Thoi-Nay - Giai Tri va Doi Song

 

  Trang chính
  Thế giới tâm linh
 

Mục lục

Đời - Đạo

Kinh tụng bằng nhạc

VIDEO

Nhạc

Hoa Đạo Pháp

Mở Trang Hiếu Hạnh (TNT Mặc Giang)

Mùa An Cư Kiết Hạ năm Canh Dần 2010

Nhân Mùa Phật Đản 2634 Phật lịch 2554

His Holiness the Dalai Lama

Câu chuyện cát đá - đạo vào đời

    Thế giới tâm linh - Phụ trách : TN  (last updated: 07/2008)    

Thiền Tông chẳng tu thiền định !

 (Theo Lê Anh Chí)

Mục đích cùa Thiền Tông là Kiến Tánh Thành Phật :

       Ngoài giáo truyền riêng

       Chẳng lập văn tự

       Chỉ thẳng tâm người

       Kiến Tánh Thành Phật

       ( Đạt Ma Sư Tổ ) 

 

---

Đánh thức Phật Tâm thiên cổ dậy

Kiến Tánh là chứng ngộ Phật Tánh, cái Phật Tánh có sẵn trong tâm ta từ vô thỉ : 

       Phật Tánh ẩn tàng A Lại Da

       Nghìn xưa, vô thỉ đã là TA !

       Ngủ khò vạn nẻo luân hồi ấy,

       Khiến người lẩn quẩn cõi Mê Hà-

              (Pháp Ẩn Hiện)  

Do đó, ta cần phải đánh thức Phật Tâm thiên cổ dậy !

       Từ Tổ Ca Diếp tới Tào Khê,

       Ẩn hiện pháp mầu nói ngộ, mê

       Đánh thức Phật Tâm thiên cổ dậy !

       Tỉnh giấc mộng dài, giấc lê thê

              (Pháp Ẩn Hiện)  

 

 

Dàn Bài :

1 Chứng cớ : Thiền-tông chẳng tu thiền-định !

2 Vì sao chư Tổ ngồi thiền

3 Vì sao tưởng lầm Thiền-tông là thiền-định 

4 Mục tiêu Thiền-tông

5 Vì sao chẳng tu thiền-định 

       Kinh D B N B

       Phải đốn ngộ

       Tối Thượng Thừa Thiền

6 Thiền Tông tu gì ?

tu để kiến tánh :

           Truyền tâm ấn tâm

            Kinh Kim Cang

            Quán Thoại Đầu

Đánh thức Phật Tâm thiên cổ dậy

7 Đông Sơn pháp môn

8 Định nghĩa "Thiền" trong "Thiền-tông"

9 Nhị Thừa trụ quán , ta không trụ !

_________________________________

 

Thiền-tông chẳng tu thiền-định ! Chữ thiền-định đây là thiền-định theo nghĩa thông thường, theo nghĩa thường  dùng thường hiểu của mọi người, theo nghĩa thiền-định của Phật Pháp Cơ Bản. Thiền-định là trụ tâm, định tâm.

Sự tu hành thiền-định của Phật Pháp Cơ Bản có thể tóm tắt trong 4 chữ Trụ Tâm Quán Tịnh. Và Thiền-tông chẳng tu thiền-định !

 

1. Chứng cớ : Thiền-tông chẳng tu thiền-định !

 

[a] Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn "chỉ luận kiến tánh. Ngài chẳng luận pháp thiền-định và pháp giải thoát"  (Kinh Pháp Bảo Đàn).

 

[b] Lục Tổ nói :

"Trụ tâm quán tịnh là bịnh chẳng phải thiền. Thường ngồi là câu thúc lấy thân, đối với Đạo có ích chi đâu !

Hãy nghe ta nói kệ :

       Khi sống ngồi không nằm

       Thác rồi nằm chẳng ngồi

       Thiệt đồ xương thịt thúi

       Sao luống lập công phu "

    (Kinh Pháp Bảo Đàn)

 

[c] Hoài Nhượng dạy Mã Tổ :

       Ngồi thiền đâu thể thành Phật được !

