| |
Cho
tới nay chúng ta đã nói về những
điều căn bản có thể giúp ta
chuyển hóa tâm, về sự cần thiết
huân tập tâm thức. Ðiểm thiết
yếu nhất là ta cần phát triển Bồ
đề tâm, ý hướng vị tha muốn đạt
tới giác ngộ để độ chúng sanh.
Ðiểm này được phát khởi nhờ huân
tập hai ước nguyện giúp người và
đạt đạo.
Chúng ta được dạy nên áp dụng
việc thực tập này trong đời sống
hàng ngày, trong mọi hành xử và
áp dụng cho cả ba nghiệp thân,
khẩu và ý. Về khẩu ta nên đọc
các kinh văn như: "Tám bài kệ về
chuyển hóa tâm" ở đầu trang này
như những lời nhắc nhở thường
trực về sự quan trọng của quán
tưởng.
Ta hãy xét vị trí của việc tu
tập Bồ đề tâm trong toàn bộ Phật
giáo Tây Tạng. Ðạo Bụt Tây Tạng
có thể coi là hệ thống Phật giáo
đầy dủ nhất vì nó chứa đựng đủ
các tông phái, kể cả Kim Cang
thừa1.
Tứ Diệu Ðế, giáo pháp cốt tủy
của các tông phái không thuộc
Ðại thừa, cũng thực sự là nền
tảng của đạo Bụt. Cùng với sự
tập huấn của đạo đức, Tứ Diệu Ðế
được dùng như nền tảng của sự tu
tập, thực hành Bồ Ðề tâm.
Phát triển Bồ Ðề tâm là con
đường chánh và là căn bản của
Phật pháp. Khi bắt đầu phát khởi
Bồ Ðề tâm rồi, hành giả nổ lực
áp dụng nguyên lý vị tha trong
suốt cuộc đời họ. Từ đó đi tới
lý tưởng Bồ Tát, gồm sáu phép tu
đại hạnh hay Lục độ Ba la mật 2:
đại hạnh Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn
Nhục, Tinh Tấn, Thiền Ðịnh, Trí
Tuệ Ba la mật. Trong sáu phép tu
này, có lẽ hai loại cuối cùng
quan trọng nhất trong Kim cang
thừa vì nó gồm hai yếu tố đại
định và giác ngộ.
Ta
có thể nói Kim cang thừa giảng
dạy nhiều pháp môn tinh tế để
kiện toàn sự định tâm và phát
triển tuệ giác. Pháp môn cao
nhất trong Phật giáo Tây Tạng
được giảng giải trong cuốn "Du
Già Mật Tông cao cấp" (Highest
Yoga Tantra-Anuttarayoga tantra),
đề cập tới những tầng lớp vi tế
của các Thức.
Ðây là điểm tôi muốn nhấn mạnh:
hành xử từ bi chính là trái tim
của toàn thể đạo Phật. Các phép
tu khác đều hoặc đơn sơ quá,
hoặc chỉ là nền tảng hay ứng
dụng của pháp môn căn bản này.
Tôi cũng có thể nói rằng tất cả
các tông phái Phật giáo đều nhất
trí như vậy, kể cả các tông phái
Ðại thừa hay không Ðại thừa. Từ
bi là nguồn cội của Phật pháp,
nhưng chỉ trong lý tưởng Bồ Tát,
chúng ta mới nhấn mạnh vào
chuyện phát triển tâm từ bi bằng
cách nuôi dưỡng Bồ đề tâm.
TÁM
BÀI KỆ CHUYỂN HÓA TÂM
1.- Với quyết tâm thành tựu ước
vọng cao quý
Mang lợi lạc tới cho chúng sanh
Quý giá hơn bảo châu như ý
Tôi xin trân quý lý tưởng này
không ngừng nghỉ.
Bốn câu đầu nói về Tôi, cái ngã
mà chúng ta đã nói sơ ở chương
I. Nay chúng ta đi sâu hơn một
chút. Sự phân tích về bản chất
và sự hiện hữu của cái Tôi rất
quan trọng để hiểu Phật pháp.
Chúng ta có thể nói có hai phe
chính về vấn đề này trong Phật
pháp.
Một gồm những tông phái tuy chối
bỏ sự hiện hữu của một cái ngã,
một linh hồn bất tử, nhưng họ lý
luận rằng cái Tôi, cái ngã hay
con người phải được nhận diện
qua các uẩn 3 thân và tâm của cá
nhân đó. Chẳng hạn như có nhóm
quan niệm con người là tổng hợp
của ngũ uẩn. Một vài nhóm lại
cho rằng các tâm thức mới là con
người, là cái ngã thực sự.
Ðạo
sư Ấn độ Bhavaviveka chẳng hạn,
sau khi phân tách rốt ráo, đi
tới sự nhận diện một con người
bằng sáu tâm thức3a của họ. Tuy
nhiên, có trường phái khác như
tông Duy Thức không hài lòng với
lối nhận định này. Họ công nhân
một thức khác gọi là Thức căn
bản A lại da3a là tâm thức bất
biến, luôn luôn hiện diện và
liên tục. Thức này trung tín,
hoạt động như một cái kho chứa
đủ các khuynh hướng trong dòng
sông tâm tưởng của ta.
Nhóm Phật giáo trên muốn coi cái
ngã như một đối tượng tâm thân
phức tạp. Vì sao trong đó, phái
Duy Thức lại thấy cần thừa nhận
cái thức căn bản ngoài sáu thức
kia? Ðó là vì họ đã thấy trong
nhiều trường hợp - nhất là nơi
các thiền giả đã nhập định Tánh
Không một cách hoàn hảo, khi các
thức không còn bị vẩn đục chút
nào nữa - mà họ vẫn không thể
đạt tới đại ngộ, như vậy nghĩa
là những tâm hành ô nhiễm và các
dấu vết của chúng vẫn còn tiềm
ẩn trong một chỗ nào đó.
Vậy nên họ thấy cần phải thừa
nhận một cái thức riêng biệt, có
bản chất trung tín, gọi là tàng
thức A Lại Da.
Nhóm thứ hai có phái Trung Quán
(Qui Mậu Luận Chứng)4. Họ chối
bỏ sự cần thiết phải công nhận
một cái ngã có tự tánh hiện hữu
thường hằng. Họ lý luận rằng
chúng ta không thể công nhận ngã
hay pháp (things) như những thực
tại độc lập.
Ta phải hiểu cái ngã của con
người là một tập hợp phức tạp
của thân tâm, của những gì bắt
nguồn từ đó nhưng nó không hiện
hữu độc lập, không có tự tánh
thường hằng.
Từ quan điểm thứ hai sâu xa hơn
đó, ta có thể nói ngã là cái tên
chỉ những uẩn phức tạp của thân
và tâm.
Nhóm Trung Quán duy trì quan
điểm "Ta không thể nào tìm được
cái gì có thể gọi là ngã chân
thật, dù cho ta có tìm tòi trong
những hiện hữu hiển nhiên của
thân và thức". Họ trình bày về
ngã qua quan niệm phân tích bảy
điểm5 và cuối cùng nhận định
rằng "Tuy ta không thể tìm thấy
cái ngã khi phân tích thân thể
và tâm tư, nhưng ta không nên
kết luận cái ngã đó không hiện
hữu chút nào, mà nó có hiện hữu
trong một vai trò nào đó".
