| |
Thiền là gì?
(Hòa Thượng
Thích Kiến Tánh)
|
|
|
| |
Một
câu hỏi khó giải đáp, vì Thiền phủ nhận
tất cả, vì bản chất của Thiền vượt ngoài
định nghĩa và giải thích, không có ngôn
ngữ và văn tự, lời dạy đặc biệt ngoài kinh
điển, hay "biệt truyền ngoài giáo điển",
chỉ thẳng vào tâm, thấy tánh thành Phật
"trực chỉ minh tâm, kiến tánh thành Phật".
Thiền là một nghệ thuật sống, là sự sáng
tạo của bản thể uyên nguyên vô cùng vi
diệu là hành trình chư Phật, chư Tổ đã
kinh qua và thấy rõ gốc rễ của vô minh,
luân hồi nhiều kiếp của mình và chúng
sanh. Ngọn đuốc Tuệ giác nơi các ngài bừng
cháy đã thiêu rụi bóng ma của sinh tử.
Nhưng ở đây ta tạm mượn lời để diễn ý
Thiền được gọi là Thiền Na, Phạn ngữ gọi
là DHYANA - Trung Hoa gọi là CH'AN, Nhật
gọi là ZEN dịch nghĩa là Tỉnh Lự. Tỉnh
thức không mê lầm, không mê lầm là sự
trong sáng thanh tịnh, không mê lầm nhân,
không mê lầm quả.
Lục Tổ bảo: "Ngoài chẳng nhiễm cái duyên,
trong chẳng loạn tưởng. Đó là Thiền".
Trong sự phát triển các phái Thiền ta thấy
có:
a) THIỀN NGUYÊN THỦY (Nhị thừa Thiền)
Đức Thế Tôn dựa trên 6 căn 6 trần 6 thức
mà dạy phá chấp ngã tướng, qua hệ giáo lý
nguyên thủy gồm các Kinh: 4 Thánh đế, 8
Thánh đạo, 12 Nhân duyên, 3 Pháp ấn, A Hàm
... Tùy căn bệnh của đệ tử mà lấy pháp đối
trị. Chẳng hạn như người nặng tham dục
quán Tứ niệm Xứ. Nhiều sân hận quán Từ bi,
nặng ngu si quán Nhân duyên. Nhiều loạn
tưởng quán hơi thở, gọi là tu Quán. Ngoài
tu Quán còn có tu Chỉ, ngưng bặt vọng
tưởng, giữ tâm thanh tịnh, buông dứt ý
niệm, hoặc hành Minh sát Tuệ. Đây là lối
tu đầu tiên căn bản Đức Phật dạy cho mỗi
đệ tử tìm chỗ thanh vắng trong hang động,
bên bờ suối, chỗ vứt thây chết trong rừng,
dưới gốc cây, hoặc chỗ nào thích hợp để nỗ
lực hành trì tu tập.
Hành giả tu như vậy đạt từ Sơ thiền (lìa
dục sanh hỷ lạc), Nhị thiền (định sanh hỷ
lạc), Tam thiền (lìa hoan hỷ được vui vi
diệu), Tứ thiền (buông hết tạp niệm được
thanh tịnh).
Tứ thiền thuộc về Sắc giới, cũng gọi là
Thiền phàm phu chứng từ Tu-đà-hoàn,
Tư-đà-hàm, A-na-hàm; tu thêm một buớc đạt
đến bốn Không: Không Vô biên xứ, Thức Vô
biên xứ, Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi
tưởng xứ thuộc về Vô sắc giới. Cộng chung
là tám thứ định, tu thêm Diệt tận định.
Đạt đến định nầy chứng quả A La Hán.
b) THIỀN ĐẠI THỪA
Pháp Thiền nầy phát triển từ phá chấp ngã
tướng đi vào tánh. Ảnh hưởng hệ giáo lý
Bát Nhã, Kim Cương, Lăng Già. Tuy có những
mục như Thiền Nguyên Thủy. Chẳng hạn bậc
Bồ Tát tu 5 pháp: Quán tam muội, Quán nhân
duyên tam muội, Quán Phật tam muội, Quán
bất tịnh tam muội, Quán lục diệu pháp môn.
Riêng lục diệu pháp môn có:
1- Sổ tức môn, pháp đếm hơi thở từ 1 đến
10 từ 10 đến 1, ngăn trừ loạn tưởng, không
niệm sanh khởi, tiến vào định.
2- Tùy môn, pháp không cần đếm, chỉ theo
hơi thở
ra vào không niệm tưởng gì khác.
3- Chỉ môn, pháp ngưng tâm ý và hơi thở.