 

[d] Hoàng Bá : "Ngộ tại tâm, chẳng liên quan gì đến lục độ vạn hạnh". Trong lục độ có thiền-định.

 

[e] Tổ Lâm Tế và Vương thường Thị :

{{ Vương thường Thị đến thưa hỏi tổ, theo tổ đến trước tăng đường, xem xong liền hỏi: "Tăng chúng trong tăng đường này có xem kinh chăng? " Tổ đáp: " Chẳng xem kinh. ", "Lại học thiền chăng? ", "Chẳng học thiền" "Kinh đã chẳng xem, thiền lại chẳng học, cứu cánh làm cái gì? ", "Thảy dạy họ làm Phật, làm Tổ."  }}


 

Chữ Thiền trên đây dĩ nhiên là thiền định -nghĩa thường dùng của chữ Thiền.

 

[f] Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo gọi thiền Mặc Chiếu là tà thiền.

Thiền Mặc Chiếu là một pháp thiền định khá cao siêu rồi, thế mà còn bị coi là tà thiền !

 

[g] Bàng bạc trong các ngữ lục, các Tổ sư đều khuyến cáo thiền sinh không được <trầm không thủ tịch>. <Trầm không> đây là đắm chìm trong cảnh giới không của định, < thủ tịch> là không rời đươc cảnh tịch diệt của thiền định, nhất là cảnh tịch diệt của A La Hán.

 

Sự thực, nội hai câu của Ngũ Tổ, Lục Tổ là đủ chứng cớ:

    < chỉ luận kiến tánh, chẳng luận pháp thiền-định và pháp giải thoát>

    <Trụ tâm quán tịnh là bịnh chẳng phải thiền>

 

Và trong Kinh Kim Cang, kinh Thiền Tông  từ đời Ngũ Tổ (ngài bảo rằng thọ trì Kinh Kim Cang có thể thấy tánh), Phật dạy :

       Không trụ vào đâu cả !

       (Ưng vô sở trụ)

(Đây chính là yếu chỉ Thiền-tông !)

 

 

2. Vì sao chư Tổ ngồi thiền

 

 Có nhiều người đọc đến đây, sẽ bắt bẻ rằng : sao lại chẳng tu thiền-định, thế các Tổ  chẳng tu thiền-định là gì :

       Đạt Ma Sư Tổ ngồi diện bích 9 năm

       Lục Tổ khi trốn sau khe núi ngồi thiền, còn để vết trên tảng đá

Xin thưa : Chẳng phải thế ! Chẳng phải thế ! khi nói đến việc tu hành Thiền-tông  là nói đến những người chưa kiến tánh. Một khi đã kiến tánh, thì ra <ngòai vòng kiềm tỏa> của Thiền-tông : muốn tu sao thì tu, tu định cũng được tu quán cũng xong, luyện thần thông cũng tốt ! Tu sao cũng tốt, làm gì thì làm ! Thung dung tự tại, sống cùng tự tánh !

Bởi thế :

       Lục Tổ khi trốn sau khe núi ngồi thiền, còn để vết trên tảng đá. Lúc này Lục Tổ đã kiến tánh nhiều năm, muốn định thì cứ định thôi.

       Đạt Ma Sư Tổ ngồi diện bích 9 năm : Ngài đã là Tổ hơn 60 mươi năm, còn tu thiền định cái gì ! Xin nhắc lại : Ngài đã là Tổ hơn 60 mươi năm, còn tu thiền định cái gì ! Ngài ngồi như chẳng ngồi, diện bích như chẳng diện bích ! Dụng ý chính của ngài là ngồi đó để có người đến cầu thỉnh, xin truyền pháp. Ngài ngồi đó để truyền bá Chánh Pháp Nhãn Tạng của Như Lai !

 

3. Vì sao tưởng lầm Thiền-tông là thiền-định 

 

a) Phật Giáo nước ta bị ngoại đạo lấn át đã 150 năm nay, trở thành suy đồi. Nhất là Thiền-tông trong thời gian này lại càng thoái hóa. Ngày xưa, phải kiến tánh mới được nối pháp làm Tổ một dòng thiền, bấy lâu nay thì không thế : chùa Thiền-tông hầu hết đã đổi sang Tịnh Độ ; có nhiều vị sư tu Tịnh Độ  không biết gì về Thiền-tông mà lại nối pháp làm Tổ một dòng thiền !

