| |
(Bác
sĩ Trần Xuân Ninh)
Khoa học bản chất là duy lý, đặt trên nền
tảng quan sát, lý luận, chứng minh, kiểm
nghiệm. Quan sát đòi hỏi phải qua trung gian
ngũ quan: mắt nhìn, tai nghe, mũi ngửi,
miệng nếm, tay sờ. Lý luận kiểm nghiệm thì
cần khả năng trí tuệ. Tùy theo mức độ phát
triển và tùy ngành khoa học, vai trò của ngũ
quan và trí não có những tầm quan trọng khác
nhau.
Trong
khoa học thực nghiệm, ở những giai đoạn ban
đầu, quan sát bằng ngũ quan đóng vai trò chủ
yếu trong những phát kiến. Archimède tìm ra
sức đẩy của nước, Newton tìm ra trọng lực,
Franklin tìm ra điện trong sấm chớp v.v. tất
cả đều do quan sát rồi tiếp theo là suy
nghiệm. Trong khoa học thuần lý, trí não
đóng vai trò chủ yếu, đưa ra giả thiết lý
luận rồi kiểm nghiệm, thực hiện. Dù là khởi
đầu bằng quan sát, hay khởi đầu bằng lý luận
thì yếu tính của chân lý khoa học vẫn là sự
tuyệt đối khách quan, chứng minh được, kiểm
nghiệm được, thực hiện được.
Trong khoa học, không có lòng tin mù quáng,
mà chỉ có giả thiết được kiểm chứng gián
tiếp hay trực tiếp. Những hiện tượng khoa
học mà người ta thấy được thì đa dạng phức
tạp, nhưng chân lý khoa học khi đã hiểu ra
thì thực là đơn giản, có thể tóm gọn lại
thành một công thức hay một câu.
Tôn giáo nói chung dựa trên lòng tin. Tin ở
trời, ở thượng đế, ở thần thánh... Tin vì
không chứng minh được, không giải thích được.
Ở những thời kỳ đầu tiên của lịch sử loài
người, khi có quá nhiều sự kiện chung quanh
mình không thể giải thích, không thể hiểu,
người ta sẵn sàng tin. Vì thế người ta tin ở
thần gió, thần mưa, thần sông, thần biển,
thần đất vân vân. Trên hết cả, là thượng đế,
là trời... tức là những đấng siêu phàm có
khả năng thưởng phạt, quyết định vận mạng
con người, vận mạng đất nước...
Với sự phát triển khoa học, con người hiểu
biết nhiều và do đó có thể giải thích nhiều
điều bằng khoa học. Không còn thần mưa, thần
gió, thần sấm nữa vì tất cả đều giải thích
được là những hiện tượng tự nhiên do những
yếu tố nóng lạnh, ẩm khô, điện từ di chuyển,
thay đổi. Không còn cung Quảng và Hằng Nga,
vì mặt trăng được biết là một hành tinh với
những mẫu đất đá mà con người không thể sống.
Vì
những phát triển khoa học đã thay đổi một
cách to lớn cuộc sống con người, tinh thần
duy lý của khoa học càng ngày càng phát
triển, lòng tin con người vào những yếu tố
thần linh và siêu nhân giảm đi. Ðiều này
thấy rõ tại các nước văn minh, nơi số tín đồ
cũng như các tu sĩ truyền đạo giảm sút. Số
người tham dự các hoạt động tôn giáo, như đi
nhà thờ, rước lễ vân vân, bớt nhiều.
Tìm hiểu suy nghĩ về những lời căn bản Phật
dạy, ta thấy đặc tính duy lý, và tinh thần
khách quan của khoa học. Hãy nghe lời đức
Phật giảng cho chư tăng ở vùng Vesali, trên
chặng cuối cuộc đời hành đạo của Ngài từ
Beluva tới Mehavali: "Này các đệ tử ! Pháp
mà ta nghiệm thấy đã nói cho các người rồi.
Các ngươi hãy suy tưởng, hành Pháp và truyền
giảng ra rộng rãi vì lòng thương thế giới,
cho điều lành và hạnh phúc của thần và người".
Trong lời dạy trên, Phât không đòi hỏi lòng
tin tuyệt đối nơi Pháp, Ngài chỉ kêu gọi các
tăng già "suy tưởng", "hành pháp" và "truyền
giảng". Suy tưởng để thấy là đúng, hành Pháp
để có thể kiểm nghiệm, và truyền giảng là vì
lẽ từ bi. Ðức Phật đã truyền đạo như một nhà
khoa học, đưa ra chân lý khoa học để cho
người suy nghĩ, kiểm chứng và phổ biến. Ðức
Phật cũng không đòi hỏi phải tin tưởng tuyệt
đối ở Ngài, mà được quyền nghi vấn.
