|
Dàn Bài :
1 Chứng cớ :
Thiền-tông chẳng tu thiền-định !
2 Vì sao chư Tổ
ngồi thiền
3 Vì sao tưởng
lầm Thiền-tông là thiền-định
4 Mục tiêu
Thiền-tông
5 Vì sao chẳng tu
thiền-định
Kinh D B N
B
Phải đốn
ngộ
Tối Thượng
Thừa Thiền
6 Thiền Tông tu
gì ?
tu để kiến tánh :
Truyền
tâm ấn tâm
Kinh
Kim Cang
Quán
Thoại Đầu
Đánh thức Phật
Tâm thiên cổ dậy
7 Đông Sơn pháp
môn
8 Định nghĩa "Thiền"
trong "Thiền-tông"
9 Nhị Thừa trụ
quán , ta không trụ !
_________________________________
Thiền-tông chẳng
tu thiền-định !
Chữ thiền-định đây
là thiền-định theo nghĩa thông
thường, theo nghĩa thường dùng
thường hiểu của mọi người, theo
nghĩa thiền-định của Phật Pháp
Cơ Bản. Thiền-định là trụ tâm, định
tâm.
Sự tu hành thiền-định
của Phật Pháp Cơ Bản có thể tóm
tắt trong 4 chữ Trụ Tâm Quán
Tịnh. Và
Thiền-tông chẳng
tu thiền-định !
1. Chứng cớ :
Thiền-tông chẳng tu thiền-định !
[a] Ngũ Tổ Hoằng
Nhẫn "chỉ luận kiến tánh. Ngài
chẳng luận pháp thiền-định và
pháp giải thoát" (Kinh Pháp Bảo
Đàn).
[b] Lục Tổ nói :
"Trụ tâm quán
tịnh là bịnh chẳng phải thiền.
Thường ngồi là câu thúc lấy thân,
đối với Đạo có ích chi đâu !
Hãy nghe ta nói
kệ :
Khi sống
ngồi không nằm
Thác rồi
nằm chẳng ngồi
Thiệt đồ
xương thịt thúi
Sao luống
lập công phu "
(Kinh Pháp
Bảo Đàn)
[c] Hoài Nhượng
dạy Mã Tổ :
Ngồi thiền
đâu thể thành Phật được !
[d] Hoàng Bá : "Ngộ
tại tâm, chẳng liên quan gì đến
lục độ vạn hạnh". Trong lục độ
có thiền-định.
[e] Tổ Lâm Tế và
Vương thường Thị :
{{ Vương thường
Thị đến thưa hỏi tổ, theo tổ đến
trước tăng đường, xem xong liền
hỏi: "Tăng chúng trong tăng đường
này có xem kinh chăng? " Tổ đáp:
" Chẳng xem kinh. ", "Lại học
thiền chăng? ", "Chẳng học thiền"
"Kinh đã chẳng xem, thiền lại chẳng
học, cứu cánh làm cái gì? ",
"Thảy dạy họ làm Phật, làm Tổ."
}}
Chữ Thiền trên đây
dĩ nhiên là thiền định -nghĩa
thường dùng của chữ Thiền.
[f] Thiền sư Đại
Huệ Tông Cảo gọi thiền Mặc Chiếu
là tà thiền.
Thiền Mặc Chiếu
là một pháp thiền định khá cao
siêu rồi, thế mà còn bị coi là
tà thiền !
[g] Bàng bạc
trong các ngữ lục, các Tổ sư đều
khuyến cáo thiền sinh không được
<trầm không thủ tịch>. <Trầm
không> đây là đắm chìm trong cảnh
giới không của định, < thủ tịch>
là không rời đươc cảnh tịch diệt
của thiền định, nhất là cảnh
tịch diệt của A La Hán.