Một trong những hàm ý ta rút ra
từ triết thuyết trên là đừng quá
phân tích hay áp đặt một chân lý
siêu hình vào cái ngã. Thay vào
đó, chúng ta hãy chấp nhận thực
tướng của cái ngã như là một quy
ước chung, không cần nghiên cứu
về nó.
Vậy khi bạn bắt đầu chấp nhận
cái ngã thực tế trong quy ước và
ngôn ngữ thông dụng, bạn sẽ nhận
ra là không ai có thể gán cho
ngã cái thực thể thường hằng
được. Và xa hơn nữa, bạn sẽ thực
sự hiểu cái ngã không có tự tánh
độc lập hay hiện hữu vĩnh cửu.
Con người không hiện hữu tự họ
mà chỉ hiện diện trong bối cảnh
ngôn từ và trong sự hiểu biết
phổ thông sinh động của thế giới.
Phân tích này là phương tiện rất
thiện xảo để có tuệ giác về sự
trống rỗng trong Tánh Không của
con người.
Phái Trung Quán quan niệm con
người không phải là một hiện
thực nhưng là một thực thể trong
tên gọi, trong nhận thức. Quan
điểm này hơi khác với các trường
phái cho rằng tính chất của ngã
chỉ có tính cách trừu tượng,
ngoài cái tên và ý niệm về ngã.
Ta cần phải hiểu cho rõ ràng,
không bị rối trí trong chuyện
này dù trong các tông phái, có
khi họ dùng cùng một từ ngữ
nhưng ý nghĩa có thể khác nhau
tùy theo bối cảnh và thời gian
mà các triết gia bình giải.
Thực thế, chẳng hạn như chữ bản
chất thực tại Svabhava6, có khi
các triết gia Trung Quán cũng
dùng, nhưng họ vẫn không công
nhận có gì hiện hữu vĩnh cửu. Ta
phải có nhận xét tinh tế về cách
dùng các từ ngữ của họ.
Vậy, khi ta nói tới cái Tôi
trong tám bài kệ, chúng ta đừng
cho đó là một có ngã có thật,
một hiện hữu chắc chắn. Ta nên
luôn nhớ đó chỉ là một con người
theo quy ước mà thôi.
Trong đoạn kệ này, bạn mong được
tôn quý mọi người khác, đặt họ
lên trên bạn, vì nhờ họ bạn có
thể hoàn thành mục tiêu cao cả:
mang lợi ích tới cho chúng sanh.
Mục tiêu này còn đáng quý hơn
viên ngọc như ý7 vì dù ngọc đó
quý giá tới đâu, nó cũng không
thể mang được cho bạn sự đạt ngộ
về tâm linh.
Ðoạn này cũng nói tới lòng nhân
hậu của các chúng sanh mà chúng
ta đã đề cập ở phần trên. Ðối
với một hành giả tu theo Ðại
thừa thì chính nhờ chúng sanh,
bạn có thể phát triển lòng từ bi
vô lượng, đạt tới trình độ tâm
linh cao nhất, và cũng nhờ chúng
sanh bạn có cơ hội phát triển Bồ
đề tâm, khuynh hướng vị tha.
Do đó, bạn phải căn cứ vào những
liên hệ, vào phản ứng hổ tương
với người khác để đạt tới sự
thành tựu đạo nghiệp cao cả.
Trong quan điểm đó, lòng nhân
hậu, tử tế của chúng sanh thật
là vĩ đại.
Chúng ta có thể tìm thấy nguyên
tắc tương tự trong các phép hành
trì khác như "Ba phép huấn luyện
cao đẳng"8 về đạo đức, thiền
định và tuệ giác. Vai trò của
người khác rất quan trọng trong
ba loại huấn tập này, ngay từ
bước khởi đầu.
Hãy coi trong sự luyện tập cao
cấp về đạo đức mà căn bản là
giới luật. Trong đó có những
giới luật cấm làm hại người khác,
cấm làm mười điều bất thiện.
Ðiều thứ nhất là cấm sát sanh,
nó có liên quan trực tiếp tới
giá trị của người khác.
Hơn
nữa, trong Phật giáo, một số
những điều tốt đẹp mà chúng ta
thường mong ước được hưởng như
sống thọ, xinh đẹp, đầy đủ và
giàu sang... là kết quả của
những nghiệp dĩ tạo ra do liên
hệ giữa ta với người. Thí dụ như
sống thọ là do ta giữ giới không
sát sanh; xinh đẹp là ta đã có
kiên nhẫn với người khác; đầy đủ
sung túc là ta đã rộng rãi với
mọi người từ kiếp trước v.v...
Vậy thì, ngay cả các lợi lạc thế
tục, chúng cũng là kết quả của
sự tương quan giữa ta với tha
nhân.
Khi nói về ý tưởng tôn quý người
khác, điều quan trọng ta cần
hiểu đó không phải là lòng
thương hại đôi khi khởi lên
trong ta, đối với những người
không may mắn bằng mình. Khi
thương hại, ta có khuynh hướng
nhìn xuống đối tượng của lòng
thương và ta có cảm tưởng mình
hơn người. Trân quý mọi người
ngược lại với quan niệm đó.
Trong phép tu tập này, ta nhận
biết lòng nhân từ của người khác
và hiểu ta không thể thiếu họ
nếu muốn tinh tấn tu hành. Ta sẽ
hiểu và biết trân quý sự hiện
diện quan trọng đầy ý nghĩa của
họ, và tự nhiên ta sẽ thấy họ ở
một vị thế cao hơn mình. Vì nghĩ
như thế về tha nhân chúng ta có
thể coi họ như người thân đáng
được chúng ta kính quý. Do đó,
có những câu kệ sau đây:
2.-Khi nào tiếp xúc với mọi
người
Tôi xin được coi mình thấp kém
hơn tất cả
Và tự thâm tâm
Tôi xin kính quý hết mọi tha
nhân.
Bài kệ này đề nghị cho ta thái
độ tử tế mà tôi mới giảng xong.
Ý tưởng coi ta kém người khác
không nên dẫn tới chuyện tự coi
thường mình, bỏ quên mọi nhu cầu,
cảm xúc của mình, coi mình như
không còn chút hy vọng. Trái lại,
như tôi đã giảng, thái độ coi
mình thấp kém đó bắt nguồn từ
tấm lòng can đảm của bạn trong
liên hệ với người khác, và từ
khả năng có thể giúp ích tha
nhân trong bạn. Xin đừng hiểu
lầm về chuyện này. Ðiều tôi đề
nghị ở đây là sự cần thiết của
tánh khiêm cung chân thành.
Tôi xin kể một câu chuyện cho rõ
hơn. Có một vị đại sư thuộc phái
Dzochen từ vài ba đời trước đây
tên là Dza Paltrul Rinpoche.
Không những ngài là một vị thầy
lớn mà ngài còn có rất đông đệ
tử, thường giảng dạy cho hàng
ngàn học trò. Ngài cũng là một
thiền giả, nên đôi khi biến đi
ẩn tu ở một chỗ, khiến cho các
đệ tử phải đi tìm kiếm khắp nơi.
