích sau cùng:
Phá sự tối tăm để phát huy trí tuệ .
Trí tuệ trong đạo Phật
Khái niệm trí tuệ là gì và vai trò của trí tuệ trong
đạo Phật như thế nào là một đề tài đã được chư thiền
đức của nhiều môn phái, các luận sư, cũng như các
bậc thiện tri thức tu và học Phật minh định, luận
bàn và lý giải đủ mọi chiều hướng, nhiều góc cạnh
xưa nay. Từ những lý thuyết cao xa cho đến những ý
nghĩ gần gũi và đơn giản nhất, tuy có khác nhau về
đại thể nhưng vẫn có điểm chung nhất gặp nhau: Phải
có cái học rốt ráo, tinh thâm trước đã thì trí tuệ
mới phát sinh. Bước vào cửa Thiền thì phải hiểu khái
niệm về cái học theo một nghĩa thoáng rộng và tích
cực hơn là cái học chỉ biết gói trọn trong nhà
trường và sách vở. Xưa nay, chỉ có đạo Phật mới tôn
xưng các “Bậc Vô Học”lên trên hàng “Hữu Học”, ngang
tầm á thánh.
Học có hai bậc: Bậc hữu học và bậc vô học.
Bậc hữu học có sự hiểu biết nhờ nghe, đọc và quan
sát lời giảng, bài viết, chĩ dẫn từ những bậc thầy,
bậc thiện tri thức (văn). Sau đó tự mình suy nghĩ,
quán chiếu (tư). Đem hiểu biết ứng dụng vào hành trì
(tu). Văn-Tư-Tu là tam huệ học.
Bậc vô học là người “vô sư tự ngộ”, nghĩa là tự
chính mình học, tư duy, quán chiếu bằng phương tiện
tự thân như nghiêm trì giới luật (giới), công phu
thiền định (định), rồi đi sâu vào quán niệm sự lý để
phát sinh trí tuệ (huệ). Giới-Định-Huệ là tam-vô-lậu
học.
Đức Phật Thích Ca cũng đã từng trải nghiệm cả hai
bậc học. Khi còn là thái tử Tất Đạt Đa, ngài đã được
học với những bậc danh sư khắp nơi được mời về cung
giáo huấn. Khi xuất gia, sau năm năm học đạo với các
đạo sư và sáu năm khổ hạnh công phu, tu sĩ Cồ Đàm
vẫn chưa tìm ra chân lý liễu thoát sanh tử. Cầu bên
ngoài không tìm ra con đường đạo, ngài phải quay lại
nhìn Bến Tâm của chính mình. Bi và Trí chưa đủ. Phải
cần hạnh Dũng mới bứt phá được trùng vây của vô minh
che khuất tự tánh. Bốn mươi chín ngày đêm thiền định
dưới gốc cây bồ đề trong rừng vắng, ngài đã tự mình
thắp đuốc lên mà đi. Trên trời, dưới đất chẳng có
nơi nào để dựa. Chỉ có mình ta duy nhất (duy ngã độc
tôn) phải tự chính mình vượt cửa ngõ cuối cùng đi
vào nội tâm. Mọi khởi niệm sơ xưa, mọi vọng tưởng
mong cầu, mọi chấp trước bỉ thử đều vắng bặt. Ngài
tìm được Bến Mình, Bến Tâm, Bến Thật như nháy mắt
đột phá long trời “Big Bang” của vũ trụ và hốt nhiên
đại ngộ. Người đời sau kể chuyện Phật giác ngộ cũng
giông giống như các nhà khoa học kể chuyện Big Bang
xẩy ra 14 tỷ năm về trước…
Những nhà nghiên cứu Phật học vẫn thường phân biệt
hai thành phần Trí Thức và Trí Tuệ, tương tự như
người đời thường phân biệt Học Thức và Trí Thức. Như
một học giả thâm uyên biết rộng khắp mọi khái niệm
về khổ và lý thuyết diệt khổ thì mới chỉ được phần
trí thức. Nhưng có đạt được trí tuệ hay không là do
công hạnh hành trì thực chứng.
Đỉnh cao nhất của trí thức thiền lâm là trí tuệ.