Sự thực, nội hai
câu của Ngũ Tổ, Lục Tổ là đủ chứng
cớ:
< chỉ luận kiến
tánh, chẳng luận pháp thiền-định
và pháp giải thoát>
<Trụ tâm quán
tịnh là bịnh chẳng phải thiền>
Và trong Kinh Kim
Cang, kinh Thiền Tông từ
đời Ngũ Tổ (ngài bảo rằng thọ
trì Kinh Kim Cang có thể thấy
tánh), Phật dạy :
Không trụ
vào đâu cả !
(Ưng vô sở
trụ)
(Đây chính là yếu
chỉ Thiền-tông !)
2. Vì sao chư Tổ
ngồi thiền
Có nhiều người đọc
đến đây, sẽ bắt bẻ rằng : sao
lại chẳng tu thiền-định, thế các
Tổ chẳng tu thiền-định là gì :
Đạt Ma Sư
Tổ ngồi diện bích 9 năm
Lục Tổ khi
trốn sau khe núi ngồi thiền, còn
để vết trên tảng đá
Xin thưa : Chẳng
phải thế ! Chẳng phải thế !
khi nói
đến việc tu hành Thiền-tông
là nói đến những người chưa kiến
tánh. Một khi đã kiến tánh, thì
ra <ngòai vòng kiềm tỏa> của
Thiền-tông :
muốn tu sao thì tu, tu định cũng
được tu quán cũng xong, luyện
thần thông cũng tốt !
Tu sao cũng tốt,
làm gì thì làm ! Thung
dung tự tại, sống cùng tự tánh !
Bởi thế :
Lục Tổ khi
trốn sau khe núi ngồi thiền, còn
để vết trên tảng đá. Lúc này Lục
Tổ đã kiến tánh nhiều
năm, muốn định thì cứ định thôi.
Đạt Ma Sư
Tổ ngồi diện bích 9 năm :
Ngài đã là Tổ
hơn 60 mươi năm, còn tu thiền định
cái gì !
Xin nhắc lại :
Ngài đã là Tổ hơn
60 mươi năm, còn tu thiền định
cái gì !
Ngài ngồi như chẳng ngồi, diện
bích như chẳng diện bích ! Dụng
ý chính của ngài là ngồi đó để
có người đến cầu thỉnh, xin
truyền pháp. Ngài ngồi đó để
truyền bá Chánh Pháp Nhãn Tạng
của Như Lai !
3. Vì sao tưởng
lầm Thiền-tông là thiền-định
a) Phật Giáo nước
ta
bị ngoại đạo lấn át đã 150 năm
nay, trở thành suy đồi. Nhất là
Thiền-tông trong thời gian này
lại càng thoái hóa. Ngày xưa, phải
kiến tánh mới được nối pháp làm
Tổ một dòng thiền, bấy lâu nay
thì không thế : chùa Thiền-tông
hầu hết đã đổi sang Tịnh Độ ; có
nhiều vị sư tu Tịnh Độ không
biết gì về Thiền-tông mà lại nối
pháp làm Tổ một dòng thiền !
Thế nên, những vị
sư trẻ muốn tu thiền thì phải tự
học tự tu. Thường là họ thuộc
dòng thiền Lâm Tế, mà tu thiền
lại chẳng có thầy, chẳng khác
các cư sĩ bao nhiêu.
Thiền-tông với
thiền-định
đều có
chữ <Thiền>, sự ngộ nhận gần như
là sự tất nhiên vậy !
Vẫn còn một số
chùa Việt Nam tu theo Thiền-tông
như trước. Số chùa này không
nhiều. Từ 15 năm nay, trong
những vị danh tăng quảng bá
thiền của nước ta, trong nước
cũng như ngoài nước, chỉ có Cố
Hòa Thượng Duy Lực là không nhầm
lẫn Thiền-tông với thiền-định !
b) Phật Tử nước
ta,
trong hoàn cảnh
đó, cũng ngộ nhận
Thiền-tông với
thiền-định.