Trong một kỳ nghỉ ngơi, ngài đi
hành hương và ghé lại nhà một
Phật tử vài ngày, giống như các
vị tăng Tây Tạng thời đó. Trên
đường đi, các tăng sĩ thường xin
cư trú trong một gia đình, nhận
cơm nước cúng dường và để đổi
lại, giúp ích việc cho gia chủ.
Dza Paltrul Rinpoche cũng vậy,
ngài làm một số việc giúp cho
gia đình tiếp đải ngài, trong đó
có việc thường đi đổ bô cho bà
cụ mẹ gia chủ.
Tình cờ, có mấy học trò ngài đi
tới vùng đó, nghe tin ngài đang
ở quanh đâu đây, bèn đi tìm và
cuối cùng tới được nhà Rinpoche
đang trọ. Họ hỏi bà cụ:
- Bà có biết Dza Paltrul
Rinpoche đang ở đâu không?
Bà cụ trả lời:
- Tôi không thấy có Rinpoche nào
ở quanh đây cả?
Các tăng sĩ liền tả con người
Rinpoche cho bà cụ nghe rồi hỏi
tiếp:
- Chúng tôi nghe nói ngài ở trọ
đây trên đường hành hương mà?
- Trời ơi! người đó là đại sư
Dza Paltrul sao?
Lúc đó hình như ngài đang đi đổ
bô giúp cụ. Bà mẹ gia chủ hoảng
vía lên và liền chạy trốn.
Câu chuyện chứng tỏ rằng ngay
một vị đại sư như Dza Paltrul
Rinpoche, người có hàng ngàn môn
đồ, đã từng ngồi giảng trên ngai
cao, chung quanh bao nhiêu tăng
sĩ v.v... ngài cũng vẫn hết sức
khiêm cung. Ngài không ngần ngại
gì khi làm một việc tầm thường
như đổ bô cho bà lão.
Có nhiều phương cách đặc biệt
các hành giả có thể tập luyện để
thấy mình thấp kém hơn người.
Hãy cứ coi một thí dụ đơn giản.
Ai trong chúng ta cũng đã kinh
nghiệm khi chú ý tới một đối
tượng hay một người nào, tùy
theo góc độ của cái nhìn mà ta
thường có những nhận thức khác
nhau. Ðó chính là bản chất của
các suy nghĩ.
Tư tưởng của ta không có khả
năng nhìn thấu toàn diện các sự
vật. Bản chất của tư tưởng có
tính cách lọc lừa. Nó có thể
chọn ra những tính chất đặc biệt
của một đối tượng trong thời
điểm nào đó, chứ không thể có
cái nhìn quán triệt về toàn thể
đối tượng.
Bản chất của tư tưởng là chọn
lọc. Khi bạn hiểu được như vậy,
bạn sẽ thấy bạn thấp kém hơn mọi
người ở một vài điểm, ngay cả
khi so sánh với loài côn trùng.
Tỷ dụ bây giờ tôi so sánh mình
với loài sâu bọ. Tôi là một Phật
tử, một con người có khả năng
suy nghĩ và giả thiết là có thể
biết cái gì sai, cái gì đúng.
Ðáng lý tôi cũng phải có một số
hiểu biết về Phật pháp và trên
lý thuyết, tôi đã cam kết hành
trì tu học. Khi tôi nhận ra các
khuynh hướng bất thiện khởi lên
trong tâm hay khi tôi hành xử
theo các nghiệp lực của chúng,
thì lúc đó, quả thực tôi thấy
mình kém loài sâu bọ. Vì sao?
Loài sâu bọ không có khả năng
phán xét giữa cái sai và đúng
như loài người, chúng không nghĩ
đường dài được và không thể hiểu
đươc những lời Bụt dạy. Theo
quan điểm Phật giáo, các loài
côn trùng đó chỉ làm theo thói
quen của các nghiệp quả trong
chúng mà thôi.
So sánh với chúng, loài người có
khả năng quyết định việc mình
làm, vậy nên khi hành xử xấu ác,
thì có thể nói mình tệ hơn sâu
bọ! Suy nghĩ như thế, bạn sẽ
thấy căn bản thật sự của cái
nhìn "mình thấp kém hơn mọi
chúng sanh".
Ðây là bài kệ thứ ba:
3.- Tôi xin nguyện thẩm xét tâm
mình
Ngay khi các khổ đau hiện khởi
Ngay khi chúng có thể nguy hiểm
cho người
Xin cho tôi đối trị và ngăn cản
được chúng.
Bài này có nghĩa là các tư tưởng
và cảm xúc bất thiện thường bộc
phát mạnh mẽ trong ta, dù cho
chúng ta đã tu tập, đã mong ước
thoát được những cảm ý, nghiệp
lực khổ đau đó. Vì các tập khí
lâu đời, và vì thiếu kiên trì
trong việc trừ khử chúng, những
nghiệp bất thiện có thể lôi
chúng ta theo chúng, về hướng
phiền não.
Bài kệ dạy ta nên có ý thức về
sự kiện này, ta phải có chánh
niệm luôn luôn. Chúng ta nên tự
xét mình và ghi chú khi bắt gặp
mình khởi tâm bất thiện. Làm như
vậy, ta sẽ không chịu thua chúng,
tỉnh thức để giữ khoảng cách với
chúng Ta cũng sẽ không tạo thêm
sức mạnh cho chúng, không bị
bùng nổ lên vì quá xúc động,
không bị chúng thúc đẩy khiến
cho ta phải nói ra hay hành động
một cách tệ hại.
Nhưng bình thường không như thế.
Dù cho có ý thức là các cảm xúc
tiêu cực đều có hại, khi chúng
chưa dữ dội lắm, ta vẫn thường
nghĩ: "Ồ, chuyện này có lẽ không
sao đâu".
Vấn đề là khi ta càng quen với
phiền não của mình, bạn càng dễ
trở thành con mồi để cho chúng
hiện ra nữa, bạn thường dễ có
khuynh hướng buông thả theo
chúng. Vì vậy các tính bất thiện
kéo dài mãi mãi. Vậy, điều quan
trọng là bạn phải tỉnh thức, như
bài kệ đã dạy. Bạn cần tỉnh thức
để ngay khi các cảm nghĩ bất
thiện khởi lên, bạn có thể ngay
lập tức đối đầu và chuyển đổi
chúng.
Trước đây tôi đã nói chuyện ta
cần phải hiểu Phật pháp tương
quan với sự giải thoát khổ đau,
và trái tim của sự hành trì Phật
pháp là ta cần phải "làm việc"
với các khuynh hướng bất thiện
trong ta.
Ðối với các Phật tử đang hành
trì, điều quan trọng là bạn phải
luôn tự xét mình trong cuộc sống
hàng ngày, theo dõi những tư
tưởng, tình cảm, ngay cả trong
giấc mơ nếu có thể. Khi bạn áp
dụng chánh niệm9 trong việc thực
tập, dần dần bạn sẽ quen với sự
tỉnh thức, xử dụng nó được nhiều
hơn và hiệu quả của chánh niệm
cũng gia tăng hơn.
Ðây là bài kệ tiếp theo:
4.- Khi tôi thấy những con người
khó chịu
Bị khổ đau và phiền não thống
trị
Xin cho tôi coi họ như người
thân
Như bảo châu hiếm khi tôi được
gặp.
