|
Trong
khi nền triết học cổ điển Tây
Phương với chịu ảnh hưởng lớn về
thần linh, thượng đế thì ở Đông
Phương đúng hơn là Ấn độ, đã có
một nền văn minh vô cùng rực rỡ
mà cho đến nay các nhà khảo cổ
học, và các nhà khoa học chưa
khám phá được hết mức độ sâu
rộng cũng như những kiến giải về
vũ trụ và thế giới chính xác đến
độ bất ngờ đặc biệt là trong các
kinh điển Phật Giáo, một loại
tôn giáo “vô thần”.
Thật vậy, ra đời vào khoảng thế
kỉ thứ 6 trước công Nguyên trong
bối cảnh xã hội phân hoá cực kỳ
phức tạp của xứ Ân mà đạo Bà La
Môn ngự trị. Thích Ca Mâu Ni
(Shakyamuni) cùng với các đồ đệ
chỉ trong vòng vài trăm năm (*)
đã khai hoá một hệ thống tư duy
(trí huệ) hoàn toàn mới và họ đã
để lại một kho kinh sách khổng
lồ mà qua đó người ta có thể tìm
rút ra được vô vàn những hiểu
biết giải thích về thế giới và
vũ trụ vẫn có giá trị cho đến
tận thiên niên kỷ này.
Khi nói đến tôn giáo sẽ khó
tránh cho chúng ta liên tưởng
tới nhiều hình ảnh có tính cách
thần linh hay siêu thực xa vời
hay thậm chí mê tín, thụ động.
Tuy nhiên, không ai có thể biết
được chính xác những lời dạy ban
đầu của Thích Ca có dính dáng gì
đến những hình thức tôn giáo
trong đó kể cả các hoạt động
tích cực hay tiêu cực hiên nay
của Phật giáo. Bởi vì ở thời mà
đức Phật giảng dạy thì không
được ghi nhận nguyên văn. Chỉ có
Những kinh sách được chép và
dịch lại sau này nên chắc khó
tránh khỏi sự điều chỉnh hay sưã
chưã của những thế hệ sau đó.
Chưa kể rằng, ngay chính trong
thời gian thuyết pháp, Thích Ca
đã tuỳ theo hiểu biết, lòng tin,
và kinh nghiêm của từng đối
tương để truyền thụ giáo hoá chứ
không cứng ngắt giáo điều. (Đây
có lẽ cũng là nguyên do của việc
phân hoá phong phú nhưng thống
nhất trong tư tưởng của Phật
giáo ngày nay)
Tạm thời bỏ qua các tranh cãi về
tôn giáo, khi khảo cứu tham vấn
các kinh điển Phật học, người ta
có thể rút ra được nhiều quan
điểm hay giải thích của Phật
giáo về thế giới và con người
cũng như nhiều phương pháp phân
tích khoa học đã được dùng đến.
Mặc dù các kinh điển tập trung
nhiều trong việc giảng d ạy các
phương cách thoát khổ, ta vẫn
tìm thấy khá đầy đủ những luận
cứ và quan điểm của Phật giáo về
thể tính vật lý của thế giới và
vũ trụ. Ỏ đây ta chỉ dừng lại
trên những ý niệm có liên quan
nhưng không đi xa hơn để tránh
lạc khỏi đề tài vật lý sử.
Giải thích của Phật giáo về
nguồn gốc hình thành, và quy
luật phát triển chung của vũ
trụ:
Một trong những câu hỏi hóc buá
và lâu đời nhất của vật lý và
triết học là vũ trụ do đâu mà
có? Nó vận động và phát triển ra
sao? Hầu hết các quan điểm có
được từ khi có câu hỏi trên cho
tới khi Phật giáo ra đời đều
mang nặng tính thần quyền và
ngay cả đến thiên niên kỉ thứ
hai này chúng ta vẫn còn thấy
nhan nhản các lý thuyết dưạ vào
niềm tin lên đấng sáng thế,
người có toàn quyền tạo ra vũ
trụ. Vậy mà Phật giáo một tôn
giáo tối cổ lại chạy ra khỏi các
giáo điều cứng ngắt và thiết lập
nên một hệ thống nhân sinh quan
hoàn toàn vô thần. Theo các kinh
điển của Phật giáo, vạn vật bất
kể sinh giới hay vật chất phải
tuân theo những qui luật tác
động một cách không thiên vị lên
chúng.