 

Thế nên, những vị sư trẻ muốn tu thiền thì phải tự học tự tu. Thường là họ thuộc dòng thiền Lâm Tế, mà tu thiền lại chẳng có thầy, chẳng khác các cư sĩ bao nhiêu. Thiền-tông với thiền-định  đều có chữ <Thiền>, sự ngộ nhận gần như là sự tất nhiên vậy !

 

 Vẫn còn một số chùa Việt Nam tu theo Thiền-tông như trước. Số chùa này không nhiều. Từ 15 năm nay, trong những vị danh tăng quảng bá thiền của nước ta, trong nước cũng như ngoài nước, chỉ có Cố Hòa Thượng Duy Lực là không nhầm lẫn Thiền-tông với thiền-định !

 

b) Phật Tử nước ta, trong hoàn cảnh đó, cũng ngộ nhận Thiền-tông với thiền-định.

Thiền-tông với thiền-định  đều có chữ <Thiền>, sự ngộ nhận, trong hoàn cảnh và thời gian nay, gần như là sự tất nhiên vậy !

 

c) Từ đời Minh, ở Trung Hoa và ở Đại Việt (nước ta bị nhà Minh đô hộ 20 năm), Thiền-tông bắt đầu thoái hóa, sự ngộ nhận Thiền-tông với thiền-định cũng bắt đầu hình thành.

 

4. Mục tiêu Thiền-tông

 

Mục đích cùa Thiền Tông là Kiến Tánh Thành Phật :

       Ngoài giáo truyền riêng

       Chẳng lập văn tự

       Chỉ thẳng tâm người

       Kiến Tánh Thành Phật

       ( Đạt Ma Sư Tổ ) 

hay :

       Ngoài giáo truyền riêng

       Chẳng lập văn tự

       Chỉ thẳng chân-tâm

       Kiến Tánh Thành Phật

       ( Đạt Ma Sư Tổ ) 

 

 

5. Vì sao chẳng tu thiền-định 

 

Kinh Đại Bát Niết Bàn (D B N B)

Lý do chính được tìm thấy trong Kinh Đại Bát Niết Bàn (dịch giả Thích Trí Tịnh), Phật nói :

       Thinh Văn, Duyên Giác vì định lực nhiều nên không thấy Phật Tánh !

Vì định lực nhiều nên không thấy Phật Tánh !

Vì định lực nhiều nên vui trong cảnh giới của định, chẳng muốn thấy Phật Tánh, chẳng tin có Phật Tánh nên không thấy Phật Tánh !

Vì định lực nhiều nên đắc Diệt Thọ Tưởng Định  mà vui trong cảnh giới Không của định này, chẳng muốn thấy Phật Tánh, chẳng tin có Phật Tánh nên không thấy Phật Tánh !

Vì định lực nhiều nên đắc Diệt Thọ Tưởng Định  mà không rời được cảnh giới Không của định này, nên không thấy Phật Tánh !

 

Bởi thế, bàng bạc trong các ngữ lục, các Tổ sư đều khuyến cáo thiền sinh không được <trầm không thủ tịch>. <Trầm không> đây là đắm chìm trong cảnh giới không của định, < thủ tịch> là không rời đươc cảnh tịch diệt của thiền định, nhất là cảnh tịch diệt của A La Hán.

Bởi thế, Thiền-tông chẳng tu thiền-định !

 

Phải đốn ngộ

Kiến Tánh là chứng ngộ Phật Tánh. Trong Thiền Tông, Ngộ là Kiến Tánh.  

Nói cách khác, chỉ có một cách để Kiến Tánh ; đó là Đốn  Ngộ .

Các pháp môn thiền khác của nhà Phật, thỉnh thoảng cũng có sự Ngộ : thường là sự ngẫn nhiên và không bắt buộc !