Bài này nới tới những con người
đứng bên lề xã hội vì những hành
xử, diện mạo bề ngoài, nỗi cơ
cực hay bệnh tật nào đó của họ.
Những ai muốn rèn luyện Bồ dề
tâm, phải chăm sóc những con
người đó một cách đặc biệt như
thể gặp kho tàng vậy. Thay vì
tránh xa, người thực sự tu luyện
lòng từ bi sẽ tự thách đố mình
để giữ liên hệ với họ. Phản ứng
của ta đối với loại người đó có
thể giúp ta tiến nhanh trên con
đường thực nghiệm tâm linh.
Trong bối cảnh này tôi muốn nêu
lên những tấm gương lớn của các
huynh đệ Thiên chúa giáo, đang
làm công việc trực tiếp chăm sóc
những kẻ ngoài lề xã hội. Tấm
gương của thời đại chúng ta là
Mẹ Teresa, cả đời săn sóc cho
người cùng khổ. Bà là người thể
hiện lý tưởng diển tả trong bài
kệ trên.
Ðó là điểm tôi thường nêu lên
khi gặp các hội viên của những
trung tâm Phật giáo khắp nơi
trên thế giới. Tôi thường nêu
lên vấn đề: một trung tâm Phật
giáo chỉ giảng dạy hay thiền tập
thôi không đủ.
Tất nhiên có những trung tâm
Phật giáo rất đáng nể, có những
tu viện mà các tăng sĩ Tây
phương có thể thổi được cả thứ
kèn cổ truyền Tây Tạng! Nhưng
tôi vẫn nhấn mạnh tới chuyện
phải mở rộng chương trình sinh
hoạt ra để các nguyên lý trong
Phật giáo của Bụt có thể đóng
góp cho xã hội.
Tôi vui mừng được biết đã có các
trung tâm Phât giáo bắt đầu áp
dụng đạo Bụt vào mục tiêu xã hội.
Chẳng hạn như ở Úc châu, tôi
nghe có một trung tâm Phật giáo
đang thành lập các nhà An dưỡng
(Hospice), giúp những người ở
cửa Tử và chăm sóc những bệnh
nhân bị Aids.
Tôi cũng nghe nói có trung tâm
dạy thiền trong nhà tù, họ tới
giảng và chỉ dạy cho tù nhân. Ðó
là những tấm gương tốt. Thật là
đại bất hạnh cho những con người
bị xã hội ruồng bỏ như vậy, nhất
là những người bị tù tội.
Không chỉ đau đớn cho họ, mà
nhìn rộng ra, thì còn là sự mất
mát cho xã hội nữa. Chúng ta
không cung cấp cho những con
người đó có cơ hội phục vụ xã
hội, dù họ có khả năng. Tôi nghĩ
cộng động xã hội chúng ta nói
chung không nên ruồng bỏ những
người như vậy, mà nên bao bọc và
chấp nhận khả năng đóng góp của
họ. Như thế họ sẽ cảm thấy họ có
chỗ đứng trong xã hội, và họ có
thể bắt đầu thấy mình có gì để
hiến tặng.
Bài kệ tiếp theo:
5.- Khi người ta vì ghen ghét
Ðã lạm dụng, vu cáo, miệt thị
tôi
Xin cho tôi nhận phần thua thiệt
Và tặng cho họ phần thắng lợi
vinh quang.
Ðiều này dạy ta cho dù kẻ khác
khiêu khích bạn vô lý hay không
có nguyên do, thay vì phản ứng
một cách tiêu cực, người tu tập
vị tha có thể tha thứ cho họ.
Bạn nên bình tâm, không bị rung
động vì cách đối xử của họ. Bài
kệ sau đây dạy ta không những
bao dung mà ta còn nên coi họ
như các vị thầy tâm linh của ta
nữa:
6.- Khi nào người tôi đã giúp đở
Hoặc tôi đã hy vọng nhiều
Cư xử tệ hại khiến tôi khổ tâm
Xin cho tôi vẫn thấy họ là bậc
thầy quí.
Trong cuốn "Hướng dẫn vào Bồ Tát
đạo" của ngài Tịch Thiện
Shantideva, có phần bình giải
rất quan trọng về phương cách
làm sao ta phát triển được các
thái độ nói trên, làm sao ta lại
nhìn những kẻ hại ta như các đối
tượng để học hỏi về tâm linh.
Và trong đoạn thứ ba của cuốn "Ðường
vào Trung Quán", ngài Nguyệt
Xứng Chandrakirti đã giảng nhiều
bài rất hiệu quả, đầy hứng khởi
cho việc thực tập nhẫn nhục bao
dung.
Bài kệ thứ bảy tóm tắt những
phép thực tập mà ta đã học:
7.- Tóm lại, tôi xin hiến tặng
lợi lạc và niềm vui
Cho tất cả các bà mẹ ruột thịt
hay mẹ gián tiếp của tôi
Xin cho tôi lặng yên nhận chịu
Tất cả những khổ đau của hiền
mẫu.
Bài kệ này trình bày phương pháp
cho và nhận Tonglen10. Do việc
hình dung hóa sự cho và nhận,
chúng ta luyện tập tánh bình
đẳng và phép hoán chuyển giữa ta
và người.
Sự hoán chuyển này không có
nghĩa là mình trở thành người
kia hay ngược lại, vì chuyện đó
không thể thực hiện. Ðây chỉ có
nghĩa là ta thay đổi thái độ cố
hữu mà ta thường có đối với mình
và người khác.
Ta thường coi cái gọi là "Tôi"
này như một thứ rất đáng quý,
rất cần được chăm sóc, đôi khi
lấn sang cả sự an vui của người
khác. Trái lại đối với người, ta
thường vô cảm, may lắm thì cũng
có chút quan tâm nhưng chỉ ở mức
cảm xúc mà thôi. Nói chung, ta
không để ý tới sự an vui của
người ngoài, không coi nó là
quan trọng.
Sự thực tập hoán chuyển có nghĩa
là ta thay thế thái độ quá bám
víu, vướng mắc vào cái Tôi, cố
gắng đổi nó, coi bình an của kẻ
khác là quan trọng và cần để tâm
tới.
Khi thực tập theo phương pháp
nhận những khổ đau thua thiệt về
mình, tôi cho rằng bạn phải coi
xét kỹ và hiểu cho thấu đáo.
Trong khi tu học theo con đường
tâm linh, học cách quan tâm tới
phúc lợi của tha nhân, bạn có
thể gặp một số khó khăn đôi khi
phiền não. Vậy nên bạn cần được
sửa soạn đầy đủ để chấp nhận
chuyện này. Bài kệ không dạy bạn
ghét mình hay đặt mình vào các
khó khăn, đau khổ, như để tự
hành mình. Không, xin nhớ không
phải như vậy.
Một tỷ dụ khác về chuyện không
nên hiểu lầm ý nghĩa của đoạn
văn tôi trích sau đây trong một
tác phẩm nổi tiếng của Tây Tạng:
"Xin cho tôi can đảm sống thêm
đời đời kiếp kiếp, ngay cả trong
hỏa ngục nếu như đó là chuyện
cần thiết". Câu này có ý nghĩa:
nếu con đường vị tha cần tới sự
can trường vô thời hạn như vậy,
thì bạn cũng cần có ý chí và
quyết tâm chấp nhận.