Điều quan trọng nhất cần đề cập
là nguyên lý Nhân-Quả. Nguyên lý
này cho rằng mọi hành vi, vận
động đều gây ra các hậu quả tất
yếu của nó. Các hậu quả này
trước hay sau sẽ đến lúc quay
ngược lại tác động vào chính chủ
thể của hành vi vận động ban
đầu. Đây là nguyên lý bao trùm
các hoạt động của vũ trụ.
So sánh ra, thì nguyên lí này là
một sự mở rông của nguyên lí
tương tác lực và phản lực mà
Newton đã phát biểu. Cái khác ở
đây, theo Phật giáo qui luật
Nhân -Quả không chỉ đúng cho thế
gíơi vật chất mà nó còn đúng
luôn cho cả thế giới giới tâm lý
con người.
Phật giáo cho rằng mỗi hiện
tượng mà ta có thể nhận biết hay
suy diễn ra (hay ngay cả các
hiện tượng mà ta chưa đủ khả
năng để quan sát qua các giác
quan hoặc qua suy diễn), đã là
kết quả của sự phối hợp từ các
nhân tố vận động (nhân) kết hợp
với điều kiện sẵn có của môi
trường (duyên).
Điều này thì chúng ta đã có thể
thấy rất rõ trong thế giới sống:
một hạt giống không thể nảy mầm
và phát triển mạnh mẽ nếu không
có các điều kiện thích hợp của
môi trường. Mặc dù, hạt giống có
thể tự thân nó mang những tính
trạng rất khoẻ.
Tiếp xa hơn, luật Nhân-quả không
chỉ đứng yên hay tác động trên
một sự kiện cô lập mà nó có tính
phổ dụng trong toàn vũ trụ.
Nghiã là bất kể vật thể có kích
cỡ nhỏ hay to có đời sống dài
hay ngắn đều phải tuân theo sư
chi phối của luật nhân quả.
Và chuổi nhân quả luôn luôn xãy
ra tác động nhau. Mỗi hậu quả
của các vận động, tác động một
lần nưã cùng với sự biến chuyển
mới của môi trường sẽ là tiền đề
tạo điều kiện cho các vận động
và tương tác mới … và tập họp
những vận động và tương tác họp
thành một vòng luân chuyển không
ngừng nghĩ gọi là “trùng trùng
duyên khởi”
Như vậy, theo cái nhìn của Phật
giáo, vũ trụ là sự vận động và
tương tác lẫn nhau của các hiện
tượng tiếp nối không có bước đầu
và cũng không có kết thúc. Các
hiện tượng này liên tục, sinh
diệt và chuyển biến theo luật
nhân quả. (Pháp Duyên Khởi)
Quan điểm duyên sinh trong Phật
giáo cho ra một hệ quả là không
có vật thể nào có thể tồn tại
độc lập mà chúng nương tưạ vào
nhau tồn tại hài hoà nhau. “Vật
này có, cho nên vật khác có, cái
này không thì cái kia cũng
không; vật này sinh, cho nên vật
khác sinh, mà cái này diệt thì
cái kia cũng diệt”. (trích - Đại
thưà Phật giáo tư tuởng luận –
chương 1 của Kimura Taiken Thích
Diễn Bồi dịch).
Ở đây ta có thể so sánh với việc
cho rằng cả vũ trụ này tồn tại
bởi sự tương tác lẫn nhau của
vật chất (bằng các lực vật lý
chẳng hạn) và không thể nào có
một vật thể riêng biệt hoàn toàn
không tương tác với các vật thể
còn lại.