Nhưng có chăng được sự sở đắc trí tuệ mà không cần
qua quá trình học và tập và để khai mở tuệ giác của
tri thức?
Những trường hợp không thông qua cái sở học bình
thường mà vẫn đạt tới được trí tuệ viên mãn như biểu
tượng Lục Tổ Huệ Năng hay ẩn dụ về một đại đệ tử
thời đức Phật tại thế là Châu Lợi Bàn Đà, một người
chịu nghiệp độn căn từ tiền kiếp, đi tu mà học hoài
không thuộc mấy câu kinh nên đức Phật chỉ cho học
hai chữ “cái chổi”. Nhưng từ cái chổi đó mà quét
được màn vô minh và chứng ngộ. Tưởng cũng cần gột
rửa bớt thói quen ước lệ thiếu chân xác về cái sở
học thế nhân. Không biết đọc những ký hiệu quy ước
của một nhóm người hay xã hội nào đó (như hình thức
ký hiệu abc... được tạm gọi là chữ viết chẳng hạn)
không có nghĩa là “mù chữ”. Không học những mớ hiểu
biết quy ước của một quần thể xã hội nào đó (tạm gọi
là kiến thức) không có nghĩa là “vô học”! Học là một
quá trình động não và động tâm lâu dài để tìm tòi và
thấy được ý nghĩa thật sự của dòng sống bên trong
đối tác với xã hội và thế giới bên ngoài. Đến trường,
học thầy, đọc sách... chỉ mới là một hình thức
phương tiện trong muôn vàn phương tiện của cái học.
Trường hợp sư cô Tuệ Nhi tự thú nhận là Cô chỉ có
thuần trí thức mà không phát huy được trí tuệ. Sau
giấc ngủ dài 30 năm chỉ biết bắt chước và làm theo
thói quen mà có người dẹ nhạ gọi là “luật”, sư cô
Tuệ Nhi trăn trở tìm đường thoát ra khỏi ngục tù của
khái niệm về tri thức. Nhưng không sao đâu, thưa Sư
cô, chư tổ thiền lâm đều dạy rằng, khi một người tự
biết mình có tri thức mà chưa có được trí tuệ thì đó
là đang có được ánh sáng khởi đầu của trí tuệ. Tự
biết mình là sự khám phá khai tâm đầu tiên và quan
trọng nhất trên đường tìm trí tuệ.
Định nghĩa người có trí thức – đặc biệt là “trí thức
Phật giáo” – như thông thường được hiểu và người có
trí tuệ như đạo Phật thường định nghĩa là một cách
cường điệu hóa hay tuyệt đối hóa căn cứ trên những
tiêu chuẩn và phạm trù chỉ có về mặt lý thuyết hơn
là thực tế. Trong xã hội đời thường, những phẩm chất
biến hiện và tương tác qua lại giữa người có sở học
cao (học thức) và kẻ biết đem tài năng học vấn giúp
đời (trí thức) có sự dẫm chân và giao hưởng với nhau.
Đóng những cái khung định nghĩa lý thuyết có vẻ như
là một hình thức chơi chữ mang tính giả định. Trên
thực tế, sẽ rất hiếm mà tìm ra được hai mẫu “khuôn
đúc” học thức và trí thức rạch ròi tách biệt nhau
giữa đời nầy. Cũng tương tự như thế, sự phân định
một Phật tử thuần túy là học giả, trí thức đời
thường và một Phật tử chỉ có ròng tuệ giác, trí tuệ
thiền lâm tách biệt nhau rạch ròi giữa hai biên giới
như đen với trắng là điều không thật có giữa đời
thường.
Xuất phát từ biên kiến phân biệt đầy giả định đó,
trong một quá khứ không xa và quán tính còn rơi rớt
lại ngày nay là khuynh hướng học Phật mang nặng tính
chấp trước. Đấy là khuynh hướng cho rằng, muốn tu
hành đoan nghiêm và hành trì giới luật nghiêm cẩn
thì kẻ tu hành phải tránh xa cái học của thế nhân.
Gay gắt hơn nữa là định kiến khư khư về tác dụng
tiêu cực của bằng cấp, học vị đời thường chẳng những
đã không có lợi mà còn làm cho cái học kinh tạng,
nội điển của kẻ tu hành bị lệch hướng, sai đường.