Hãy nghe lời Phật dạy ông A-nan-đà và chư
tăng lúc Ngài gần viên tịch:
"Này A-nan-đà! Có thể có người trong các
người nghĩ rằng: Không còn lời thầy dạy nữa.
Chúng ta không còn thấy nữa. Nhưng, này A-nan-đà,
ngươi không được nghĩ thế. Pháp và Giới (Dhamma-vinaya)
mà ta đã đặt định ra và giảng giải cho các
ngươi, sẽ là thầy của các ngươi, sau khi ta
viên tịch. Có thể có những tăng, mà trong
đầu có nghi ngờ về Phật, về Pháp (Doctrine-Dhamma),
về Ðạo (Path-Magga), hay về phương cách tu
tập (Method-patipadà). Này các tăng chúng,
hãy tự nhiên mà hỏi đi. Ðừng để sau này tự
trách mình rằng: Lúc Thầy chúng ta còn mặt
đối mặt với chúng ta, chúng ta đã không hỏi
bậc Ðại giác cho tường tận".
Sách chép rằng đức Phật đã nhắc lại những
câu này ba lần cho các chư tăng.
Không những nhắc nhở tự mỗi người suy nghiệm,
không những khuyến khích mọi người đặt câu
hỏi với mình, đức Phật còn tách sự tôn kính
mình ra khỏi quá trình suy nghĩ mỗi người để
cho kết luận được khách quan. Sau khi giảng
pháp cho Kalamas, Ngài đã hỏi chư tăng rằng
"Sau khi các ngươi đã thấu hiểu và ghi giữ
điều ta giảng thì các ngươi có tự nhủ rằng:
Chúng ta tôn vinh Thầy chúng ta và vì kính
trọng người, chúng ta kính trọng những lời
người dạy' hay không?" Chư tăng đáp: "Bạch
Thế tôn, không". Ðức Phật liền nói "Này các
đệ tử ! Ðiều các ngươi vừa nói phải chăng là
vì chính các ngươi đã công nhận, nhìn ra và
thấu hiểu đó chăng?". Chúng tăng trả lời "Bạch
Thế tôn, chính phải".
Hiểu rõ tâm lý con người, Ngài tách bạch rất
rõ Phật và Pháp, để cho chân lý Ngài tìm ra
(tức là Pháp), và con người Ngài chỉ (tức là
Ðạo) thực sự phục vụ được chúng sinh, đức
Phật đã nói với ông A-nan-đà khi nằm chờ giờ
viên tịch trong rừng Sala giữa hai cây Sala
như sau: "Người mà làm tròn nghĩa vụ lớn
cũng như nghĩa vụ nhỏ, người mà ngay chính
trong cuộc đời tuân theo pháp giới, thì
chính là người vinh danh, tôn kính và thờ
phụng bậc Ðại Giác, Ðại Toàn bằng cách xứng
đáng nhất. Bởi thế, hỡi A-nan-đà, hãy kiên
định thi hành những nghĩa vụ lớn và nhữngg
nghĩa vụ nhỏ, hãy ngay chính trong đời, tuân
theo pháp giới. Này A-nan-đà, đấy là cách
ngươi phải tự tu tập".
Ðặt vấn đề, suy nghĩ và chiêm nghiệmn khách
quan, chính là đặc thù của khoa học. Ngày
nay, ta không lạ gì tinh thần khoa học này.
Nhưng thời đức Phật cách nay trên hai ngàn
năm trăm năm, khi con người còn bị bao vây
bởi vô số điều không hiểu biết và mê tín,
thì trí huệ này chính là trí huệ bậc đại
giác.
Trong một buổi giảng khác cho chư tăng về
cách thức tập luyện cho một người muốn tìm
phương giải thoát, đức Phật nói rằng một
người mà tâm lý trong lành, cuộc đời thanh
bạch trọn vẹn thì tức là tu tập viên mãn, và
có thể coi như một người đã tắm rửa sạch nội
tâm. Có người Bà la môn tên là Sundarika
Bhàradvàja bèn hỏi đức Phật:
"Ngài Gotama có đi tắm ở sông Bàhuka không?".