Các ảnh hưởng tương tác lẫn nhau
của các sự kiện trong đời sống
có khi sâu rộng hơn như chúng ta
tưởng. Theo Stephen Hawking, đã
trình bày trong chương 4 của
quyển “vũ trụ trong một vỏ hạt”
xuất bản năm 2001 rằng: “Một con
bướm vỗ cánh ở Tokyo có thể gây
ra mưa ở công viên trung tâm ở
New-york” đã phần nào chứng thực
cho cái ý tưởng duyên khởi của
nhà Phật.
Quan Điểm của Phật Giáo về Sự
chuyển hoá của thế giới vật lý:
1. Vai Trò Đấng Sáng Thế và sự
thành hoại của vật chất
Kế đến, phải kể tới nguyên lý Vô
Thường: Phát biểu ngắn gọn của
nguyên lý này là Không có vật gì
thường tồn vĩnh cửu hay có thể ở
mãi trong trạng thái nhất định.
Một hệ quả đơn giản là mọi vật
có lúc sinh ra thì sẽ có lúc nó
bị tiêu diệt.
Do đó, trong Phật giáo không tồn
một đấng vĩnh hằng. Nếu có chăng
thì đấng vĩnh hằng đó chính là
tính không của vạn vật
Mặc dù có sự tạm phân chia sinh
giới ra làm 6 loại trong đó có
trời, (và tiếp theo là người,
a-tu-la, súc sinh, ngạ quỉ, và
điạ ngục) Nhưng ở đây vai trò
của trời (các đấng phạm thiên)
không phải là tối hậu mà tất cả
đều phải tuân theo luật nhân
quả.
Một phần cũng do việc phủ nhận
sự tồn tại một đấng sáng tạo của
vũ trụ này mà nhiều nhà nghiên
cứu đã cho rằng: “Phật giáo là
một khoa hoc”. Ngày nay, nguyên
lý vô thường đã được chứng minh
rộng rãi trong các lí thuyết vật
lý hiện đại đặc. Từ một hạt cơ
bản cho đến … vũ trụ bao la cũng
đều có thời hạn tồn tại của nó!
Ngoài ra, vật chất luôn luôn
chuyển hoá không ngừng.
Mỗi sự kiện hay sự vật đều có 4
thời kì chính đó là hình thành
(thành), tồn tại và lớn lên
(trụ), hao mòn và huỷ hoại
(hoại), và chân như (không) và
không gì có thể thoát khỏi qui
luật này.
2. Vũ trụ vô cùng :
Một trong các lý thuyết được
nhiều khoa học gia tin tưởng
nhất về sự hình thành của vũ trụ
đó là thuyết vụ nổ lớn (big
bang). Ủng hộ giả thuyết này, có
cả nhà vật lý thiên tài Stephen
Hawking, người được xem là đã có
những bước tiên phong trong nỗ
lực thống nhất vật lý lượng tử
và thuyết tương đối . Thuyết này
cho rằng vũ trụ bắt đầu từ một
lỗ đen có kích thước cực nhỏ và
có mật độ vật chất ở đó là vô
hạn.
Trong Liên Hoa Kinh, đã có phần
đề cập đến chuyện này, theo đó,
các đại sư của Thiên Thai Tông
thường dạy rằng "toàn bộ vũ trụ
nằm gọn trong đầu một hạt cải".
Như vậy, rõ ràng triết lý Phật
giáo có thể đã thấy được từ lâu
hiện tượng vũ trụ không có kích
thước này.
Tuy nhiên, cũng theo theo quan
điểm Phật giáo thì vũ trụ có số
lượng thế giới lớn vô cùng tận.