Nhiều vị bổn sư trú trì chùa viện đã “bế môn, tỏa
chiết” không cho đệ tử mình theo học trường ốc bên
ngoài mà bắt phải ở trong bốn bức tường của Hán tạng
“nội điển”. Hoặc giả như trường hợp sư cô Tuệ Nhi đã
nêu dẫn ở trên, người đã đạt “hai bằng tiến sĩ” và
làm giảng sư nhưng lại tự thú nhận là chẳng hiểu gì
về Phật học và con đường tu hành thanh tịnh cả. Có
chăng hiện tượng nghịch lý khi một “giảng sư tiến sĩ
tu sĩ” đã thọ đại giới mà lại đi giảng mây, giảng
khói không biết mình nói gì trong suốt ba mươi năm
làm giáo thọ?! Trong cái học phổ thông, Đông cũng
như Tây, tiến sĩ là cấp học của người nghiên cứu
tương đối độc lập theo những phương pháp luận
(methodology) khảo chứng, phân tích và tổng hợp các
dữ kiện khoa học và nhân văn. Không rõ sư cô Tuệ Nhi
đã đi theo trường phái học thuật nào mà cấp học cao
nhất lại dẫn đến sự trống trải của tri thức khiến cô
phải ân hận muộn màng đến như thế?
Trên thực tế, nền học thuật kinh viện nội điển cũng
như ngoại thư của Phật giáo có sự gắn bó hỗ tương
với nền học thuật hàn lâm ở ngoài đời. Đại học Phật
giáo Ananda được xây dựng từ thế kỷ thứ 2 tại Ấn Độ
với một quy mô lớn lao trên 10.000 thành viên theo
học đã đào tạo ra những nhà Phật học uyên bác như
Long Thọ, Thế Thân, Huyền Trang… đã phát huy văn hóa
Phật giáo trên đường học thuật suốt cả nghìn năm.
Tuy đại học Ananda bị các thế lực Hồi giáo du mục
cực đoan phá hủy năm 1197; nhưng kho tàng tri thức
từ chốn thiền lâm học hiệu nầy vẫn còn lan tỏa mỗi
ngày càng xa và càng rộng cho đến ngày nay. Những
danh tăng trong suốt chiều dài lịch sử Phật giáo đều
là những học giả thâm uyên. Ngày nay, việc đào tạo
Tăng, Ni là một quá trình tu và học song song. Ở Tây
Tạng, muốn trở thành một nhà sư đúng nghĩa phải qua
một quá trình học tập gian khổ suốt 15 năm. Hầu hết
các nhà sư Tây Tạng đều có bằng cấp tương đương với
tiến sĩ Phật học gọi là Geshi. Các tu sĩ thuộc thế
hệ trẻ ở Việt Nam, Thái Lan, Đài Loan, Nhật Bản ngày
nay đa số tốt nghiệp Cao đẳng Phật học. Đạo Phật lấy
trí tuệ làm sự nghiệp (duy tuệ thị nghiệp) để tu cầu
giác ngộ. Ngoại trừ những trường hợp biệt lệ “vô sư
tự ngộ” hiếm hoi thì quá trình học hỏi (văn), suy tư
(tư) để hành đạo (tu) vẫn là một tiến trình phổ biến
trong sinh hoạt Phật giáo từ xưa đến nay. Bởi vậy,
phủ nhận vai trò quan trọng của tri thức và giáo dục
là hoàn toàn không khế hợp với tinh thần Từ Bi, Trí
Tuệ căn bản của Phật giáo.
Pháp môn Niệm Phật Vãng Sanh
Đạo Phật là một phương tiện tìm cầu thoát khổ và
chứng ngộ. Đức Phật không đóng vai trò của thần linh
quá cao viễn và xa vời mà thường tự nhận là một
phương tiện khai phóng giác ngộ. Người giác ngộ là
Phật. Sinh thể mọi loài đều có hạt giống giác ngộ tự
thân nên đều có khả năng thành Phật. Dẫu là bậc
Thiên Nhân Sư nhưng đức Phật Thích Ca không tự cho
mình là cứu cánh. Ngài luôn luôn tự coi mình là một
phương tiện như người thầy thuốc và giáo lý nhà Phật
là những vị thuốc chữa bệnh vô minh, đau khổ của
trần gian.
