Hằng năm vào ngày rằm Tháng Tư Âm
Lịch (cuối Tháng Năm duơng lịch năm
nay) hằng triệu Phật tử trên thế
giới, từ thành thị đến thôn quê, từ
rừng sâu đến biển cả, ở các nước Ấn
Độ, Tích Lan, Miến Điện, Trung hoa,
Đài Loan, Tây Tạng, Nhật Bản, Đại
Hàn, Thái Lan, Việt Nam, Cao Miên,
Lào… nô nức đến chùa đón mừng ngày
Khánh Đản. Phật tử hân hoan đến chùa
lễ Phật để tỏ lòng kính ngưỡng sự
hóa độ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Trước khi tìm hiểu Đức Phật dạy gì,
nên nói qua tiểu sử. Đức Thích Ca
Mâu Ni là một Thái Tử, có tên là Tất
Đạt Đa, họ là Cù Đàm, sống ở Miền
Bắc Ấn Độ vào thế kỷ VI trước Tây
Lịch. Thân phụ Ngài là Quốc Vương
Tịnh Phạn, cai trị bộ tộc Thích -
Ca, ở xứ Nepal ngày nay. Mẹ Ngài là
Hoàng Hậu Ma-Gia. Ngài kết hôn rất
sớm, năm 16 tuổi với Công Chúa
Da-Du-Dà-La và có một con là La Hầu
La.
Thái tử Tất Đạt Đa sống trong cung
vàng điện ngọc với đầy đủ những xa
hoa vật chất, khi có dịp ra ngoài
thành thấy cảnh sống khổ sở của kiếp
người như già, lão, bệnh, tử… Ngài
quyết ra đi tìm con đường giải thoát
khỏi cảnh khổ. Năm 29 tuổi Ngài rời
bỏ cung điện, đi vào rừng sâu tầm
đạo.
Sau sáu năm khổ hạnh tu tập với
nhiều đạo sư, Ngài không thỏa mãn
với những lý thuyết cũng như cách
hành đạo khổ hạnh của họ. Ngài đã
vạch ra một con đường riêng cho mình.
Rồi một đêm kia dưới cội bồ đề, bên
bờ sông Ni-liên-thiền Ngài được
chứng đạo (enlightment). Từ đó Ngài
được tôn xưng là Phật Thích Ca Mâu
Ni, năm đó Ngài 35 tuổi.
Sau đó Ngài đi giáo hóa suốt 45 năm
khắp nơi ở Ấn Độ, năm 80 tuổi Ngài
nhập diệt ở Câu-thi-na. Ngài đã nhập
diệt trên hai ngàn năm trăm năm
nhưng đã để lại cho nhân loại một
kho tàng giáo lý vô cùng thâm sâu
mầu nhiệm; không những phù hợp với
sự phát triển của khoa học hiện đại
mà còn vượt xa hơn nữa mà khoa học
cần phải tìm hiểu và khám phá để
minh xác giáo lý của Ngài là chơn lý.
Khoa học gia vĩ đại của thế kỷ 20
Albert Einstein đã tuyên bố: “Nếu có
một tôn giáo nào có thể thích nghi
với nhu cầu của khoa học hiện đại
thì đó là Phật Giáo. Phật Giáo không
cần duyệt xét quan niệm của mình để
cập hóa với những khám phá mới của
khoa học. Phật giáo không phải từ bỏ
những quan niệm của mình để chấp
nhận khoa học. Phật giáo là chiếc
cầu nối liền tôn giáo và những tư
tưởng khoa học. Chiếc cầu Phật Giáo
đã kích thích con người khám phá
những tiềm năng lớn lao nằm sâu kín
trong chính nó và trong môi trường
sống chung quanh nó. Phật giáo siêu
việt qua thời gian và mãi mãi có giá
trị.”
Đức Phật Thích Ca đã dạy phật tử
những gì?
Phật dạy “Từ, Bi, Hỷ, Xả” và tận
diệt “Tham, Sân, Si” vì đó là nguồn
gốc của khổ đau. Phật cũng dạy bản
thể của vạn vật là VÔ THƯỜNG, đổi
thay trong từng sát na ( một phần
ngàn giây), VÔ NGÃ là không có tự
tính. Vạn vật trên thế gian này là
do nhân duyên hợp thành, không có
chủ thể cố định. Do không có thực
thể cố định nên vạn vật là giả tạm.
Giáo lý Duy Thức, Vi Diệu Pháp là
những môn học quan sát, nghiên cứu
về tâm và những phương pháp chuyển
hóa những tâm niệm xấu ác thành tâm
niệm lành mạnh, chuyển hóa một con
người phàm phu trở thành một vị
thánh hiền.
Đức Phật cũng giải thích tại sao
chúng ta có mặt trên đời và khi chết
thì đi về đâu? Tại sao cùng sinh ra
trên đời mà lại có ngừơi giàu, kẻ
nghèo, người sang, kẻ hèn, kẻ thông
minh người ngu dốt, người đẹp kẻ xấu,
ngừơi sống lâu kẻ chết yểu vv.. Sở
dĩ có sự sai khác giữa chúng sinh là
do “Nhân - quả” chi phối. Gieo nhân
nào thì gặt quả nấy. Trồng cam, có
quả cam; trồng quít, có quả quít.
