Thoi-Nay - Giai Tri va Doi Song

Trang chính
Thế giới tâm linh

Mục lục

Đời - Đạo

Kinh tụng bằng nhạc

VIDEO

Nhạc

Hoa Đạo Pháp

Mở Trang Hiếu Hạnh (TNT Mặc Giang)

Mùa An Cư Kiết Hạ năm Canh Dần 2010

Nhân Mùa Phật Đản 2634 Phật lịch 2554

His Holiness the Dalai Lama

Câu chuyện cát đá - đạo vào đời

 
    Thế giới tâm linh - Phụ trách : TN . 3/2009.

Đức Thích Ca cầm cành sen đưa lên, đại chúng đều ngơ ngác, không ai hiểu yếu chỉ của ngài. Duy có trưởng lão Ma Ha Ca Diếp chúm chím cười. Do đó, Đức Phật nói: "Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, nay truyền cho Ma Ha Ca Diếp".

Từ đó dòng thiền Ấn Độ lần lượt truyền đến Bồ Đề Đạt Ma cả thảy 28 đời. Khi Bồ Đề Đạt Ma nhận giáo chỉ của Sư phụ Bát Nhã Đa La lên đường sang Đông Độ, thẳng đến Trung Quốc vào năm 520 T.L, gặp Lương Vũ Đế không xứng hợp khế cơ, ngài qua Giang Bắc vào đất Ngụy 9 năm đối vách tại động đá chùa Thiếu Lâm bằng lời khai thị:

"Chẳng lập văn tự,
truyền riêng ngoài giáo,
chỉ thẳng vào tâm,
thấy tánh thành Phật".

Qua câu chuyện An Tâm giữa sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma và nhị tổ Huệ Khả ta thấy thiền phong khẳng định tâm tức Phật, lấy Tâm Ấn Tâm, không ràng buộc giáo điều như Đức Phật đã dạy phổ thông cho bảy chúng đệ tử:

   
 
Thiền là gì?
 

(Hòa Thượng Thích Kiến Tánh)

 
 

Một câu hỏi khó giải đáp, vì Thiền phủ nhận tất cả, vì bản chất của Thiền vượt ngoài định nghĩa và giải thích, không có ngôn ngữ và văn tự, lời dạy đặc biệt ngoài kinh điển, hay "biệt truyền ngoài giáo điển", chỉ thẳng vào tâm, thấy tánh thành Phật "trực chỉ minh tâm, kiến tánh thành Phật". Thiền là một nghệ thuật sống, là sự sáng tạo của bản thể uyên nguyên vô cùng vi diệu là hành trình chư Phật, chư Tổ đã kinh qua và thấy rõ gốc rễ của vô minh, luân hồi nhiều kiếp của mình và chúng sanh. Ngọn đuốc Tuệ giác nơi các ngài bừng cháy đã thiêu rụi bóng ma của sinh tử.

Nhưng ở đây ta tạm mượn lời để diễn ý Thiền được gọi là Thiền Na, Phạn ngữ gọi là DHYANA - Trung Hoa gọi là CH'AN, Nhật gọi là ZEN dịch nghĩa là Tỉnh Lự. Tỉnh thức không mê lầm, không mê lầm là sự trong sáng thanh tịnh, không mê lầm nhân, không mê lầm quả.
Lục Tổ bảo: "Ngoài chẳng nhiễm cái duyên, trong chẳng loạn tưởng. Đó là Thiền".

Trong sự phát triển các phái Thiền ta thấy có:

a) THIỀN NGUYÊN THỦY (Nhị thừa Thiền)
Đức Thế Tôn dựa trên 6 căn 6 trần 6 thức mà dạy phá chấp ngã tướng, qua hệ giáo lý nguyên thủy gồm các Kinh: 4 Thánh đế, 8 Thánh đạo, 12 Nhân duyên, 3 Pháp ấn, A Hàm ... Tùy căn bệnh của đệ tử mà lấy pháp đối trị. Chẳng hạn như người nặng tham dục quán Tứ niệm Xứ. Nhiều sân hận quán Từ bi, nặng ngu si quán Nhân duyên. Nhiều loạn tưởng quán hơi thở, gọi là tu Quán. Ngoài tu Quán còn có tu Chỉ, ngưng bặt vọng tưởng, giữ tâm thanh tịnh, buông dứt ý niệm, hoặc hành Minh sát Tuệ. Đây là lối tu đầu tiên căn bản Đức Phật dạy cho mỗi đệ tử tìm chỗ thanh vắng trong hang động, bên bờ suối, chỗ vứt thây chết trong rừng, dưới gốc cây, hoặc chỗ nào thích hợp để nỗ lực hành trì tu tập.