Cái hiểu thấu đáo những đoạn văn
như vậy rất quan trọng, vì nếu
không, bạn có thể vì chúng mà tự
ghét mình, nghĩ rằng cái Tôi thể
hiện những ý tưởng vị kỷ thì cần
phải bỏ nó luôn đi.
"Ðừng quên mục tiêu tối hậu của
con đường tâm linh là đi tìm
nguồn hạnh phúc cao nhất cho ta
và cho người". Người nào mưu cầu
hạnh phúc chân thực cho mình,
cũng là tìm hạnh phúc cho người
khác vậy.
Ngay trong quan điểm thực tế, ta
cũng thấy là ai muốn phát triển
lòng từ bi đối với người khác,
đều phải biết căn bản của sự
huân tập lòng từ bi là khả năng
liên kết được sự quan tâm về
mình với sự để ý tới người khác.
Nếu ta không thể làm như vậy thì
làm sao ta tới với người khác và
chăm lo cho họ? Quan tâm tới
người khác đòi hỏi ta phải biết
tự lo đã.
Sự thực tập phép cho và nhận
Tonglen bao gồm sự huân tập lòng
từ bi, tập phần "cho" tức là tập
từ bi. Ngài Tịch Thiên
Shantideva đề nghị một phương
pháp rất hay trơng cuốn "Hướng
dẫn vào Bồ Tát đạo": dùng phương
pháp hình dung quán tưởng để
hiểu những thiếu kém của sự vị
kỷ và làm sao đối trị đưiợc nó.
Một bên, bạn hình dung ra con
người bạn, chỉ biết để ý tới sự
tốt lành của mình, chỉ thể hiện
cái ngã và hoàn toàn dửng dưng
với phúc lợi của người khác. Ðó
là cái ngã chỉ biết có mình, đôi
khi đi tới chỗ khai thác người
khác một cách quá đáng, để đạt
mục tiêu vị kỷ.
Mặt khác, bạn hình dung ra một
nhóm người đang đau khổ, không
có gì hỗ trợ, không biết nương
tựa vào đâu. Bạn có thể chú ý
tới từng cá nhân nếu bạn muốn.
Tỷ dụ bạn hình dung tới một
người bạn thân đang bị phiền não.
Hình dung người đó như một đối
tượng để bạn thực tập phép cho
và nhận.
Sau nữa, bạn hình dung mình như
một cá nhân thứ ba, trung dung,
không liên hệ với hai bên, chỉ
đóng vai quan sát vô tư để xem
coi bên nào quan trọng hơn. Tách
con người mình ra, đứng ở vị trí
quan sát vô tư, bạn sẽ dễ nhìn
thấu được những giới hạn của các
hành xử vị kỷ. Và bạn sẽ thấy
chuyện để tâm tới phúc lợi của
đám đông là điều hợp lý, công
bằng hơn nhiều.
Kết quả của phép hình dung này
là bạn sẽ bắt đầu có thiện cảm
với tha nhân và thông cảm sâu xa
với những khổ đau của họ. Tới
đây, bạn có thể bắt đầu thiền
quan về phép 'Cho và Nhận" được
rồi.
Có một phép hình dung ích lợi
hơn để có thể quán về phưong
pháp Nhận, mang vào mình những
khổ đau của người khác: Trước
hết bạn chú tâm vào những người
đau khổ, ráng phát triển tâm từ
bi đối với họ, cho tới lúc bạn
thấy như không chịu nổi cái đau
khổ đó nữa.
Ðồng thời, bạn nhận ra là mình
không giúp gì được họ một cách
thực tế. Vì vậy, do lòng từ bi
thúc đẩy, và để cho có hiệu năng
hơn, bạn hình dung đem vào mình
những đau khổ đó, kể cả các căn
duyên gây khổ và những cảm nghỉ
bất thiện của chúng v.v... Bạn
có thể tưởng tượng tất cả những
khổ đau ấy như một nguồn khói
đen, tưởng tượng nó tan hòa vào
trong con người bạn.
Trong phép thực tập này, bạn
cũng có thể hình dung để chia
sớt cho người khác những phước
thiện của bạn. Bạn có thể nghĩ
tới một việc công đức nào bạn đã
làm, các tiềm năng thiện lành có
thể có trong bạn, các hiểu biết
về tuệ giác tâm linh mà bạn đã
đạt được.
Bạn hãy gởi những thứ đó cho
chúng sanh để họ cũng được hưởng
phúc lợi. Bạn có thể tưởng tượng
các thiện tính đó như một nguồn
suối hoàn toàn ánh sáng trắng
tuôn chảy và thấm nhuần vào
chúng sanh. Ðây là sự thực tập
bằng cách hình dung phép "Cho và
Nhận" Tonglen.
Dĩ nhiên sự luyện tập này không
có ảnh hưởng vật chất gì tới
người khác, vì nó chỉ là những
quán tưởng bằng hình ảnh. Nhưng
nó có thể giúp bạn gia tăng sự
quan tâm và cảm thông với người
khác, cũng như giảm thiểu năng
lượng của sự vị kỷ trong bạn. Ðó
là những phúc lợi của tu học.
Ðây là cách huấn luyện tâm linh
để nuôi dưỡng ước vọng vị tha
muốn giúp đở người khác. Khi ước
vọng này phát khởi cùng với
nguyện vọng được giác ngộ, thì
bạn đã thực hiện được Bồ đề tâm
- tức là ý hướng vị tha muốn
giác ngộ để độ trì cho tất cả
chúng sanh.
Chúng ta hãy đọc bài kệ chót:
Xin cho các ước nguyện kể trên
Không bị bát phong11 làm ô nhiễ
Xin cho hiểu thấu tánh hư huyễn
của các pháp
Ðể được tự do, không còn chút
dính mắc nào
Hai câu đầu trong bài này rất
quan trọng cho những người tu
tập nghiêm thâm. Bát phong hay "tám
ngọn gió, tám thói đời" thường
điều khiển chúng ta trong cuộc
sống. Ðó là sự tự hào khi được
ca ngợi; buồn nản khi bị chê bai
hay nhục mạ; hạnh phúc khi thành
công; phiền não khi thất bại;
vui sướng khi có thêm tài sản;
mất tinh thần khi bị nghèo khổ;
hài lòng với danh vọng và tủi hổ
khi ít người biết tới.
Một con người tu tập thực sự
chắc chắn sẽ không bị những tư
tưởng trên làm ô trược tới sự
phát triển Bồ đề tâm của mình.
Tỷ dụ như khi tôi giảng bài pháp
này, nếu tôi có một chút tư
tưởng nào trong tâm: hy vọng mọi
người sẽ kính phục tôi, thì điều
đó chứng tỏ là động cơ giảng dạy
của tôi đã bị thói đời làm ô
trược.
Việc kiểm soát chính mình để
không rơi vào tình trạng đó rất
ư quan trọng. Tương tự như vậy,
một hành giả vẫn thường áp dụng
lý tưởng vị tha trong đời sống
hàng ngày, bỗng nhiên anh ta suy
nghĩ: "Mình tu giỏi quá rồi",
thì lập tức "bát phong" của thế
tục làm cho việc hành trì của
anh bị ô nhiễm.