Đạo là con đường mà đạo Phật là con đường đi đến
giác ngộ. Có vô số cách đi trên con đường ấy – vô
lượng pháp môn tu – tùy theo căn cơ, tính giác của
từng cá thể không ai giống ai mà đi theo con đường
thích hợp.
Phật giáo từ Ấn Độ du nhập vào Trung Hoa. Hai nguồn
tư tưởng Vệ Đà và Lão Trang Khổng gặp nhau trên
chiếc cầu Phật Giáo kéo theo hai truyền thống văn
hóa và xã hội Ấn – Hoa vừa dò tìm nhau vừa tương tác
với nhau. Hoa sen Phật giáo Ấn Độ nở trên hồ Động
Đình Trung Hoa nửa thực, nửa hư. Nguồn tư tưởng tâm
linh nầy vừa cao sâu chót vót nhưng cũng vừa chất
phác nông dân; vừa bén rễ vào hiện thực nhưng cũng
vừa trổ hoa huyền thoại. Qua hơn hai nghìn năm, Phật
giáo Trung Hoa đã lan tỏa tới những vùng lân cận.
Đạo Phật cung đình và thiền lâm tự viện đi vào đại
chúng, khế hợp với truyền thống văn hóa và tín
ngưỡng của xứ nầy:
Đạo Phật có gần ba mươi bộ phái, nhưng nổi bật trên
đất Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam là các
tông phái có luật tắc riêng làm tông chỉ: Thiền (đến
thẳng lòng người, thấy tánh thành Phật), Mật (lấy
Tam Mật – thân, miệng, ý tương ưng – và ấn chú để
truyền thừa), Tịnh Độ (một lòng niệm Phật cầu vãng
sanh Tây phương Cực Lạc), Hoa Nghiêm (lìa thế gian,
nhập pháp giới), Thiên Thai (mở toang mọi cánh cửa
để tìm về cái thấy và cái biết của Phật), Tam Luận (lìa
cả hai bên để tìm về Trung Đạo), Luật (hành trì và
giữ gìn giới luật nghiêm cẩn), Pháp Tướng (đem vạn
pháp về chân Duy Thức)... và vô lượng pháp môn tu.
Sự phóng khoáng và cao viễn của đạo Phật phản ánh
qua truyền thống dung hợp và hóa giải tinh thần “vô
lượng pháp môn” nầy. Có vẻ như hành giả tịnh tu càng
ngày càng hiếm và con người ồn ào, vọng niệm càng
ngày càng nhiều. Đó là hiện tượng khi người ta không
tự an trú trong pháp môn của mình đang theo mà cứ
kiểng chân, chỉ tay vào pháp môn của người khác để
phản bác hay cho là “tà kiến ngoại đạo”. Pháp môn
Tịnh Độ – niệm Phật vãng sanh – mà Sư cô Tuệ Nhi nói
đến trong “lời tự thú” là một trường hợp điển hình
của tình trạng biên kiến pháp môn nầy. Phật giáo
Trung Hoa và Nhật Bản cũng đã trải qua những thời kỳ
tương tự. Pháp môn Tịnh Độ được xiển dương rầm rộ.
Tu sĩ, hành giả tận dụng hết mọi lời hay, ý cả để
nói về sự cao siêu mầu nhiệm của pháp môn Niệm Phật
cầu vãng sanh. Nhưng rất nhiều trường hợp, sự luận
giải đã đi quá xa; vô hình chung, tiến gần đến
khuynh hướng mê tín dị đoan và cuồng tín. Thậm chí,
họ biến đức Phật A Di Đà thành một hình tượng Thượng
Đế toàn năng đang dang tay đưa hết thảy sinh linh
quy phục mình về Nước Trời và biến cảnh Tây Phương
Cực Lạc thành một thế giới Thiên Đường đầy ảo vọng.