4- Quán môn, pháp quán tưởng thân thể từ
đầu đến chân trong ngoài nhơ nhớp, chia
chẻ thấu rõ. Từng phần vô thường giả hợp.
5- Hoàn môn, pháp xoay về quán tự tâm, sắc
ấm che đậy đều diệt.
6- Tịnh môn, pháp làm cho trong sạch thân
tâm, uế
dục đều lặng.
Với pháp Quán, hành giả quán từ giả tướng
thấy thật tướng, tức vào thể tánh chân
như. Thiền theo tông Thiên Thai của ngài
Trí Giả Đại Sư ứng dụng pháp Trung Quán
Luận của ngài Long Thọ tu tam quán. Quán
không, Quán giả, Quán trung. Cho rằng cái
pháp do duyên sanh, không cố định, tức
quán không. Thể tánh các pháp là không
nhưng duyên hợp tạm có, không thật, cũng
gọi là Quán Giả, Không Giả đều buông bỏ
chỉ còn nhất tâm chơn như cũng gọi là Quán
Trung Đạo đệ nhất nghĩa. Như thế Thiền Đại
Thừa gần với Thiền Tông, nhưng còn khác
biệt ở chỗ có pháp để tu, có quả để chứng.
Còn bên Thiền Tông thì không có pháp dạy
người, không có quả để chứng đắc.
c) NHƯ LAI THIỀN
Thời kỳ nhận thức của chúng đệ tử khá cao,
cho nên Đức Phật giảng kinh Pháp Hoa, Lăng
Nghiêm, Niết Bàn, dạy lối tu Liễu nghĩa
thượng thừa, chỉ thẳng Tri kiến Phật, Như
Lai tạng tâm. Tất cả chúng sanh đều bình
đẳng pháp tánh, phải nhận được cái thấy
biết tánh Phật của mình, tâm nầy là Kho
Như Lai. Bồ Tát tu như thế đạt kết quả gồm
52 bậc tu chứng từ Thập Tín, Thập Trụ,
Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa đến
Đẳng Giác và Diệu Giác là Phật, Như Lai.
d) TỔ SƯ THIỀN
Là pháp môn truyền thừa Tâm Ấn bắt đầu từ
pháp hội núi Linh Thứu, Đức Thích Ca cầm
cành sen đưa lên, đại chúng đều ngơ ngác,
không ai hiểu yếu chỉ của ngài. Duy có
trưởng lão Ma Ha Ca Diếp chúm chím cười.
Do đó, Đức Phật nói: "Ta có chánh pháp
nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, thật tướng
vô tướng, nay truyền cho Ma Ha Ca Diếp".
Từ đó dòng thiền Ấn Độ lần
lượt truyền đến Bồ Đề Đạt Ma cả thảy 28
đời. Khi Bồ Đề Đạt Ma nhận giáo chỉ của Sư
phụ Bát Nhã Đa La lên đường sang Đông Độ,
thẳng đến Trung Quốc vào năm 520 T.L, gặp
Lương Vũ Đế không xứng hợp khế cơ, ngài
qua Giang Bắc vào đất Ngụy 9 năm đối vách
tại động đá chùa Thiếu Lâm bằng lời khai
thị:
"Chẳng lập văn tự,
truyền riêng ngoài giáo,
chỉ thẳng vào tâm,
thấy tánh thành Phật".
Qua câu chuyện An Tâm giữa sơ tổ Bồ Đề Đạt
Ma và nhị tổ Huệ Khả ta thấy thiền phong
khẳng định tâm tức Phật, lấy Tâm Ấn Tâm,
không ràng buộc giáo điều như Đức Phật đã
dạy phổ thông cho bảy chúng đệ tử.
Đến đời Lục Tổ Huệ Năng mặc dù ngài lấy
Định Huệ làm căn bản, và lấy 36 cặp đối
ứng để phá tâm trụ chấp, thể nhận được
"bản lai vô nhứt vật" nhưng có một thay
đổi lớn qua lời dạy của ngài: "Nếu không
gây nhân thì không có quả. Do vậy đừng tạo
tác". Ngài đã trở thành Thiền Tổ nổi tiếng
qua lời dạy đơn giản nầy.
Như vậy mục đích của Thiền
là chỉ thẳng vào tâm. Mục tiêu của Thiền
là đạt đến giác ngộ giải thoát. Cho nên
giáo lý của Đức Phật nói chung là lấy tâm
giác ngộ làm nòng cốt, Thiền tông nói
riêng cũng lấy tâm giác ngộ làm nòng cốt.