Số lượng thế giới giống như thế
giới chúng ta đang sống thì
“nhiều như cát ở sông Hằng”:
1000 thế giới nhỏ = 1 tiểu thiên
thế giới
1000 tiểu thiên thế giới = 1
trung thiên thế giới
1000 trung thiên thế giới= Tam
thiên đại thiên thế giới.
Vũ trụ không chỉ có một Tam
Thiên đại thiên thế giới mà có
đến vô số.
Và theo chu kì “thành, trụ,
hoại, không” thì sự khi thế giới
này hình thành cũng sẽ có sự tận
diệt của thế giới khác, cứ như
thế luân chuyển không bao giờ
dứt.
Triết học tánh không và Cấu trúc
của vật chất:
1. “Vạn Vật Đều Có Tánh Không !“
Về luận lý, thì trong Phật học
không có sự tồn tại của trạng
thái nhị nguyên. Nghiã là không
có sự phân biệt giưã hai trạng
thái 1 và 0, có và không, …
Nguyên do của sự phân biệt này
là do chính tự tâm lí con người
phân biệt mà ra (bằng các qui
ước và định nghiã). Thế giới tự
nó không có sự tách rời phân
biệt. Thay vào đó, trạng thái có
và không chỉ là sự biểu hiện một
thực thể. Sự tồn tại của một
hiên tượng (pháp) bất kì phải
gắn liền với môi trường đã tạo
ra nó và tự nó không thể tồn tại
độc lập (vạn vật đều không có tự
tính).
Có thể đây là khái niệm khó khăn
và được bàn thảo, tranh cải
nhiều nhất cho người làm khoa
học. Chúng ta tạm gọi đây là
quan niêm nhất nguyên (hay tánh
không). Trong đoạn kế ta sẽ đề
cập thêm
2. Cấu thành của vật chất và
định luật bảo toàn năng lượng
Có Một câu hỏi khác cũng không
kém phần quan trọng và lâu đời
trong thế giới vật lý. Đó là câu
hỏi về sự cấu tạo của vật chất.
Gần như mãi cho đến cuối thế kỷ
20 người ta mới có được một câu
trả lờì tương đối rõ ràng dựa
trên phương trình E = mc² do
Einstein phát triển. Cái ý nghiã
triết học nằm trong phương trình
này là một sự khẳng định rằng
vật chất đều chỉ là một dạng
tích tụ của năng lượng.
Trong Phật học, vật chất thì
được phân lớp một cách sơ khởi
thành bốn loại (tứ đại) bao gồm:
Đất dùng để chỉ tất cả những vật
chất ở thể rắn, nước cho vật
chất thể lỏng, gió cho thể khí,
và dạng vật chất cuối cùng, lửa,
chỉ năng lượng chuyển hoá thuần
tuý. Các dạng vất này không tồn
tại vĩnh cửu mà có thể bị chuyển
hoá bởi luật vô thường. Theo
quan niệm nhất nguyên thì các
thể này chỉ là một (tính không)
và tính không này có tính phổ
dụng cho vạn vật. (Nói nôm na
theo các thiền học Phật giáo:
‘vạn vật đều có Phật tính!’ Tức
là mọi vật đều có bên trong nó
thể tính của chân lý)
Để dễ cho các bạn hình dung, thì
ta có thể so sánh cách luận giải
đó với luận giải của vật lý hiện
đại rằng “vạn vật cho dù ở bất
kì dạng gì đều có thể mô tả ở
một dạng duy nhất đó là năng
lượng!”
Đáng chú ý hơn nưã, khi mô tả
trạng thái của vũ trụ thì trong
bộ kinh ngắn (toàn bộ có khoảng
hơn 160 chữ): “Bát Nhã Ba La Mật
Đa Tâm Kinh” chỉ ra rõ ràng hơn:
“…Thị chư pháp không tướng, bất
sinh, bất diệt, bất cấu, bất
tịnh, bất tăng, bất giảm” ( tạm
dịch: vạn vật đều là tướng
không, không sinh ra, không mất
đi, không dơ, không sạch, không
tăng, không giảm). Như vậy, bạn
nghĩ sao về sự xác tín của điều
này nếu ta liên tưởng tới định
luật bảo toàn năng lượng của vật
chất trong vũ trụ mà các nhà vật
lý đang cổ suý?