Chuyện này cũng giống như khi
anh ta khởi lên ý tưởng mong
được người đời ca tụng vì anh đã
cố gắng hành trì và tinh tấn.
Tám thói đời ấy làm hỏng công
trình tu tập của chúng ta, nên
ta phải làm sao để được thanh
tịnh, không bị chúng phá hoại.
Như các bạn đã biết, những bài
giảng trong Lo-jong về Chuyển
hóa tâm có hiệu quả rất mạnh. Nó
thật sự làm cho bạn phải suy
nghĩ. Ðây là một đoạn thí dụ:
"Xin cho tôi được vui vẻ khi có
người xúc phạm, xin cho tôi
không thích thú khi có người
khen ngợi - vì như vậy tôi đã
làm tăng lên trong tôi sự kiêu
hảnh, ngạo mạn và tự phụ. Tôi
vui vẻ với những bình phẩm vì ít
nhất tôi được mở mắt ra để biết
những khuyết điểm của mình".
Cho tới nay, chúng ta đã bàn về
tất cả những phương pháp tu tập
liên quan tới sự phát triển cái
gọi là Bồ đề tâm theo quy ước -
nghĩa là khuynh hướng vị tha
muốn đạt tới giác ngộ để độ cho
hết thảy chúng sanh.
Hai câu dưới của bài kệ chót
liên hệ tới việc phát triển Bồ
đề tâm tối thượng (Ultimate
Boddhichita), tức là sự phát
triển tuệ giác về bản chất chân
như của thực tại.
Việc phát triển trí tuệ là một
phần lý tuởng của Bồ tát, thể
hiện trong việc hành trì sáu
pháp Ba la mật như đã trình bày
ở trên. Tuy nhiên, thông thường
chúng ta đã biết, có hai khía
cạnh của con đường tu tập theo
đạo Phật: phương tiện và trí tuệ.
Cả hai đều có trong định nghĩa
của giác ngộ - là sự bất nhị của
hình tướng hoàn thiện và trí tuệ
viên mãn. Tu tập trí tuệ tiến
tới cùng với sự hoàn thiện của
tánh giác và thực hành các
phương tiện thiện xảo liên hệ
tới sự hoàn thiện của các hình
tướng.
Phật pháp thường được trình bày
trong khung cảnh của ba loại
Pháp12, gồm có giáo pháp (nền
tảng), hành pháp (con đường) và
chứng pháp (kết quả). Trước hết
ta khai triển sự hiểu biết về
chân lý thực tại trong hai quan
niệm tục đế và chân đế13, đó là
nền tảng.
Rồi tới hành pháp, ta dần dần
thực hành thiền quán cả hai khía
cạnh trí tuệ và phương tiện.
Chứng pháp, kết quả sau cùng của
hành giả là sự bất nhị giữa hình
tướng tuyệt đối và trí tuê viên
mãn.
Hai hàng chót của tám bài kệ
trên:
"Xin cho tôi hiểu thấu tánh hư
huyễn của các pháp,
Ðể được tự do, không còn chút
dính mắc nào".
Ở đây nhấn mạnh tới hành trì
phát triển trí tuệ về bản chất
của thực tại nhưng bề ngoài, hai
câu trên hình như giải thích
phương cách ta liên hệ với thế
giới sau khi thiền định.
Phật giáo dạy ta có hai ý nghĩa
khác nhau về bản chất thực tại:
một là trong thiền quán nhất
điểm về Tánh Không, hai là trong
những thời gian ngoài khóa thiền,
trong đời sống thực tế.
Hai dòng trên liên hệ trực tiếp
tới tương quan của hành giả với
thế giới sau khi đã quán tưởng
về Không - Mọi sự coi như huyễn
ảo, đó là nhận thức của thiền
giả về bản chất thực tại, sau
khi quán tưởng về một điểm "Tánh
Không hay trống rỗng".
Theo tôi, đây là những chi tiết
quan trọng vì đôi khi người ta
tưởng rằng, chỉ cần chú tâm
thiền quán về Không trong các
thời kỳ tĩnh tọa mà thôi. Họ
không để ý tới chuyện áp dụng
kinh nghiệm này sau các khóa
thiền. Dù sao, tôi vẫn cho là
những thời gian ngoài khóa thiền
tập rất quan trọng.
Ðiểm chính yếu trong thiền quán
về bản chất thực tại là để giúp
bạn không bị các hình tướng bề
ngoài làm cho điên đảo, và bạn
sẽ hiểu được bề ngoài của đối
tượng mà bạn thấy, nó khác với
bản chất thực sự của nó ra sao.
Ðạo Bụt cho là hình tướng bên
ngoài có thể làm cho ta lầm lẫn.
Sau khi hiểu sâu hơn về thực tại,
bạn có thể vượt qua các hình
tướng và bạn sẽ có những liên hệ
thích hợp, hữu hiệu và gần thực
tế hơn
Tôi thường đưa thí dụ về liên hệ
với hàng xóm của ta. Hãy tưởng
tượng ta sống ở một khu đô thị
không thể có liện hệ gì với hàng
xóm. Thực ra bạn nên tìm cách
liên hệ tới họ hơn là bỏ lơ họ.
Tương quan tốt xấu tùy theo bạn
hiểu người hàng xóm đó ra sao?
Nếu người đó rất phong phú, thì
khi kết thân với họ, bạn sẽ được
hưởng.
Nếu bạn biết trong thâm tâm họ
có tánh lừa dối, thì sự hiểu
biết về con người đó càng quý
giá vì bạn sẽ biết cách giữ liên
hệ thân tình, nhưng làm sao cho
họ không lợi dụng được bạn. Nói
khác đi, khi bạn có sự hiểu biết
về bản chất thực tại, thì sau
các thời thiền quán, khi sống
với thế tục, bạn sẽ biết cách
liên hệ với mọi người và mọi
việc một cách thích hợp và thực
tế hơn.
Bài kệ nói tới sự huyễn ảo của
mọi hiện tượng, tiếp theo nói
tới tánh chất huyễn chỉ được
nhận ra khi bạn đã tự do, không
còn dính mắc vào quan niệm : "các
hiện tượng có tự tánh độc lập"
nữa.
Một khi bạn đã thoát được ràng
buộc đó, nhận thức về bản chất
huyễn ảo của thực tại sẽ tự động
phát khởi. Dù cho chuyện gì tới
với bạn, dù nó có vẻ độc lập và
hiện hữu thực sự nhưng sau khi
thiền quán, bạn sẽ hiểu là nó
không thật như thế.
Bạn sẽ thấy mọi chuyện không có
bản chất và bền vững như bạn
tưởng. Chữ "Huyễn" ở đây chỉ về
sư khác biệt giữa nhận thức của
bạn về sự vật và thực tướng của
chúng.
PHÁT TRIỂN TÂM GIÁC NGỘ
Ðối với những ai quý trọng các
lý tưởng tâm linh trong tám bài
kệ Chuyển hoá tâm, quý vị nên
tụng đọc nó hàng ngày để phát
triển trí tuệ. Các Phật tử hành
trì đạo Phật nên đọc tụng và
quán chiếu về ý nghĩa bài kệ,
đồng thời cố gắng phát triển tâm
vị tha và từ bi. Những vị có tôn
giáo khác, nên tìm học trong
giáo pháp của mình và cũng nên
cố gắng hành trì, nuôi dưỡng
những ý tưởng vị tha trong lý
tưởng từ bi giúp người.
