| |
Khi
trình độ nhận thức của mọi người về Phật
giáo phát triển đến đỉnh cao, tuyệt nhiên
không chấp nhận tất cả quan niệm thần linh,
đồng thời lên án những tín ngưỡng vu vơ, bài
trừ những tư tưởng không xác thật. Khoa học
đã mở ra con đường thích ứng với thời đại,
khẳng định giá trị thực tiễn của nhân sinh
quan. Nếu thế giới công nhận sự thành tựu
của khoa học, tức là họ đã đi vào quỹ đạo
của Phật giáo. Bởi vì Phật giáo không phải
là tôn giáo thuần tín ngưỡng, mà là tôn giáo
của lý trí. Cho nên nghiên cứu Phật giáo
trên lập trường khoa học, có thể soi sáng
cho nhân loại trên hành trình tìm cầu chân
lý. Đại sư Thái Hư từng nói : “ Khoa học
càng phát triển, tức là hiển bày ý nghĩa
chân thật của Phật giáo”.
Thật
vậy, Phật giáo không chấp nhận bất cứ một sự
vật nào tồn tại độc lập. Ngay cả thời gian
và không gian cũng không thể thường hằng bất
biến. Kinh Lăng Nghiêm nói : “ Ngay đầu sợi
lông, hiện bày mười phương, ngồi trong hạt
bụi, chuyển đại pháp luân”. Đây là khái niệm
về thời gian và không gian của Phật giáo.
Thời gian và không gian chẳng những thay đổi
theo nhịp độ của vật chất, mà còn chuyển đổi
theo từng tâm niệm của chúng ta. Trong kinh
Phật nói, ba a tăng kỳ kiếp không ngoài một
sát na, núi Tu Di nhét vào hạt cải. Trong
nhất thời của sự phân biệt nhỏ và lớn, là do
vọng tưởng của chúng sanh, nó vốn không có
thật thể.
Trước
kia, các nhà khoa học cho rằng thời gian và
không gian hoàn toàn độc lập, không liên hệ
đến những nhân tố khác, sau đó Einstein nhà
khoa học cận đại đưa ra khái niệm về thời
gian và không gian khác hẳn với quan niệm
trên, ông ta cho rằng nếu không gian có sự
tồn tại của vật chất, thì sẽ có thay đổi.
Như
một chiếc mền tơ trải trên mặt phẳng, bỏ lên
trên vài quả bóng da, trên bề mặt sẽ có chỗ
lồi lõm và nếp nhăn ; cũng thế, không gian
nào có thái dương hệ thì không gian đó cũng
có lồi lõm và nếp nhăn. Giả sử có một hành
tinh nào đó bay gần đến thái dương hệ, con
đường nó bay qua sẽ tạo nên những nếp nhăn
không gian. Ông còn nói, chiều dài và tốc độ
của nó cũng có sự quan hệ. Đây là nói không
gian không thể tồn tại độc lập, mà nó vẫn
thay đổi theo nhịp độ của vật chất. Về thời
gian ông cho rằng cũng là tương đối, nếu
chúng ta ngồi trên chiếc phi cơ nào đó, đạt
đến vận tốc nhanh hơn gấp mấy lần vận tốc
ánh sáng, thì sẽ đuổi kịp ánh sáng của quả
địa cầu trước kia, đồng thời chúng ta cũng
nhìn thấy được những việc xảy ra ở mấy ngàn
năm trước.
Phương
diện khác, Tôn Trung Sơn nói : “ Phật học là
mẹ của triết học, nghiên cứu Phật học có thể
bổ khuyết cho khoa học”. Học thuyết trước
kia cho rằng, địa cầu là trung tâm của vũ
trụ, đứng yên không chuyển động, mặt trời
xoay chung quanh địa cầu. Lúc đó theo trình
độ nhận thức chung, quan điểm này được công
nhận là chân lý hoàn chỉnh nhất. Sau này
Copernicus và Galile phản đối học thuyết
trên, suýt chút nữa là thiệt mạng. Cho đến
hôm nay, ngay cả một học sinh tiểu học cũng
biết rằng, địa cầu chẳng qua là một trong vô
số tinh cầu trong vũ trụ, nó không những tự
chuyển động, mà còn xoay chung quanh mặt
trời.