Trong khi trong Thiền Tông, Ngộ là Kiến Tánh. Bắt buộc phải Ngộ mới Kiến Tánh.

(Vì chẳng có Phương Thức nào có thể chắc chắn đem đến cái Ngộ, nên Thiền Tông còn được gọi là Cửa Không Cửa).

thiền-định  chẳng thể đưa đến Kiến Tánh, Đốn  Ngộ:

       Thinh Văn, Duyên Giác vì định lực nhiều nên không thấy Phật Tánh !

 

 

Tối Thượng Thừa Thiền

Thiền Định làm tâm trở nên "mềm dịu chói sáng" (Kinh điển Nhị Thừa); tâm đây là vọng tâm. Thiền Định trau dồi vọng tâm : khi vọng tâm được đến chỗ không còn phiền não, thì định ở đó, đắc đạo, thành A La Hán !

Thiền Tông đi từ Vọng vào Chân : Chuyển Tâm từ vọng tâm mà thể nhập Chân Như Phật Tánh.

Như thế, Thiền của Thiền Tông hoàn toàn khác hẳn Thiền Định.

 

Cái Chuyển Tâm từ vọng tâm mà thể nhập Chân Như Phật Tánh này là Tối Thượng Thừa Thiền.

 

Thuở Thiền Tông thịnh hành, thiền sinh ngồi thiền sơ sơ thì được, còn ngồi lâu là bị khệnh gậy ! Có khi là bị khệnh gậy thật, có khi là bị khệnh gậy bằng lời như  Mã Tổ được Hoài Nhượng dạy :

       Ngồi thiền đâu thể thành Phật được !

 

6. Thiền Tông tu gì ?

 

Tu để kiến tánh :

Việc tu hành của pháp môn Kiến Tánh dĩ nhiên là tu để kiến tánh và gồm 3 đường lối :

       1) truyền tâm ấn tâm

       2) tự tu bằng Kinh Kim Cang 

       3) khán công án, thoại đầu

 

Đánh thức Phật Tâm thiên cổ dậy

Kiến Tánh là chứng ngộ Phật Tánh, cái Phật Tánh có sẵn trong tâm ta từ vô thỉ : 

       Phật Tánh ẩn tàng A Lại Da

       Nghìn xưa, vô thỉ đã là TA !

       Ngủ khò vạn nẻo luân hồi ấy,

       Khiến người lẩn quẩn cõi Mê Hà-

              (Pháp Ẩn Hiện)  

Do đó, ta cần phải đánh thức Phật Tâm thiên cổ dậy !

       Từ Tổ Ca Diếp tới Tào Khê,

       Ẩn hiện pháp mầu nói ngộ, mê

       Đánh thức Phật Tâm thiên cổ dậy !

       Tỉnh giấc mộng dài, giấc lê thê

              (Pháp Ẩn Hiện)  

Như đã viết ở phần trên, "Tối Thượng Thừa Thiền", sự "đánh thức Phật Tâm thiên cổ dậy" này là Chuyển Tâm, là Tối Thượng Thừa Thiền.

 

Những pháp môn nhà Phật :

  - chẳng có mục tiêu là Kiến Tánh

  - chẳng thể đưa đến Kiến Tánh, trong một kiếp (một đời người)

đều chẳng phải là Thiền Tông !

 

 

7. Đông Sơn pháp môn

 

Thọat kỳ thủy, Thiền Tông không được gọi là Thiền Tông, mặc dù Thiền Tông lúc nào cũng tự xưng là Thiền Tông .

 

Tổ Đạt Ma :

{{ Chỉ một chữ thiền, thánh và phàm chẳng suy lường nổi. 
Thấy thẳng tánh mình thì gọi là thiền. 
Nếu chẳng thấy tánh, tức không phải thiền.  }}


 

Ta có thể đoán rằng : người đời lúc đó, thường gọi Thiền Tông, một cách khiếm nhã, là tông phái của Bà La Môn Đạt Ma. Những người tử tế hơn, thì gọi theo định nghĩa : gọi Thiền Tông là tông phái Kiến Tánh.