Thiền-tông với
thiền-định đều có chữ <Thiền>,
sự ngộ nhận, trong hoàn
cảnh và thời gian nay, gần như
là sự tất nhiên vậy !
c) Từ đời Minh, ở
Trung Hoa và ở Đại Việt
(nước ta bị nhà Minh đô hộ 20
năm), Thiền-tông bắt đầu thoái
hóa, sự ngộ nhận
Thiền-tông với
thiền-định cũng bắt đầu hình
thành.
4. Mục tiêu
Thiền-tông
Mục đích cùa
Thiền Tông là Kiến Tánh Thành
Phật :
Ngoài giáo
truyền riêng
Chẳng lập
văn tự
Chỉ thẳng
tâm người
Kiến Tánh
Thành Phật
( Đạt Ma
Sư Tổ )
hay :
Ngoài giáo
truyền riêng
Chẳng lập
văn tự
Chỉ thẳng
chân-tâm
Kiến Tánh
Thành Phật
( Đạt Ma
Sư Tổ )
5. Vì sao chẳng
tu thiền-định
Kinh Đại Bát Niết
Bàn
(D B N
B)
Lý do chính
được tìm thấy trong Kinh Đại
Bát Niết Bàn (dịch giả Thích Trí
Tịnh), Phật nói :
Thinh Văn,
Duyên Giác vì định lực nhiều
nên không thấy Phật Tánh !
Vì định lực nhiều
nên không thấy Phật Tánh !
Vì định lực nhiều
nên vui trong cảnh giới của định,
chẳng muốn thấy Phật Tánh, chẳng
tin có Phật Tánh nên không thấy
Phật Tánh !
Vì định lực nhiều
nên đắc Diệt Thọ Tưởng Định mà
vui trong cảnh giới Không của định
này, chẳng muốn thấy Phật Tánh,
chẳng tin có Phật Tánh nên không
thấy Phật Tánh !
Vì định lực nhiều
nên đắc Diệt Thọ Tưởng Định mà
không rời được cảnh giới Không
của định này, nên không thấy
Phật Tánh !
Bởi thế, bàng bạc
trong các ngữ lục, các Tổ sư đều
khuyến cáo thiền sinh không được
<trầm không thủ tịch>. <Trầm
không> đây là đắm chìm trong cảnh
giới không của định, < thủ tịch>
là không rời đươc cảnh tịch diệt
của thiền định, nhất là cảnh
tịch diệt của A La Hán.
Bởi thế,
Thiền-tông chẳng tu thiền-định !
Phải đốn ngộ
Kiến Tánh là
chứng ngộ Phật Tánh. Trong Thiền
Tông, Ngộ là Kiến Tánh.
Nói cách khác,
chỉ có một cách để Kiến Tánh ;
đó là Đốn Ngộ .
Các pháp môn
thiền khác của nhà Phật, thỉnh
thoảng cũng có sự Ngộ : thường
là sự ngẫn nhiên và không bắt
buộc !
Trong khi trong
Thiền Tông, Ngộ là Kiến Tánh.
Bắt buộc phải Ngộ mới Kiến Tánh.
(Vì chẳng có Phương
Thức nào có thể chắc chắn đem
đến cái Ngộ, nên Thiền Tông còn
được gọi là Cửa Không Cửa).
Và
thiền-định
chẳng thể đưa đến Kiến Tánh, Đốn
Ngộ:
Thinh Văn,
Duyên Giác vì định lực nhiều
nên không thấy Phật Tánh !
Tối Thượng Thừa
Thiền
Thiền Định làm
tâm trở nên "mềm dịu chói sáng" (Kinh
điển Nhị Thừa); tâm đây là vọng
tâm. Thiền Định trau dồi vọng
tâm :
khi vọng tâm được đến chỗ không
còn phiền não, thì định ở đó,
đắc đạo, thành A La Hán !
Thiền Tông đi từ
Vọng vào Chân : Chuyển Tâm từ
vọng tâm mà thể nhập Chân Như
Phật Tánh.