Vọng niệm cực đoan là nguyên nhân suy thoái trong
sinh hoạt Phật giáo bất kỳ ở xứ nào. Nhiệt tình đem
pháp môn Tịnh Độ, niệm Phật cầu vãng sanh ra để làm
cái dù che chắn hết tinh hoa của những pháp môn khác
thì chẳng khác gì hành động lấy con đường làm phương
tiện cho cổ xe. Trường hợp sư Nhật Liên (Nichiren;
1222-1282), cao tăng Nhật Bản, khai tổ Nhật Liên
Tông là một thí dụ điển hình. Bình sinh, sư Nhật
Liên quan niệm rằng, chỉ có bộ kinh Diệu Pháp Liên
Hoa mới là tuyệt đỉnh tín lý của đạo Phật. Chỉ có bộ
kinh nầy mới cứu độ được chúng sanh còn tất cả mọi
kinh tạng và môn phái khác đều là rơm rác. Sư muốn
đưa Nhật Liên Tông lên làm quốc giáo Nhật và chỉ
trích gay gắt chính quyền đương thời đến nỗi bị lên
án tử hình; nhưng may sau được thoát trong một
trường hợp lạ lùng đặc biệt. Khuynh hướng độc tôn
của sư Nhật Liên đã tạo ra một thời kỳ dao động. Các
môn phái chống báng nhau làm ô nhiễm và nghèo đi một
chặng đường trong Phật giáo sử Nhật Bản, nhất là
thời kỳ giới Samurai thuộc phái Thần Đạo và Thiền
Tông mở đường “phản công” cho rằng: Tịnh Độ Tông là
một pháp môn dễ dãi, thiếu tri thức văn chương hay
triết lý và chẳng phải là một dòng nhánh của Phật
giáo chân truyền. Do vậy, Tịnh Độ Tông chỉ để dành
cho đại chúng bình dân ít học, kẻ hạ căn và ông già
bà lão “cầu vãng sanh” và chấp trụ vào tha lực A Di
Đà như một sự thoát ly, chạy trốn chính mình và hiện
thực mà chẳng cần quán niệm hay động não ... (!)
Tuy nhiên, mọi hình thức cực đoan thể hiện qua lối
suy nghĩ mang tính cố chấp và vọng động không có lý
do tồn tại trong đạo Phật. Đại chúng Nhật Bản đã
nhận định tương đối công bằng, rằng: “Mật Tông và
Thiên Thai Tông thích hợp với hàng quý phái; Thiền
Tông thích hợp với giới Võ Sĩ đạo; và Tịnh Độ Tông
thích hợp với giới bình dân. Vì giới bình dân chiếm
đa số trong xã hội nên Tịnh Độ Tông thường được nhắc
đến nhiều hơn, quảng bá rộng rãi hơn, gây ra cảm
giác bề mặt sai lạc như pháp môn Niệm Phật cầu vãng
sanh là cao hơn các pháp môn khác trong đạo Phật.
Thế nhưng thuốc hay đâu phải vì nhãn hiệu lớn nhỏ,
quí tiện mà vì chữa được bệnh; pháp hay đâu phải vì
tiếng đồn cao thấp mà vì hợp với căn tánh, giúp
người theo có được tâm từ bi và an lạc.”
Mỗi thế giới Phật có một cõi Tịnh Độ. Có hàng hà sa
số Phật nên cũng có vô số cõi Tịnh Độ. Tịnh Độ chẳng
phải là một Vùng Đất Hứa để khi chết mới được về.
Tịnh Độ là một cõi bản nhiên an lạc, như như thường
tại trong chính mỗi sinh thể. Cõi Tịnh Độ của thế
giới Ta Bà nầy có đức Phật A Di Đà thọ chứng. Hai
bên có bồ tát Đại Thế Chí tượng trưng cho sự khai mở
trí tuệ chỉ đường giải thoát và bồ tát Quán Thế Âm
là biểu tượng của năng lực thần kỳ cứu nguy, giải
nạn. Đức Quán Thế Âm cũng là bồ tát Quán Tự Tại,
nghĩa là năng lực cứu nguy, diệt khổ ở tự trong ta.
Chết vãng sanh?
Đối với Phật giáo thì Chết là một hình thức biến
tướng xẩy ra trong từng sát na từ vô thủy đến vô
chung qua 3 cấp độ: Vi biến, tiểu biến và hệ biến.