Phật trả lời: "Này người Bà la môn, sông
Bàhuka có gì tốt? Sông Bàhuka có thể làm gì
cho người?". Người Bà la môn đáp: "Bạch Ngài
Gotama, sông Bàhuka người ta tin là sông
thánh. Nhiều người có những hành động xấu xa
ghê tởm (pàpa) đã được nước sông Bàhuka rửa
sạch". Phật liền dạy rằng nước sông không
thể rửa sạch sự xấu xa của con người, và nói:
"Hởi người Bà la môn, tắm ở đây (trong Pháp
và Giới) sẽ cho mọi người yên lành. Nếu
người đừng nói dối, đừng sát sinh, đừng trộm
cắp, đừng xấu xa, thì đi đến sông Gayà làm
gì? Giếng sau nhà người cũng là sông Gayà đó!".
Nhìn thẳng vào vấn đề, tìm ra phương kế giải
quyết thích đáng, không dựa vào những tiền
đề chủ quan, những tin tưởng mù quáng dễ
dàng, là cách nhìn khoa học của đức Phật dạy
trong chuyện kể trên.
Ðức Phật xuất gia vì nhìn thấy cảnh sinh lão
bệnh tử bao trùm cuộc đời và muốn giải cứu
chúng sinh. Trong quá trình tu tập học đạo,
Ngài đã suy nghĩ, thể nghiệm và sau cùng
giác ngộ tìm ra chân lý giải quyết khổ nạn
cuộc đời. Tóm tắt lại là tứ diệu đế (khổ đế,
tập đế, diệt đế, đạo đế) và bát chánh đạo (chánh
kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp,
chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm,
chánh định). Trong tiến trình giải quyết khổ,
vai trò mỗi người là chủ yếu. Như Phật nhắc
nhở nhiều lần:
"Ngươi phải tự mình cố gắng,
Bậc Ðại toàn (Tathàgata) chỉ đường" (Dhammapada,
276)
và:
"Do mình việc xấu sinh
Vì mình mà bị bôi xấu
Chính mình việc xấu ngưng
Tự mình tiếng xấu giải
Trong sạch hay dơ bẩn tùy thuộc ở mình
Không ai tẩy sạch được cho người khác" (Dhammapada,
165)
Trong nỗ lực tự giải cứu này, kết quả cao
thấp tùy cá nhân. Ở mức toàn hảo là trở
thành bậc đại giác, như hoa sen nở giữa chốn
bùn lầy.
Suy nghĩ cho kỹ, lời Phật dạy mỗi người phải
tự cứu cũng là một chỉ dẫn khoa học, kết hợp
biết và làm, lý thuyết với hành động, giải
quyết việc người mà không phục vụ việc thần.
Vì thế, Phật không quan tâm giải thích những
vấn đề siêu hình, không dựa trên những yếu
tố thần linh để thuyết phục, xoa dịu hay
giải quyết những vấn đề con người. Phương
thức giải quyết khổ nạn Phật chỉ ra là triệt
để và đơn giản, trên nguyên lý nhân quả, như
trong quan hệ vận hành của những hiện tượng
khoa học.
Một cách rất tổng quát, ta đã nhìn ra tính
chất khoa học trong một số lời Phật dạy
nguyên thủy và qua một vài ý niệm cơ bản
trong Phật pháp. Sự nhận định này không vì
yêu cầu vinh danh hay đề cao đức Phật và
Phật giáo. Vì như lời Phật dạy ông A-nan-đà
đã dẫn ở trên, vinh danh, tôn kính và thờ
phụng đấng Thế ton cách cao quý nhất chính
là tuân theo pháp giới. Mặt khác, cũng vì
hiểu rằng Phật giáo là đạo cứu khổ, mà tiến
trình cứu khổ là dựa trên nỗ lực cá nhân,
chứ không vì ân phúc huyền bí, nên tự thấy
không cần đề cao Phật giáo. Ngoài ra, nói
đức Phật có tinh thần khoa học hay nói Phật
giáo có tính chất khoa học thì thật ra cũng
không phải là một cách đề cao.
Những phân tích trên đã được viết trong quan
ngại chung về viễn ảnh tôn giáo trong thời
đại văn minh vật chất ngày nay, khi những
khám phá khoa học làm lu mờ yếu tố huyền bí,
khi những phát triển kỹ thuật, thương mại
làm xã hội ngày càng phức tạp và con người
bị trói buộc chặt chẽ vào trong những khổ
nạn chằng chịt, tế vi khó định, khó thoát.
Trong hoàn cảnh này, vai trò giải cứu con
người, ổn định xã hội của tôn giáo cổ điển
dựa trên sức mạnh huyền bí giảm đi, như ta
đã thấy.
Nhận ra tinh thần khoa học trong những lời
Phật dạy và khai triển tinh thần này phải
chăng là điều cần quan tâm chú ý để Phật
pháp có thể được hoằng dương mà giải cứu cho
con người duy lý trong thời đại ngày nay? |
|