4. Bản chất thật của Vạn Vật:
Từ mấy ngàn năm trước, Phật giáo
đã đưa khái niệm liên quan đến
việc phủ nhận sự tồn tại của các
dạng nhận thức từ con người về
vật chất (tính “không”). Theo ý
chỉ này thì tất cả các dạng
thông tin mà ta nhận thức về vật
chất đều không chính xác. Chẳng
hạn, hãy xét hai khái niệm quan
trọng nhất là “sắc” và “tướng”.
Sắc là thuộc tính màu của vật
chất mà chúng ta cảm nhận. Còn
“tướng “ là thuộc tính về hình
dáng của vật chất. Như vậy tại
sao lại phủ nhận hai thuộc tính
này?
Cho đến nay thì người ta đã biết
khá rõ rằng màu sắc chỉ là sự
thụ cảm của mắt đối với một số
bước sóng ánh sáng khác nhau và
nó gần như là thuộc tính của tâm
lý (hai sinh vật khác nhau có
thể cảm nhận về màu khác nhau
tuỳ theo kinh nghiệm và bẩm sinh
của sinh vật đó)
Cấu trúc không gian của vật chất
cũng tương tự, cấu thành bởi vô
vàn những hạt cơ bản tùy theo
khả năng nhận thức của con người
hay cá nhân mà việc thấy biết về
vật chất đó các khác nhau.
Nếu như đem cọng tóc phẳng trơn
lên kính hiển vi điện tử thì ta
sẽ có cảm nhận về hình dáng
(tướng) của cọng tóc sẽ hoàn
toàn khác (và có lẽ xấu xí và
khá đúng hơn) với cảm nhận ban
đầu.
Do đó, không thể vinh vào hai
thuộc tính “sắc” và “tướng” mà
cho rằng đó là thể tính chân lý
của vật chất mà ta cảm thấy
được. Tương tự như vậy cho âm
thanh, cảm giác, nhận thức ,
…(Duy Thức Luận và Bát Nhã Tâm
Kinh).
Cũng xin nói thêm ở đây việc phủ
nhận mọi thứ trong Phật giáo
nhằm mụch đích giáo hoá rằng mọi
cái nhìn, thụ cảm, suy diễn,
quan điểm, hiểu biết, hay hành
động của con người đều do tự tâm
của chính con người đã dựa vào
kinh nghiêm, bản năng, và các
điều kiện tác động của môi
trường mà có (vạn pháp duy tâm
tạo) Nhưng những điều này lại
không phải là thể tính chân lý
của thế giới. Do đó, nếu hoàn
toàn dưạ vào hay tin vào những
thấy biết của cảm quan sẽ bị sai
lầm (vô ngã – vô chấp).
Phương Pháp Luận -- Khách quan
tuyệt đối:
Trong các nghiên cứu khoa học
thì việc tách rời những thiên
kiến, hay định kiến ra khỏi các
đánh giá hay thực nghiệm khoa
học đóng vai trò vô cùng quan
trọng. Một lý thuyết càng khách
quan bao nhiêu thì càng đem lại
kết quả dự đóan chính xác bấy
nhiêu. Tuy nhiên, khó mà một nhà
nghiên cứu có thể hoàn toàn tách
rời được các tư tưởng chủ quan
của mình vào trong khoa học.
Thí dụ việc cho rằng vật nặng
hơn sẽ rơi nhanh hơn nếu so sánh
tốc độ rơi của hai vật trong
cùng 1 thời điểm và cùng độ cao
đã phổ biến từ rất xa xưa. Mãi
cho đến khi … Galileo kiểm chứng
lại rằng nó sai.