Như thế, Thiền
của Thiền Tông hoàn toàn khác
hẳn Thiền Định.
Cái Chuyển Tâm từ
vọng tâm mà thể nhập Chân Như
Phật Tánh này là Tối Thượng Thừa
Thiền.
Thuở Thiền Tông thịnh
hành, thiền sinh ngồi thiền sơ
sơ thì được,
còn ngồi lâu là
bị khệnh gậy !
Có khi là bị
khệnh gậy thật, có khi là bị
khệnh gậy bằng lời như Mã Tổ được
Hoài Nhượng dạy :
Ngồi thiền
đâu thể thành Phật được !
6. Thiền Tông tu
gì ?
Tu để kiến tánh :
Việc tu hành của
pháp môn Kiến Tánh dĩ nhiên là
tu để kiến tánh và gồm 3 đường
lối :
1) truyền
tâm ấn tâm
2) tự tu
bằng Kinh Kim Cang
3) khán
công án, thoại đầu
Đánh thức Phật
Tâm thiên cổ dậy
Kiến Tánh là
chứng ngộ Phật Tánh, cái Phật
Tánh có sẵn trong tâm ta từ vô
thỉ :
Phật Tánh
ẩn tàng A Lại Da
Nghìn xưa,
vô thỉ đã là TA !
Ngủ khò
vạn nẻo luân hồi ấy,
Khiến người
lẩn quẩn cõi Mê Hà-
(Pháp
Ẩn Hiện)
Do đó, ta cần phải
đánh thức Phật Tâm thiên cổ dậy !
Từ Tổ Ca
Diếp tới Tào Khê,
Ẩn hiện
pháp mầu nói ngộ, mê
Đánh thức
Phật Tâm thiên cổ dậy !
Tỉnh giấc
mộng dài, giấc lê thê
(Pháp
Ẩn Hiện)
Như đã viết ở phần
trên, "Tối Thượng Thừa
Thiền", sự "đánh thức Phật
Tâm thiên cổ dậy" này là Chuyển
Tâm, là
Tối Thượng Thừa
Thiền.
Những pháp môn
nhà Phật :
- chẳng có mục
tiêu là Kiến Tánh
- chẳng thể đưa
đến Kiến Tánh, trong một kiếp (một
đời người)
đều chẳng phải là
Thiền Tông !
7. Đông Sơn pháp
môn
Thọat kỳ thủy,
Thiền Tông không được gọi là
Thiền Tông, mặc dù Thiền Tông
lúc nào cũng tự xưng là Thiền
Tông .
Tổ Đạt Ma :
{{ Chỉ một chữ
thiền, thánh và phàm chẳng suy
lường nổi.
Thấy thẳng tánh mình thì gọi là
thiền.
Nếu chẳng thấy tánh, tức không
phải thiền. }}
Ta có thể đoán rằng :
người đời lúc đó, thường gọi
Thiền Tông, một cách khiếm nhã,
là tông phái của Bà La Môn Đạt
Ma. Những người tử tế hơn, thì
gọi theo định nghĩa : gọi Thiền
Tông là tông phái Kiến Tánh.
Tên chính thức
đầu tiên của Thiền Tông là Đông
Sơn Pháp Môn. Đông Sơn Pháp Môn
là tên chính thức vì danh xưng
này được cả người trong và ngoài
Thiền Tông công nhận.
Người Thiền Tông
công nhận vì :
a) Đông Sơn Pháp
Môn à Thiền của Ngũ Tổ. Sao lại
là Đông Sơn pháp môn ? - Đông
Sơn là nơi tọa lạc của Ngũ Tổ.
b) Gọi là Đông
Sơn Pháp Môn là cách gọi lễ phép,
tôn kính. Xưa nay, để tỏ lòng
kính trọng, người Tàu không gọi
thẳng tên mà gọi nơi chốn
Trong Kinh Pháp
Bảo Đàn, Lục Tổ cũng nói là ngài
truyền bá Đông Sơn pháp môn .