Hành giả tu như vậy đạt từ Sơ thiền (lìa dục sanh hỷ lạc), Nhị thiền (định sanh hỷ lạc), Tam thiền (lìa hoan hỷ được vui vi diệu), Tứ thiền (buông hết tạp niệm được thanh tịnh).
Tứ thiền thuộc về Sắc giới, cũng gọi là Thiền phàm phu chứng từ Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm; tu thêm một buớc đạt đến bốn Không: Không Vô biên xứ, Thức Vô biên xứ, Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ thuộc về Vô sắc giới. Cộng chung là tám thứ định, tu thêm Diệt tận định. Đạt đến định nầy chứng quả A La Hán.

b) THIỀN ĐẠI THỪA
Pháp Thiền nầy phát triển từ phá chấp ngã tướng đi vào tánh. Ảnh hưởng hệ giáo lý Bát Nhã, Kim Cương, Lăng Già. Tuy có những mục như Thiền Nguyên Thủy. Chẳng hạn bậc Bồ Tát tu 5 pháp: Quán tam muội, Quán nhân duyên tam muội, Quán Phật tam muội, Quán bất tịnh tam muội, Quán lục diệu pháp môn. Riêng lục diệu pháp môn có:

1- Sổ tức môn, pháp đếm hơi thở từ 1 đến 10 từ 10 đến 1, ngăn trừ loạn tưởng, không niệm sanh khởi, tiến vào định.
2- Tùy môn, pháp không cần đếm, chỉ theo hơi thở
ra vào không niệm tưởng gì khác.
3- Chỉ môn, pháp ngưng tâm ý và hơi thở.
4- Quán môn, pháp quán tưởng thân thể từ đầu đến chân trong ngoài nhơ nhớp, chia chẻ thấu rõ. Từng phần vô thường giả hợp.
5- Hoàn môn, pháp xoay về quán tự tâm, sắc ấm che đậy đều diệt.
6- Tịnh môn, pháp làm cho trong sạch thân tâm, uế
dục đều lặng.

Với pháp Quán, hành giả quán từ giả tướng thấy thật tướng, tức vào thể tánh chân như. Thiền theo tông Thiên Thai của ngài Trí Giả Đại Sư ứng dụng pháp Trung Quán Luận của ngài Long Thọ tu tam quán. Quán không, Quán giả, Quán trung. Cho rằng cái pháp do duyên sanh, không cố định, tức quán không. Thể tánh các pháp là không nhưng duyên hợp tạm có, không thật, cũng gọi là Quán Giả, Không Giả đều buông bỏ chỉ còn nhất tâm chơn như cũng gọi là Quán Trung Đạo đệ nhất nghĩa. Như thế Thiền Đại Thừa gần với Thiền Tông, nhưng còn khác biệt ở chỗ có pháp để tu, có quả để chứng. Còn bên Thiền Tông thì không có pháp dạy người, không có quả để chứng đắc.

c) NHƯ LAI THIỀN
Thời kỳ nhận thức của chúng đệ tử khá cao, cho nên Đức Phật giảng kinh Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Niết Bàn, dạy lối tu Liễu nghĩa thượng thừa, chỉ thẳng Tri kiến Phật, Như Lai tạng tâm. Tất cả chúng sanh đều bình đẳng pháp tánh, phải nhận được cái thấy biết tánh Phật của mình, tâm nầy là Kho Như Lai. Bồ Tát tu như thế đạt kết quả gồm 52 bậc tu chứng từ Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa đến Đẳng Giác và Diệu Giác là Phật, Như Lai.

d) TỔ SƯ THIỀN
Là pháp môn truyền thừa Tâm Ấn bắt đầu từ pháp hội núi Linh Thứu, Đức Thích Ca cầm cành sen đưa lên, đại chúng đều ngơ ngác, không ai hiểu yếu chỉ của ngài. Duy có trưởng lão Ma Ha Ca Diếp chúm chím cười. Do đó, Đức Phật nói: "Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, nay truyền cho Ma Ha Ca Diếp".

Từ đó dòng thiền Ấn Độ lần lượt truyền đến Bồ Đề Đạt Ma cả thảy 28 đời. Khi Bồ Đề Đạt Ma nhận giáo chỉ của Sư phụ Bát Nhã Đa La lên đường sang Đông Độ, thẳng đến Trung Quốc vào năm 520 T.L, gặp Lương Vũ Đế không xứng hợp khế cơ, ngài qua Giang Bắc vào đất Ngụy 9 năm đối vách tại động đá chùa Thiếu Lâm bằng lời khai thị:

"Chẳng lập văn tự,
truyền riêng ngoài giáo,
chỉ thẳng vào tâm,
thấy tánh thành Phật".


Qua câu chuyện An Tâm giữa sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma và nhị tổ Huệ Khả ta thấy thiền phong khẳng định tâm tức Phật, lấy Tâm Ấn Tâm, không ràng buộc giáo điều như Đức Phật đã dạy phổ thông cho bảy chúng đệ tử.

Đến đời Lục Tổ Huệ Năng mặc dù ngài lấy Định Huệ làm căn bản, và lấy 36 cặp đối ứng để phá tâm trụ chấp, thể nhận được "bản lai vô nhứt vật" nhưng có một thay đổi lớn qua lời dạy của ngài: "Nếu không gây nhân thì không có quả. Do vậy đừng tạo tác". Ngài đã trở thành Thiền Tổ nổi tiếng qua lời dạy đơn giản nầy.
 