Vi biến là trạng thái đổi thay xẩy ra trong chớp mắt
như thoáng vui, thoáng buồn, thoáng yêu, thoáng ghét
(như: Yêu là chết ở trong lòng một ít - XD).
Tiểu biến là hình thái thay đổi xảy ra trong một
giai đoạn ngắn dài nào đó như người khỏe mạnh, giàu
có biến thành người bệnh tật, khốn khổ sau một tai
nạn hay biến cố (như: Thi đỗ hàn Nho thành quan
trạng; mắc lừa Từ Hải chịu vong thân - NT).
Hệ biến là sự biến đổi cả một hệ thống. Đối với con
người là hệ thống tuần hoàn, là sự sống chết, là
hình thái biến tướng từ kiếp nầy sang kiếp khác (như:
Chết là hết, hết đau, hết khổ. Nhưng cũng hết vầng
trăng soi sáng trên đầu - LĐ)
Hình thức biểu hiện có khác nhau, nhưng khuynh hướng
căn bản của tất cả các pháp môn đều hướng tới một
mục đích chính: Chết về đâu và giải quyết cái chết
như thế nào để sau cái chết, nếu có chăng một đời
sống mới thì phải khá hay huy hoàng hơn đời sống cũ.
Pháp môn niệm Phật thì đặt trên một niềm tin nhất
quán và tuyệt đối rằng, con người ta khi sắp chết,
nếu nhất tâm niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà thì
người đó sẽ được Phật Di Đà và thánh chúng tiếp dẫn
về cõi Tây Phương Cực Lạc. Nơi đây họ được sống
trong cảnh thần tiên của thế giới Cực Lạc và tiếp
tục tu học, tìm cầu nẻo đạo thoát khỏi luân hồi sinh
tử. Kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ, hay Tịnh Độ
Vãng Sanh Luận của bồ tát Thế thân là những kinh
điển xương sống của pháp môn Tịnh Độ. Nhìn chung, đó
là những áng văn tả cảnh (cảnh trời Cực Lạc) tuyệt
vời. Vàng ngọc, châu báu vô giá của trần gian cũng
chỉ là đất cát tầm thường nơi miền Cực Lạc. Cuộc
sống thần tiên an lạc trong biển hào quang hóa độ
của đức Phật A Di Đà và thánh chúng thật là một nơi
an nghĩ tuyệt diệu cho kiếp đời sinh diệt tối tăm.
Nhiều Phật tử vẫn mường tượng và chấp chặt cảnh Tây
Phương Cực Lạc là vùng đất hứa. Nhưng chỉ cần một
khởi niệm chấp chặt thì hành giả niệm Phật đã xa rời
Chân Tướng; trong khi Chân Tướng đó mới chính là
cảnh trời Cực Lạc Tây Phương.
Thật ra, Niết Bàn, Thiên Đường hay Miền Cực Lạc cũng
chỉ là những sản phẩm của sự ước mơ. Đời sống mà
không có sự ước mơ cũng như đất không có hoa và ước
mơ quá xa vời với hiện thực cuộc sống thì cũng như
có hoa mà không đất. Đức Phật thường sử dụng biểu
tượng ước mơ như những thí dụ làm phương tiện giáo
hóa. Thuốc để chữa bệnh không phải là sự lành bệnh
mà phải cần 3 yếu tố: Thầy giỏi, thuốc hay và người
bệnh thực hành uống thuốc đúng theo lời chỉ dẫn.
Sự sống chết xảy ra thường xuyên và liên tục ở một
trong ba cấp độ vừa trình bày ở trên. Cái chết nầy
là cánh cửa cuối cùng mở ra cho sự sống kia bắt đầu:
Nụ cuời hoan hỷ sau khi sự hiểu lầm được giải tỏa,
anh học trò nghèo vừa thi đỗ đại khoa, một sinh thể
vừa mới được sinh ra... đều là những biểu hiện chết
sống diễn ra liên tu bất tận ở mọi cấp độ. Nếu tín
lý Đại Thừa xây dựng niềm tin có đức A Di Đà dang
tay tiếp dẫn thì không phải chờ đến khi hệ biến (từ
trần) mới tới đón mà phải biết tìm cầu Ngài ở ngay
chính ta trong chính cái sát na đương niệm hiện tiền
nầy. Niệm “lục đại tự” – Nam Mô A Di Đà Phật –
thường xuyên là cốt giúp giữ lòng thanh tịnh để có
đủ khoảng trống cần thiết tâm thức của chính hành
giả (nhất tâm bất loạn) mà an trú trong hiện tại,
không sợ hãi khổ đau, xem nụ cười lành, nhìn chỗ
đứng an lạc, được sinh thuận tử an... chính là cõi
Tịnh Độ giữa trần gian gió bụi nầy chứ không phải là
những ảo vọng “viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu cánh
Niết bàn Tam thế chư Phật” hay dựa vào tha lực của
thế giới Cực Lạc hữu vi – hoàn toàn trái ngược với
tinh thần cốt tủy của Phật giáo – để van vỉ, cầu xin
mới thật sự là được vãng sanh Tịnh Độ.