Xem thế, lúc ban
đầu, Thiền Tông chẳng được gọi
là Thiền Tông. Bởi vì "Thiền"
trong "Thiền-tông" lạ quá, chảng
giống
thiền-định
chút nào !
8. Định nghĩa "Thiền"
trong "Thiền-tông"
Làm thế nào để
chứng ngộ Phật Tánh, là Thiền !
9. Nhị Thừa trụ
quán , ta không trụ !
Như trên đã viết,
"Thiền" trong "Thiền-tông" chảng
giống
thiền-định
chút nào. Nhưng vì thế nhân khao
khát thiền, khao khát thiền định,
nên ngay Lục Tổ cũng có giảng về
thiền định. Ngài châm chước cái
thể, cái dụng của Tánh mà giảng
thiền định. Có khi thiền định
dùng cho mọi người, có khi dành
cho người đã kiến tánh (Thường Định).
Dù sao, thiền định của Lục Tổ
cũng chẳng phải là thiền định
của Phật Pháp Cơ Bản.
Căn bản là lời
của Lục Tổ nói : <Trụ tâm quán
tịnh là bịnh chẳng phải thiền.
Thường ngồi là câu thúc lấy thân>
.Và Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn < chẳng
luận pháp thiền-định >
Nên Thiền-tông ta
chẳng tu thiền-định, như đã giải
thích ở trên. Sự khác biệt giữa
Thiền-tông và các pháp môn khác,
chính là chỗ này. Vì thế, trong
bài thơ "Thiền tông" , tôi có viết :
Nhị Thừa
trụ quán , ta không trụ !
Bồ Tát tế
độ, ta tế tâm
Thiền Tông dùng
câu
Không trụ
vào đâu cả !
trong Kinh Kim
Cang, làm tông chỉ.
-------
------- -------
Lúc ban đầu, pháp
môn kiến tánh chẳng được gọi là
Thiền Tông. Bởi vì "Thiền" trong
"Thiền-tông" lạ quá, chảng giống
thiền-định
chút nào ! Trong một thời gian
dài, Thiền Tông được gọi là Đông
Sơn pháp môn, vì Đông Sơn là nơi
tọa lạc của Ngũ Tổ. Khi Thiền
Tông được bành trướng mạnh, ngự
trị Phật Giáo Ta và Tàu , thì
Thiền Tông mới được gọi là Thiền
Tông.
Ở nước ta,
đã 150 năm nay, Thiền Tông trở
thành suy đồi.
Thiền-tông với
thiền-định
đều có
chữ <Thiền>, sự ngộ nhận gần như
là sự tất nhiên vậy !
Thiền-tông chẳng
tu thiền-định !
Lý do chính
được tìm thấy trong Kinh Đại
Bát Niết Bàn (dịch giả Thích Trí
Tịnh), Phật nói :
Thinh Văn,
Duyên Giác vì định lực nhiều
nên không thấy Phật Tánh.
Và trong Kinh Kim
Cang, kinh Thiền Tông
từ đời Ngũ Tổ, Phật dạy :
Không trụ
vào đâu cả !
Đây chính là yếu
chỉ Thiền-tông !
Thiền Tông đi từ
Vọng vào Chân :
Chuyển Tâm từ vọng tâm mà thể
nhập Chân Như Phật Tánh. Không
trụ, không dùng thiền định !
Chính vì vậy, Lục
Tổ nói :
Trụ tâm
quán tịnh là bịnh chẳng phải
thiền.
Và do đó, trên
Trang Nhà Kiến Tánh, bài thơ "Thiền-tông"
có câu :
Nhị Thừa
trụ quán , ta không trụ !
Tôi viết bài thơ
"Thiền-tông" để xác định tông
chỉ Thiền-tông vậy./.
Lê Anh Chí
|