Với
ước nguyện giải thoát hết mọi
chúng sanh,
Con xin mãi mãi quy y Tam Bảo:
Phật, Pháp và Tăng,
Cho tới ngày con đạt được Chánh
giác.
Trước đức Phật từ bi trí tuệ
viên mãn,
Con xin phát khởi tâm chánh niệm,
Vì lợi ích của tất cả các chúng
sanh.
Khi còn thế giới,
Khi còn chúng sanh.
Con nguyền ở lại,
Giúp đời bớt khổ.
(Kệ của ngài Tịch Thiên
Shantideva).
Ðể kết luận, những vị nào như
tôi đây, tự cho mình là Phật tử,
thì nên ráng hết sức để tu tập
và hành trì. Nếu các bạn theo
một tôn giáo khác, tôi xin
khuyên "Hãy học tập tôn giáo của
bạn một cách nghiêm chỉnh và hết
lòng". Ðối với những ai không có
tín ngưỡng, tôi xin các bạn hãy
ráng sống cho tử tế, nhân đức.
Tôi xin bạn điều đó vì nó thực
sự sẽ đem hạnh phúc lại cho
chúng ta. Như tôi đã nói: lo cho
người thì mình sẽ được hưởng.
GHI CHÚ:
1.- Kim cang thừa: Vajrayana
trong Phật giáoTây Tạng Kim cang
thừa hay Mật Thừa được coi là
giai đoạn chót của Ðại Thừa,
nhằm khai mở rốt ráo lòng từ bi
và chuyển đổi tâm thức thành trí
tuệ viên mãn. Chỉ có các vị Tổ
và Bồ tát mới đi được con đường
này.
Trong Kim cang thừa, các thiền
giả chuyên chú vào việc phát
triển Bồ đề tâm. Quí vị đó hành
thiền, tụng niệm và trì chú rất
nghiêm mật, rốt ráo để đạt đước
đại ngộ. Nhờ nhiều phép tu thiện
xảo và biết phối hợp âm thanh (Chú)
với cử chỉ (Ấn quyết) và tâm ý
(Tam ma địa) mà thân, khẩu, ý
các vị thanh tịnh, dứt trừ hết
các vọng niệm và phát triển trí
tuệ Bát nhã.
Kim cang thừa thường bị hiểu lầm
là chiếc thang máy, là con đường
tắt đưa người ta tới Niết bàn...
Theo sách Mật tông thì sau khi
trải qua nhiều kiếp tu hành, nay
được một minh sư hướng dẫn và
dốc lòng tu tập, người ta mới
theo Kim cang thừa mà đạt tới
quả vị Phật. Lúc đó, các thức đã
biến thành các Trí:
- A lại Da (Alaya) thành ra Ðại
Viên cảnh trí - Giác ngô viên
mãn.
- Mạt Na (Manas) thành Bình đẳng
tánh trí (Phi nhất phi dị) -
Không còn vấn đề ngã hay vô ngã.
- Ý thức (Vijnana) thành ra Diệu
quan sát trí: có sự hiểu biết
thường trực về Y tha khởi, đạt
tới cái thấy của Viên thành thật...(Xin
xem tiếp các sách ở mục tham
khảo).
2.- Lục độ Ba la mật: sáu phép
qua bờ (Lục đáo bỉ ngạn pháp -
six perfections), sáu phép tu để
từ cõi u mê (vô minh) qua được
bờ giác ngộ. Ðây là sáu phép tu
của người có hạnh nguyện Bồ tát,
nhờ đó quý vị có thể tự độ và
giúp được bao người. Sáu phép tu
gồm có:
- Bố thí Ba la mật: Dana
paramita.
- Trì giới Ba la mật: Sila
paramita.
- Nhẫn nhục Ba la mật: Kshanti
paramita.
- Tinh tấn Ba la mật: Virya
paramita.
- Thiền định Ba la mật: Dhyana
paramita.
- Trí tuệ hay Bát nhã Ba la mật:
Prajna paramita.
Bốn phép tu đầu thuộc về các đức
tính, khi ta khai triển được bốn
phép tu này thì sẽ thực hành
được Thiền định và hướng đến trí
tuệ toàn vẹn, thể nhập được tự
tánh, chân như.
3.- Uẩn (ngũ uẩn hay ngũ ấm:
five aggregate - skandhas): năm
yếu tố kết hợp tạo nên con người,
gồm có:
- Sắc: thân thể.
- Thọ: các cảm giác, cảm thọ.
- Tưởng: tri giác, nhận biết.
- Hành hoặc tâm hành: gồm tất cả
những hoạt động tâm lý của con
người. Có tất cả 51 tâm hành
trong đó có thọ và tưởng, là hai
tâm hành quan trọng nhất được
tách riêng.
- Thức: cái biết.
3a.- Sáu thức, A lại da thức: là
những dòng cảm giác hay bản thể
hiểu biết phân biệt sự vật. Khi
các giác quan (Căn) tiếp xúc với
các đối tượng của chúng (Trần
hay cảnh) thì thức (cái biết)
phát sanh. Theo tông Duy Thức
(Mind Only School - một trong
hai trường phái lớn của Phật
giáo Ðại thừa), có 8 thức hay 8
tâm thức cũng gọi là tâm vương:
-
Nhãn thức (Eye consciousness):
cái biết sanh ra khi mắt (nhãn
căn) tiếp xúc với hình sắc của
cảnh vật (sắc trần).
- Nhĩ thức (Ear consciousness):
cái biết sanh ra khi tai (nhĩ
căn) tiếp xúc với âm thanh (thanh
trần).
- Tỷ thức (Nose consciousness):
cái biết do mũi (tỷ căn) tiếp
xúc với mùi (hương trần).
- Thiệt thức (Tongue
consciousness): cái biết do lưỡi
(thiệt căn) tiếp xúc với các đồ
ăn uống (vị trần).
- Thân thức (Body
consciousness): cái biết do thân
thể (thân căn) tiếp xúc với mọi
vật (xúc trần).
- Ý thức (Mind consciousness):
cái biết do ý căn (Mạt na) tiếp
xúc với pháp trần.
-Mạt na thức (Manas - thức thứ
7): bản năng chấp ngã, trực giác
chấp ngã hay bản năng tự tồn, có
mặt ngay từ khi ta mới ra đời.
Mạt na là trung tâm của các nhận
thức sai lầm - phân biệt đối đải
(ta và người, trước sau, trên
dưới, sanh diệt v.v...) và Mạt
na cũng là nền tảng cho mọi hành
động của sáu thức trên.
- A lại da (Alaya hay tàng thức
- thức thứ 8): đây là thức nền
tảng của mọi nhận thức và mọi
hiện tượng tâm sinh, vật lý...
Tâm lý học Tây phương nói tới "tiềm
thức, vô thức, nhịp sống..." mới
chỉ là các khái niệm gần giống
với A lại da, vì Tàng thức sâu
kín, rộng lớn và sinh động hơn
nhiều. Nó là bản chất hiện hữu
của sinh mạng và của môi trường
trong đó sinh mạng tồn tại...(Xem
các sách trong mục tham khảo).