Phật
giáo miêu tả vũ trụ cách đây mấy ngàn năm,
lại phù hợp với khoa học hiện đại. Phật giáo
cho rằng một ngàn thái dương hệ bằng một
tiểu thiên thế giới, một ngàn tiểu thiên thế
giới bằng một trung thiên thế giới, một ngàn
trung thiên thế giới bằng một đại thiên thế
giới. Mỗi đại thiên thế giới bằng một quốc
độ Phật. Như thế một quốc độ Phật có một tỷ
thái dương hệ, tương đương với một dãy tinh
vân trong thiên văn học.
Đức
Phật nói: “Mười phương hư không vô cùng tận,
quốc độ trong vũ trụ cũng không có hạn lượng”.
Câu nói này đã cho chúng ta biết rằng: hư
không không có bờ mé và có vô số tinh cầu.
Về sau nền khoa học ở Âu châu phục hưng,
Galile dùng kính viễn vọng quan sát các tinh
cầu trong hư không, lúc đó chúng ta mới hiểu
hư không là vô cùng tận, địa cầu của chúng
ta chẳng qua là một hành tinh nhỏ bé trong
thái dương hệ mà thôi.
Mặt
khác, cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm,
đức Phật cũng đã từng nói với chúng ta, thân
này là một vi trùng, có tám mươi loại khác
nhau. Trong kinh “Trị Thiền Bệnh Bí Yếu”
và kinh “Chánh Pháp Niệm Xứ”, đức
Phật chẳng những nói ra từng loại tên của vi
trùng, mà còn miêu tả hình dáng và động tác
của nó. Đức Phật cũng nói trong ly nước có
tám mươi bốn ngàn vi trùng. Đến hôm nay
thông qua kính hiển vi, chúng ta có thể nhìn
thấy vô số vi trùng trong ly nước, và vô số
vi trùng trong thân thể của chúng ta. Như
thế khoa học ngày nay đã chứng minh lời nói
của đức Phật.
Trong
“Bát Nhã ba La Mật Đa Tâm Kinh” nói,
“sắc tức là không”. Trước kia ngành khoa học
không chấp nhận vấn đề này, bởi vì họ cho
rằng vật chất không liên hệ nhau và thường
trụ bất biến. Nhưng khi Einstein công bố
công thức năng lượng và vật chất giao biến,
nói rõ một hạt vật chất sau khi huỷ diệt có
thể biến thành năng lượng long trời lở đất.
Mãi đến khi những quả bom nguyên tử thành
công, đã chứng minh vật chất biến thành năng
lượng. Có thể giải thích một cách đơn giản
như sau : Nguyên tử (atom) cấu thành vật
chất. Trong nguyên tử có hạ tnhân nguyên tử
(atomic nucleus) và điện tử (electron),
trong hạt nhân nguyên tử và điện tử có chất
tử (proton) và trung tử (neutron), chất tử
và trung tử khi phá vỡ sẽ biến thành năng
lượng, năng lượng sau đó cũng tan biến thành
hư không. Về vấn đề này, chúng ta chỉ khiên
cưỡng đem khoa học chứng minh cho câu nói
“sắc tức là không”, nhưng không thể cho rằng
Phật giao tức là khoa học, bởi vì khoa học
vẫn còn có mặt bị hạn chế.
Phật
giáo chẳng những không phủ nhận sự tiến bộ
của khoa học, mà còn thừa nhận tính hợp lý
của nó. Nếu theo cái nhìn của khoa học để lý
giải diệu nghĩa của Phật giáo, cũng có thể
thấy rõ sự mê muội của nhân loại trước kia.
Nhưng chỉ thoả mãn về tri thức và dục vọng,
lại thiếu vắng đạo đức, như thế khoa học
không thể đem lại hạnh phúc cho con người mà
chỉ mang đến những điều tang tóc và nguy hại,
thậm chí còn tiêu diệt cả nhân loại. Cho nên,
bồi dưỡng đạo đức vẫn là việc không thể
khiếm khuyết trong cuộc sống.
Thích
Chiếu Sáng |
|