Như vậy mục đích của Thiền là chỉ thẳng vào tâm. Mục tiêu của Thiền là đạt đến giác ngộ giải thoát. Cho nên giáo lý của Đức Phật nói chung là lấy tâm giác ngộ làm nòng cốt, Thiền tông nói riêng cũng lấy tâm giác ngộ làm nòng cốt. Và tất cả pháp môn của đạo Phật cũng lấy tâm giác ngộ làm nền tảng.


Giác ngộ là nhận rõ chân tướng của vạn pháp là tánh không, nghĩa là nhận ngay trong sanh tử tức Niết Bàn, phiền não tức Bồ Đề, chúng sanh tức Phật, vô minh tức đại trí chơn như Bát nhã. Vậy Thiền và Giác đồng nghĩa như nhau không khác.


Có người cho Thiền là dễ bị lạc đường và tẩu hỏa nhập ma, nói như thế không phải là đúng. Bởi vì những pháp Thiền trong Phật giáo chính thống dạy về Minh Tâm Kiến Tánh. Còn có những pháp thiền ngoài đạo Phật, dễ rơi vào tà kiến điên đảo. Thế nào là thiền ngoại đạo ?
Thiền ngoại đạo là lối tu không phải của Phật giáo, thường vọng cầu không thể giải quyết được luân hồi sanh tử, gồm có:

- Thiền Yoga. Là lối tu có trước đức Phật hàng ngàn năm, do các đạo sĩ ẩn mình nơi hoang vắng, xa lánh sự ồn náo của thế gian, tìm về lối sống minh triết, tịch tĩnh tạo thành hai phái: Hatha Yoga, chuyên luyện tập thân thể chịu đựng với thời gian, mong được sống lâu, sống khỏe.

- Raja Yoga. Luyện tập ý chí trở thành năng lực thông tuệ, đem Tiểu ngã hòa nhập vào Đại ngã. Dĩ nhiên họ cũng có thần thông, nhưng không có lậu tận thông.

- Thiền Xuất Hồn. Chủ trương con người có hai phần xác và hồn. Phần xác họ cho rằng phía trước và sau dọc xương sống Nhâm và Đốc mạch lên tới đỉnh đầu, có những bí huyệt lưu chuyển gọi là luân xa. Mở các luân xa nầy và mở họp sọ nơi phía sau xoáy đầu sẽ được xuất hồn, bay đi chốn nầy, chỗ nọ, gặp cảnh sanh tình, vọng tưởng đam mê tham chấp, ắt sẽ bị điên loạn.

- Thiền Thai Tức. Thai là gom hết thánh thai, tức là hơi thở. Đưa hơi thở xuống đan điền để luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần, luyện thần huờn hư. Như vậy kết được thánh thai (anh nhi), sẽ có thần thông và sống lâu, còn gọi là Phái Thiền tu Tiên.

- Thiền Phàm Phu. Chú tâm và kỹ xảo như thôi miên, ảo thuật ...

- Thiền Thiêng Liêng. Chú tâm vọng tưởng về một đấng thiêng liêng nào đó, dù không có thật để mong nhập vào xác mình ban cho kẻ khác thứ gì, như trị bịnh, nói hên xui, cầu danh lợi v.v...

- Tà Thiền. Chú tâm luyện phù làm phép ếm đối để mê hại người, hoặc giả trò ma thuật lừa đảo người mê theo, để kiếm tiền tài, vật dục...
Tóm lại các thứ thiền trên đây mong sự mầu nhiệm và kéo dài tuổi thọ, hoặc thu hút kẻ hiếu kỳ muốn thấy sự huyền bí khác lạ. Khi hưởng hết phước, liền bị đọa lạc. Hoặc thân hoại mạng chung, cũng bị luân chuyển sáu nẻo luân hồi, khó mong ra khỏi. Tất nhiên trái với Thiền Tông của Phật Giáo. Thiền Phật Giáo nhằm khai mở trí tuệ, quét sạch vọng tưởng vô minh hôn ám, nhận rõ cuộc sống hiện tại, tự thắng và làm chủ lấy mình, trở thành giác ngộ giải thoát sanh tử khổ đau.

Như vậy giữa Thiền và Tịnh thế nào? Thật ra Thiền và Tịnh cũng chỉ là tỏ ngộ tri kiến Phật của mình tỏ ngộ tri kiến Phật là thấu rõ nguồn tâm.

Các pháp môn đức Phật giả lập để đối trị tâm bịnh chúng sanh, chỉ là phương tiện. Ví như dùng ngón tay chỉ mặt trăng, đừng chấp ngón tay ấy là mặt trăng cũng như danh hiệu A Di Đà chỉ cho tự tánh thanh tịnh của chúng sanh trong thế giới vô sanh.

 
 
    Thoi Nay Montreal - Giai Tri va Doi Song

Mục lục

Phật Giáo và Khoa Học

Tông phái : Thiền - Mật - Tịnh

Bước đầu học Phật

Kinh

Luật

Luận

   
 

Copyright © 2011 | TN InfoWay