Phật thấy rõ nguyên nhân của dòng
sinh tử là do động lực của vô minh.
Từ vô minh mà phát sinh ra Hành, rồi
phát sinh Thức, phát sinh Danh sắc,
từ Danh Sắc phát sinh Sáu căn: xúc,
thọ, ái, chấp, thủ, hữu, sanh. Từ
sanh đưa đến già, bệnh, chết. Nếu
chặt đứt được một trong mười hai
nhân duyên thì dòng sanh tử sẽ chấm
dứt.
Phật dạy: Vạn vật do duyên hợp mà có,
duyên tan sẽ trở về KHÔNG. Chữ
“Không” vô cùng quan trọng trong Đạo
Phật. “Không” không có nghĩa đối
nghịch với “có” , mà KHÔNG đây là
không chủ thể, không cố định, ví như
đám mây, tụ đó rồi tan đó, có đó rồi
không đó, thương đó rồi ghét đó. Vạn
vật là hư ảo. “Có “ và “không” đều
là giả tạm. Phật dạy: “ thấy được lý
nhân duyên là thấy được chân lý. Nếu
chúng ta chấp “giả” là “thật” thì
chúng ta là người si mê.
Chữ “Nhẫn” cũng rất quan trọng trong
đạo Phật. Kinh Pháp Cú có câu :”
Thắng một vạn quân không bằng thắng
chính mình. Thắng chính mình mới là
chiến công oanh liệt”. Trong cuộc
sống hằng ngày chúng ta gặp rất
nhiều điều bất đắc ý. Nếu chúng ta
không có sức chịu đựng, không có sự
kiên nhẫn thì chúng ta sẽ đau khổ
triền miên. Đức Phật dạy: “ chỉ một
đóm lửa sân nhỏ sẽ đốt cháy cả một
rừng công đức”. Nếu chúng ta luôn
nghỉ tới đạo đức, nghỉ tới công phu
của mình tu tập thì đừng để những
cơn nóng giận khởi lên.
Nhẫn nhục với người: Đối với những
chuyện phiền lòng mà chúng ta bỏ qua
hết, không buồn giận thì đó là chúng
ta nhẫn nhục với người. Chúng ta
cũng phải nhẫn với hoàn cảnh, phải
chấp nhận những khó khăn trong cuộc
sống. Gương nhẫn nhục và từ bi được
thể hiện qua câu chuyện trong dân
gian về Đức Quan Thế Âm bị nghi oan.
Đức Quan Thế Âm không hề chứng minh.
Với lòng từ bi và nhẫn nhục cuối
cùng Ngài được tôn thờ là một vị
Phật.
Có hằng ngàn pháp môn (cửa) để vào
nhà Phật. Lời Phật dạy quý giá vô
cùng, nếu chúng ta cố gắng ứng dụng
những lời Phật dạy vô đời sống hằng
ngày thì chính mình bớt khổ đau và
những người chung quanh cũng nhờ ơn
phước này mà được hạnh phúc lây.
Chúng ta tu theo Phật là để được
“giải thoát”. Không phải đợi đến sau
khi chết mới được giải thoát khỏi
luân hồi sinh tử mà hãy phấn đấu, tự
thắng, để tự giải thoát mình ra khỏi
những cuồng si, vọng tưởng, sân hận,
phiền não trong từng giây phút sống
hiện tại. “Mỗi bước đi trong cuộc
hành trình là chính cuộc hành trình”
. Nói khác đi đời sống của chúng ta
là nối kết của những giây phút sống
hiện tại. Thật là tội nghiệp cho
những ai bỏ quên, đánh mất hiện tại
cho những mộng tưởng hão huyền xa
xôi.
Đức Phật không bao giờ tự nhận mình
là “Đấng Toàn Năng”, tạo ra vũ trụ,
mà Ngài tuyên bố một cách rất bình
đẳng “Ta là Phật đã thành, chúng
sanh là Phật sẽ thành” (nếu đi theo
đạo - con đường Phật dạy). Nên tu
tập bằng cách giữ giới và thiền định.
Khi thân tâm được an lạc thì sẽ phát
sinh huệ (trí, định, tuệ). Nhờ phát
huệ, Đức Phật đã thấy biết sự việc
đúng như thật. Còn chúng sinh vì vô
minh thấy và biết không đúng nên đau
khổ và tạo nhân bất thiện nên phải
chịu nghiệp báu khổ đau và sinh tử
luân hồi. Mục đích duy nhất của Phật
hiện ra trong đời là chỉ cho chúng
sanh “ngộ nhập tri kiến Phật”, tức
thấy biết như Phật để giải thoát
sinh tử và chấm dứt khổ đau.
Đức Phật Thích Ca đã rời bỏ vật chất
xa hoa, cung vàng điện ngọc, tu tập
sáu năm trong rừng già và 49 ngày
nhập định dưới cây bồ đề, Đức Phật
đã thành Phật (enlightment) ngay lúc
tim còn đập, máu còn chảy, còn thở
ra thở vào như chúng ta trên thế
gian. Chúng ta cũng có thể thành
Phật, hãy cố tận diệt THAM SÂN SI,
phát huy TỪ BI HỶ XẢ như lời Phật
dạy.
TUYẾT MAI -
Việt Báo Thứ Sáu,
5/28/2010