Một thời khắc đại định của vị thiền sư Hoa Nghiêm
Tông , một hành động buông dao của người đồ tể và
một câu niệm Phật A Di Đà của song thân sư cô Tuệ
Nhi đều có năng lực giữ cho nhất tâm bất loạn. Một
bài triết lý xa xôi của môn đồ Socrate trên đỉnh núi
Pyrenee chắc gì có tác dụng làm lắng đọng tâm tư cao
hơn một tiếng hát tiều phu trên triền núi Trường Sơn
mây khói. Vạn pháp bình đẳng, không phân biệt hình
thức phương tiện hay hoàn cảnh xuất thân. Mọi sự
chuyển đổi pháp môn không ứng hợp với căn cơ của
hành giả sẽ làm cho “đa tâm bấn loạn”. Sự câu nệ
pháp môn, do đó, là biểu hiện một tinh thần cực đoan
phi Phật giáo.
Nói gọn lại
Đạo Phật hay bất cứ một hình thức tôn giáo nào khác
sẽ không có lý do ra đời và có điều kiện tồn tại,
phát huy nếu không đóng một vai trò đáp ứng khát
vọng tâm linh mới mẽ và tích cực trong một khung
cảnh nhân văn nhất định nào đó. Tại một xã hội đa
giáo, đa thần như Ấn Độ thời cổ nếu thiếu đi một con
đường trí tuệ khác biệt, độc sáng và cao rộng hơn
những hệ thống đức tin và lý thuyết tôn giáo đã có
mặt lâu đời ở xứ nầy như Bà La Môn, Ấn Độ giáo thì
bất cứ một hệ thống tư tưởng tâm linh nào cũng chỉ
là một sự lập lại dễ quên, chóng tàn. Hơn ba nghìn
năm, trước khi đức Phật ra đời, dọc con sông thiêng
Hằng Hà từ Hy Mã Lạp Sơn xuống tận biển đã có hằng
vạn hành giả, pháp môn, hệ phái tôn giáo hành đạo
theo cách riêng của mình. Trong tác phẩm Những Dấu
Ấn Tâm Linh Hằng Hà của Krishna Kanvatar, hình ảnh
Phật giáo nổi lên nhờ sự giác ngộ Trung Đạo của đức
Thích Ca giữa hai bờ đối đãi cực đoan của Bà La Môn
giáo, Bái Vật giáo và Phiếm Thần giáo… thời bấy giờ.
Cũng theo Kanvatar thì nếu thiếu đi cái xương sống
là sự minh triết trí tuệ mang ánh sáng khai phóng,
để chỉ lập lại hay cải biên những nguyên tắc, lý
thuyết cổ xưa của Vệ Đà, Áo Nghĩa Thư… thì đức Phật
và đạo Phật về sau cũng đã chìm khuất trong những
khu rừng của hàng nghìn đạo sĩ, danh môn và tông
phái của Ấn Độ từ hơn hai nghìn năm trước.