Trong vật lý cổ điển, việc chấp
nhận thời gian phẳng lặng và độc
lập với không gian đã được
Newton mặc nhiên dùng trong các
chứng minh của mình và cho đến
nay thì hiểu biết này là … không
hoàn toàn chính xác.
Ngay từ khi mới hình thành, các
giáo huấn của Phật đã ý thức rõ
ràng về những sai lạc mà con
người đã mặc nhiên gán cho thế
giới xung quanh và định kiến cho
rằng đó là đặc tính thực của
thiên nhiên.
Trong phần trên chúng ta đã thấy
sự phủ nhận của các giáo huấn về
sắc tướng và các cảm quan của cá
nhân con người. Bên cạnh, Phật
giáo còn chỉ rõ hơn nưã về sự
sai sót này nhằm mụch đích dẫn
dắt tư tưởng con người đến việc
nhìn nhận sự vật khách quan hơn
(trí huệ) thông qua việc cho
rằng “mọi thứ cảm nghĩ hay suy
diễn đều là sản phẩm tâm lý của
con người” (Tam giới duy tâm vạn
pháp duy thức - Duy thức luận).
Từ đó, để hiểu và đạt được chân
lí một cách đúng đắn thì việc
quan trọng nhất là tránh tối đa
việc dựa vào hay trụ vào bất kì
một ý kiến, tri kiến, hay nhận
thức nào từ các cơ quan thụ cảm
mà cho đó là tuyệt đối (bất ưng
trụ sắc sinh tâm, bất ưng trụ
thinh, hương, vi, xúc, pháp sinh
tâm, ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ
tâm. –Kim Cang kinh)
Như vậy, thế giới quan Phật giáo
tiềm chưá một cái nhìn rất tương
đối về các lý thuyết (pháp).
Ngoài ra, việc khuyên bảo giáo
đồ trong con đường đi tìm chân
lý cũng đã ghi rõ là không được
dựa vào sắc, âm hay các cảm xúc.
(nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm
thinh cầu ngã, thị nhân hành tà
đạo, bất năng kiến Như Lai – –
Xin hiểu thêm Như Lai ở đây là
biểu hiện của chân lý tối thượng
của vạn vật chứ không phải là cá
nhân xác thịt của Phật Thích Ca:
“Như Lai giả, tắc chư Pháp như
nghiã” -- Kim Cang Kinh).
Phật giáo còn cho rằng: Chân lý
không từ đâu đến cũng không đi
về đâu; chân lý hiện hữu không
có sự áp đặt từ bên ngoài (“Như
Lai giả, vô sở tùng lai diệc vô
sở khứ, cố danh Như lai" - Kinh
kim Cang)
Thêm vào đó để tránh cho các tín
đồ về sau trở nên cuồng tín hay
mù quáng, Thích Ca còn dạy thêm:
Không nên tin vào một phát biểu
nếuchỉ vì đó là lời nói từ một
đạo sư tiếng tăm, cũng không nên
nên tin vào điều đó chỉ vì nếu
đó là điều mà mọi người đều tin
làmtheo. Mọi phán quyết đều nên
được kiểm chứng bởi chính trí
tuệ của mình.
Như vậy phương pháp mà Phật giáo
dùng trong các luận lí là hoàn
toàn khách quan
Tiện đây, cũng xin nhắc thêm một
phán đoán của Phật: “Trong một
bát nước có chưá hàng vạn sinh
linh” Đây đã là một phán đoán về
sự tồn tại của thế giới vi sinh
(vi trùng, vi khuẩn,…) mà bằng
mắt trần người thời đó khó có
thể kiểm nghiệm lại được. Sự
tiên đoán này thì hiển nhiên
được khẳng định từ khi người ta
phát minh ra kính hiển vi.