Và tất cả pháp môn của đạo Phật cũng lấy
tâm giác ngộ làm nền tảng.
Giác ngộ là nhận rõ chân tướng của vạn
pháp là tánh không, nghĩa là nhận ngay
trong sanh tử tức Niết Bàn, phiền não tức
Bồ Đề, chúng sanh tức Phật, vô minh tức
đại trí chơn như Bát nhã. Vậy Thiền và
Giác đồng nghĩa như nhau không khác.
Có người cho Thiền là dễ bị lạc đường và
tẩu hỏa nhập ma, nói như thế không phải là
đúng. Bởi vì những pháp Thiền trong Phật
giáo chính thống dạy về Minh Tâm Kiến
Tánh. Còn có những pháp thiền ngoài đạo
Phật, dễ rơi vào tà kiến điên đảo. Thế nào
là thiền ngoại đạo ?
Thiền ngoại đạo là lối tu không phải của
Phật giáo, thường vọng cầu không thể giải
quyết được luân hồi sanh tử, gồm có:
- Thiền Yoga. Là lối tu có trước đức Phật
hàng ngàn năm, do các đạo sĩ ẩn mình nơi
hoang vắng, xa lánh sự ồn náo của thế
gian, tìm về lối sống minh triết, tịch
tĩnh tạo thành hai phái: Hatha Yoga,
chuyên luyện tập thân thể chịu đựng với
thời gian, mong được sống lâu, sống khỏe.
- Raja Yoga. Luyện tập ý chí trở thành
năng lực thông tuệ, đem Tiểu ngã hòa nhập
vào Đại ngã. Dĩ nhiên họ cũng có thần
thông, nhưng không có lậu tận thông.
- Thiền Xuất Hồn. Chủ trương con người có
hai phần xác và hồn. Phần xác họ cho rằng
phía trước và sau dọc xương sống Nhâm và
Đốc mạch lên tới đỉnh đầu, có những bí
huyệt lưu chuyển gọi là luân xa. Mở các
luân xa nầy và mở họp sọ nơi phía sau xoáy
đầu sẽ được xuất hồn, bay đi chốn nầy, chỗ
nọ, gặp cảnh sanh tình, vọng tưởng đam mê
tham chấp, ắt sẽ bị điên loạn.
- Thiền Thai Tức. Thai là gom hết thánh
thai, tức là hơi thở. Đưa hơi thở xuống
đan điền để luyện tinh hóa khí, luyện khí
hóa thần, luyện thần huờn hư. Như vậy kết
được thánh thai (anh nhi), sẽ có thần
thông và sống lâu, còn gọi là Phái Thiền
tu Tiên.
- Thiền Phàm Phu. Chú tâm và kỹ xảo như
thôi miên, ảo thuật ...
- Thiền Thiêng Liêng. Chú tâm vọng tưởng
về một đấng thiêng liêng nào đó, dù không
có thật để mong nhập vào xác mình ban cho
kẻ khác thứ gì, như trị bịnh, nói hên xui,
cầu danh lợi v.v...
- Tà Thiền. Chú tâm luyện phù làm phép ếm
đối để mê hại người, hoặc giả trò ma thuật
lừa đảo người mê theo, để kiếm tiền tài,
vật dục...
Tóm lại các thứ thiền trên đây mong sự mầu
nhiệm và kéo dài tuổi thọ, hoặc thu hút kẻ
hiếu kỳ muốn thấy sự huyền bí khác lạ. Khi
hưởng hết phước, liền bị đọa lạc. Hoặc
thân hoại mạng chung, cũng bị luân chuyển
sáu nẻo luân hồi, khó mong ra khỏi. Tất
nhiên trái với Thiền Tông của Phật Giáo.
Thiền Phật Giáo nhằm khai mở trí tuệ, quét
sạch vọng tưởng vô minh hôn ám, nhận rõ
cuộc sống hiện tại, tự thắng và làm chủ
lấy mình, trở thành giác ngộ giải thoát
sanh tử khổ đau.
Như vậy giữa Thiền và Tịnh thế nào? Thật
ra Thiền và Tịnh cũng chỉ là tỏ ngộ tri
kiến Phật của mình tỏ ngộ tri kiến Phật là
thấu rõ nguồn tâm.
Các pháp môn đức Phật giả lập để đối trị
tâm bịnh chúng sanh, chỉ là phương tiện.
Ví như dùng ngón tay chỉ mặt trăng, đừng
chấp ngón tay ấy là mặt trăng cũng như
danh hiệu A Di Đà chỉ cho tự tánh thanh
tịnh của chúng sanh trong thế giới vô
sanh.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|