4- Trung quán (Madhyamaka): một
trong hai triết thuyết lớn của
Phật giáo Ðại thừa, do ngài Long
Thọ khai triển, dựa vào nguyên
lý Prasanga (là một thuật ngữ có
nghĩa là Quy mậu luận chứng -
biện luận tới cùng), nên có khi
Trung Quán được gọi là
Prasangika Madhyamaka. (Triết
học Trung Quán của Jaidev Singh,
Thích Viên Lý dịch, Viện Triết
lý QT xuất bản).
5.- Phân tích bảy điểm: phương
pháp phân tích cái ngã theo bảy
điểm phủ định, từng bước một. Ðó
là:
- Ta không nhận diện được cái
ngã qua những phần tử tạo nên nó.
- Ngã không khác với các phần tử
đó.
- Ngã không phải là bản chất của
chúng.
- Ngã cũng không luôn luôn tùy
thuộc các phần tử tạo ra nó.
-
Các thành phần đó không thuộc
quyền sở hữu của ngã.
- Ngã không mang hình dáng của
các phần tử tạo ra nó.
- Và ngã cũng không phải là một
hỗn hợp của chúng. (Ghi chú bản
tiếng Anh).
6.- Svabhava: tự tánh, bản chất
của thực tại. Ðó là một thực tại
tuyệt đối. Phái Trung Quán không
chấp nhận tự tánh của một vật là
do cái gì khác đem lại, hay có
liên hệ, tùy thuộc vào một vật
khác. Từ định nghĩa đó, phái
Trung Quán dùng chữ Svabhava đi
đôi với chữ Không.
Svabhava-Sunya có nghĩa là tự
tánh không: trên thế giới không
có vật thể nào tự mình tồn tại
được, không thứ gì có tự ngã độc
lập vì tự tánh tuyệt đối của nó
là trống rỗng, là không. (Trích
sách Triết học Trung Quán của
Jaidev Singh, Thích Viên Lý dịch).
7- Ngọc như ý: viên đá quý (ngọc)
có phép thần thông, giúp bạn
thực hiện mọi lời ước nguyện.
8.- Ba phép huấn luyện cao đẳng
(three higher trainings) về đạo
đức, thiền định và trí tuệ -
tương đương với sự hành trì giới
luật, thiền quán và sự khai mở
trí tuệ bằng cách học hỏi kinh
luận, thực chứng để đi tới giác
ngộ. Ðó là con đường của các
Phật tử chân chánh.
9.- Chánh niệm; tỉnh thức, tỉnh
giác hay tự biết, nghĩa là có ý
thức về những gì đang xảy ra
trong ta và chung quanh ta.
Chánh niệm thường được dịch sang
Anh ngữ là Mindfulness,
Awareness. (Trong cuốn Trái tim
của Bụt, Hòa thượng Nhất Hạnh
giảng dạy về Chánh niệm rất cặn
kẻ, cụ thể và đầy đủ trong nhiều
chương).
10.- Tonglen: phép đem những an
vui hạnh phúc của bạn cho người
khác và nhận vào mình những
phiền não, khổ đau của họ. Ðó là
một phép tu "Từ bi quán" cao
thượng, do thiền sư Geshe
Chekhawa của Tây Tạng (thế kỷ
11) khai triển và truyền lại cho
các đệ tử sau khi chứng nghiệm
hiệu quả lớn lao của nó. (Sách
Tạng Thư Sống Chết của Sogyal
Rinpoche, Sư cô Trí Hải dịch,
Thanh Văn xuất bản).
11.- Bát phong hay bát pháp: tám
thứ gió hay tám thói đời, ngăn
cản không cho hành giả đạt tới
giác ngộ Tiếng Hán Việt diễn tả
bát phong là: Lợi, Suy (yếu),
Hủy (chê), Dự (khen), Xưng (ca
tụng), Cơ (chế diễu), Khổ, Lạc.
(Xem sách Pháp số căn bản của
Hạnh Cơ - Làng Cây Phong xuất
bản).
12- Ba loại pháp (Tam pháp):
thâu tóm tất cả Phật pháp, gồm
có:
- Giáo pháp: tất cả những nền
tảng (gồm 12 phần) Phật đã giảng
dạy suốt cuộc đời hành đạo của
ngài.
- Hành pháp: các phép tu như Lục
độ, Thập nhị nhân duyên...
- Chứng pháp: những kết quả do
tu hành mà chứng được quả Bồ đề,
quả Niết bàn...
(Theo Tự diển Phật Học Hán Việt,
nhà xất bản Khoa học xã hội).
13.- Tục đế, chân đế:
- Tục đế (Samvrti-satya): chân
lý tương đối, sự thật trong cuộc
đời thế tục, do phân biệt, khái
niệm mà có.
- Chân đế (Paramartha-satya):
chân lý hay sự thật tuyệt đối,
sự thật vượt khỏi khái niệm của
thế giới pháp tánh, nhìn từ bản
tánh không phân biệt.
Tục đế (hay thế đế, thế tục đế)
và chân đế (hay thắng nghĩa đế,
đệ nhất nghĩa đế) là hai khía
cạnh của chân lý. Trong các bài
giảng tùy vào các nhân duyên (thời
gian, khung cảnh, thính chúng
nghe pháp) mà Bụt đề cập tới tục
đế hay chân đế. Khi học kinh
điển, chúng ta phải có khả năng
phân biệt hai sự thật đó thì mới
không bị lộn xộn. (Theo Trái tim
Mặt trời, HT Nhất Hạnh).
SÁCH THAM KHẢO
1.- Thích Nhất Hạnh:
- Vấn đề nhận thức trong Duy
Thức học - Lá Bối 1978.
- Trái tim mặt trời - Lá Bối
1982.
- Trái tim của Bụt - Lá Bối
1997.
- Thiết lập Tịnh Ðộ - Lá Bối
2000.
2- Jaidev Singh, Thích Viên Lý:
Ðại cương Triết học Trung Quán,
Viện Triết lý VN và thế giới,
1998.
3.- Hạnh Cơ: Pháp số căn bản,
Làng Cây Phong, 1996.
4.- Sogyal Rinpoche, Thích nữ
Trí Hải: Tạng thư sống chết,
Thanh Văn, 1996.
5.- Geshe Tsultim Gyeltsen:
Mirror of the Wisdom, Thubten
Shardye Ling Publication.
6- Các sách Anh ngữ của Ðạt Lai
Lạt Ma như:
- Fundamental Wisdom of the
Midle Way, Oxford University
Press, 1995.
- The Power of Compassion,
Thorsons, London, 1995.
- Four Noble Truths, Thorsons,
1998.
- Heart of the Buddha's path,
Thorsons, 1999.
* * * *
Trích dẫn: CHUYỂN HÓA TÂM (Phát
khởi lòng Từ Bi) của ÐẠT LAI LẠT
MA thứ 14. Nguyên tác:
TRANSFORMING THE MIND (Teachings
on Generating Compassion), Anh
ngữ: Geshe Thupten Jinpa. Việt
ngữ: CHÂN HUYỀN dịch, nhà xuất
bản: Làng Cây Phong, 2001.
Sưu tầm và đánh máy: Thanh Sơn. |
|