Đạo Phật là hình ảnh của một dòng sông tư tưởng và
tâm linh không thối chuyển. Tuy nhiên, mỗi thời đại,
mỗi khung cảnh quốc gia và xã hội đều có những vấn
đề và yêu cầu riêng khác nhau. Trong xã hội hiện tại,
nhất là với bối cảnh đặc biệt của người Việt Nam
trong cũng như ngoài nước, đạo Phật đang có khuynh
hướng tiến ra ngoài và vượt lên trên một hình thức
thờ cúng, bái vọng mang tính chất “xưa bày nay làm”
mang màu sắc thần thánh mặc khải vốn là bản chất của
các tôn giáo. Sự phát triển của đạo Phật trong khung
cảnh toàn cầu hóa, đặc biệt là tại các nước Âu Mỹ
ngày nay, đậm nét tri thức và trí tuệ hơn là chỉ có
niềm tin tôn giáo thuần túy. Sự đa dạng và phong phú
của các pháp môn trong đạo Phật đã đáp ứng được
những nhu cầu hiểu biết và tâm linh từ hàng bình dân
đến lớp học giả, trí thức. Bởi vậy, thái độ khư khư
chấp chặt vào một pháp môn phương tiện là vô tình bỏ
quên “viên ngọc trong chéo áo” để cam chịu nghèo nàn,
lu thu cuối bãi đầu ghềnh giữa một biển trời mênh
mông lộng gió! Đạo Phật phát triển, Bắc truyền (Đại
thừa) của Việt Nam đã mềm dẽo và tích cực phát huy
tinh thần phước huệ tương hành, thiền tịnh song tu.
Dẫu là hiện thực hay hư cấu, kẻ viết những dòng nầy
cũng xin đảnh lễ sư cô Thích Nữ Tuệ Nhi, người đã
đưa ra vấn đề liên quan đến khía cạnh hoằng pháp độ
sanh của đạo Phật thời hiện đại. Sự phát huy trí tuệ
trong tinh thần thanh tịnh và tinh tấn của Phật giáo
có khả năng mở ra vạn nẻo quanh co của lý luận và
tranh biện. Nhưng cuối cùng vẫn gặp nhau ở một điểm
chung là Sự Thật tỏa sáng qua nụ cười giải thoát, an
lạc. Tín tâm chân thực bao giờ cũng là biểu tượng
của đóa sen thơm ngát trong lòng người Phật tử.
Nếu có những Phật tử xuất gia như sư cô Tuệ Nhi, nửa
đường nhìn lại, để từ đó thấy được mình và tìm ra
một pháp môn thích hợp với căn cơ của riêng cá nhân
mình mà đi tiếp thì cũng có những vị “nửa đường bỏ
cuộc... chơi!”. Nhắc đến trường hợp sư cô Tuệ Nhi
không khỏi làm người ta liên tưởng tới trường hợp
của cựu Đại đức Thích Huệ Nhật. Trước khi tự thú
nhận là “xù Phật theo Chúa” để trở thành một Mục sư
– mục sư Nguyễn Huệ Nhật – thầy Huệ Nhật đã viết
trong tác phẩm tự truyện “Từ Áo Cà Sa Đến Thập Tự
Giá”[2] rằng, lý thuyết Phật giáo quá nhiêu khê, với
nhiều góc khuất tối tăm khó hiểu; thậm chí có những
tín lý mâu thuẫn nhau. Quả thật, đây cũng là một lời
tự thú chân thành nên rất đáng trân trọng. Nếu nhìn
qua lăng kính của lý thuyết thần học phương Tây thì
nhị nguyên luận hình thức làm sao lý giải rạch ròi
khái niệm “Sắc chẳng khác Không; Không chẳng khác
Sắc. Sắc tức là Không; Không tức là Sắc...” của tư
tưởng Kim Cương Bát Nhã nhất nguyên luận thể tánh
cho được. Ông Xã Xệ làng ta vừa lên tỉnh lần đầu,
dạo phố bị lạc đường, cho là những con đường làm sai.
Những con đường và ông Xã Xệ không có bên nào sai cả;
nhưng hai bên đã lạc nhau vì tri thức và thực tại
không có cùng mẫu số nhất quán song hành.
Cũng tương tự như thế, pháp môn là phương tiện nên
đừng để rơi vào thế Xã Xệ và con đường mà tội.
Rancho Seco, mùa Phật Đản 2011
Trần Kiêm Đoàn
-----
[1] http://www.duongvecoitinh.com/index.php
/2010/04/loi-tu-thu-cua-mot-su-co/
[2] http://www.giaodiemonline.com/thuvien/debate
/casacross-tkd.htm