Thay lời kết:
Điểm nổi bật nhất làm cho Phật
giáo đặc sắc so với các tôn giáo
khác là việc có nhiều kết luận
hay giáo huấn tương đồng với
khoa học và phương pháp luận
hiên đại. Việc phủ nhận đấng
sáng thế và việc cho rằng mọi sự
việc nếu xảy ra đều phải tuân
theo các qui luật công bằng của
thiên nhiên (nhân quả) đã đưa vị
trí của Phật giáo lên ngang hàng
với một nền khoa học chân chính.
Điều đáng gây ngạc nhiên để cho
chúng ta và các nhà khoa học tự
đặt câu hỏi và tìm cách trả lời
là: Phật giáo đã ra đời từ hơn
2500 năm trước, khi mà con người
chỉ có những công cụ sản xuất
thô sơ. Không có dụng cụ thí
nghiệm mà Phật giáo làm thế nào
để hoàn bị được một hệ thống
hiểu biết cho đến nay vẫn còn
giữ nguyên giá trị thực dụng của
nó?
Để thay cho lời kết luận của
phần này xin trích lại hai câu
nói của nhà vật lý học Albert
Einstein:
“Nếu có một tôn giáo nào mà có
thể thoả mãn được các đòi hỏi
của khoa học thì nó chính là
Phật giáo.”
Bởi Vì
“Phật giáo có những đặc tính
mong muốn cho một tôn giáo phổ
dụng của tương lai: Nó vượt quá
khả năng thượng đế, tránh khỏi
các giáo điều và các thần linh;
nó bao hàm cả bản năng và tinh
thần, và nó dựa trên nhận thức
tôn giáo đòi hỏi mãnh liệt từ
kinh nghiệm của vạn vật, từ bản
năng và tinh thần, như là một sự
thống nhất đầy ý nghiã”
“If there is any religion that
would cope with modern
scientific needs it would be
Buddhism.”
"Buddhism has the
characteristics of what would be
expected in the cosmic religion
for the future: It trancends a
personal God, avoids dogma and
theology; it covers both the
natural and the spiritual, and
it is based on a religious sense
aspiring from the experience of
all things, natural and
spiritual, as a meaningful
unity." —Albert Einstein
--------------------------------------------------------------------------------
Ghi chú :
(*) Sau khi Phật Thích Ca qua
đời, thì Tăng đoàn Phật giáo
thời bấy giờ đã trải qua 3 kì
kiết Tập nhằm cũng cố và điều
chỉnh các giới luật cũng như
hoàn thiện kinh điển. Hầu hết
các kinh điển Phật giáo còn sót
lại là có từ 3 tạng kinh của kì
kiết tập thứ 3 này do ngài
Mahinda mang từ Ấn Độ sang đão
Sri-Lanka; kinh viết bằng tiếng
Phạn (Pali) các kinh điển này
còn lưu giữ nguyên vẹn
-----------------------------------
Tài liệu Tham Khảo:
Kinh Kim Cang
Bát Nhã Ba-La-Mật Đa Tâm Kinh
Duy Thức Luận
http://www.thuvienhoasen.org/index-kinhdien.htm
http://www.buddhanet.net/e-learning/history/s_scripts.htm
http://www.silk-road.com/artl/buddhism.shtml
www.photogrammetry.ethz.ch/research/bamiyan/pub/isprsV_corfu02.pdf
Trung Luận “Phật Học Phổ Thông
bài thứ 9: Vũ Trụ quan Phật
Giáo” của Thích Thiện Hoa.
http://www.thuvienhoasen.org/phathocphothong-05-09.htm
"Lịch Sử Tư Tưởng và Triết Học
Tánh Không" của Thích Tâm Thiện.
http://www.thuvienhoasen.org/tt-tanhkhong-02.htm
“Nhân sinh quan của Phật giáo”
của Chu Sở
http://www.thuvienhoasen.org/nhansinhcuaphatgiao.htm
"Đại thưà Phật giáo tư tuởng
luận" của Kimura Taiken Thích
Diễn Bồi dịch |