 

Tên chính thức đầu tiên của Thiền Tông là Đông Sơn Pháp Môn. Đông Sơn Pháp Môn là tên chính thức vì danh xưng này được cả người trong và ngoài Thiền Tông công nhận.

Người Thiền Tông công nhận vì :

a) Đông Sơn Pháp Môn à Thiền của Ngũ Tổ. Sao lại là Đông Sơn pháp môn ? - Đông Sơn là nơi tọa lạc của Ngũ Tổ.

b) Gọi là Đông Sơn Pháp Môn là cách gọi lễ phép, tôn kính. Xưa nay, để tỏ lòng kính trọng, người Tàu không gọi thẳng tên mà gọi nơi chốn

Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ cũng nói là ngài truyền bá Đông Sơn pháp môn .

 

Xem thế, lúc ban đầu, Thiền Tông chẳng được gọi là Thiền Tông. Bởi vì "Thiền" trong "Thiền-tông" lạ quá, chảng giống thiền-định  chút nào !

 

 

8. Định nghĩa "Thiền" trong "Thiền-tông"

 

Làm thế nào để chứng ngộ Phật Tánh, là Thiền !

 

 

9. Nhị Thừa trụ quán , ta không trụ !

 

Như trên đã viết, "Thiền" trong "Thiền-tông" chảng giống thiền-định  chút nào. Nhưng vì thế nhân khao khát thiền, khao khát thiền định, nên ngay Lục Tổ cũng có giảng về thiền định. Ngài châm chước cái thể, cái dụng của Tánh mà giảng thiền định. Có khi thiền định dùng cho mọi người, có khi dành cho người đã kiến tánh (Thường Định). Dù sao, thiền định của Lục Tổ cũng chẳng phải là thiền định của Phật Pháp Cơ Bản.

Căn bản là lời của Lục Tổ nói : <Trụ tâm quán tịnh là bịnh chẳng phải thiền. Thường ngồi là câu thúc lấy thân> .Và Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn < chẳng luận pháp thiền-định > 

Nên Thiền-tông ta chẳng tu thiền-định, như đã giải thích ở trên. Sự khác biệt giữa Thiền-tông và các pháp môn khác, chính là chỗ này. Vì thế, trong bài thơ "Thiền tông" , tôi có viết :

       Nhị Thừa trụ quán , ta không trụ !

       Bồ Tát tế độ, ta tế tâm

Thiền Tông  dùng câu

       Không trụ vào đâu cả !

trong Kinh Kim Cang, làm tông chỉ.

 

 

-------  -------   -------

 

Lúc ban đầu, pháp môn kiến tánh chẳng được gọi là Thiền Tông. Bởi vì "Thiền" trong "Thiền-tông" lạ quá, chảng giống thiền-định  chút nào ! Trong một thời gian dài, Thiền Tông được gọi là Đông Sơn pháp môn, vì Đông Sơn là nơi tọa lạc của Ngũ Tổ. Khi Thiền Tông được bành trướng mạnh, ngự trị Phật Giáo Ta và Tàu , thì Thiền Tông mới được gọi là Thiền Tông.

Ở nước ta, đã 150 năm nay, Thiền Tông trở thành suy đồi. Thiền-tông với thiền-định  đều có chữ <Thiền>, sự ngộ nhận gần như là sự tất nhiên vậy !

 

Thiền-tông chẳng tu thiền-định ! Lý do chính được tìm thấy trong Kinh Đại Bát Niết Bàn (dịch giả Thích Trí Tịnh), Phật nói :

       Thinh Văn, Duyên Giác vì định lực nhiều nên không thấy Phật Tánh.

Và trong Kinh Kim Cang, kinh Thiền Tông  từ đời Ngũ Tổ, Phật dạy :

       Không trụ vào đâu cả !

Đây chính là yếu chỉ Thiền-tông !

Thiền Tông đi từ Vọng vào Chân : Chuyển Tâm từ vọng tâm mà thể nhập Chân Như Phật Tánh. Không trụ, không dùng thiền định !

Chính vì vậy, Lục Tổ nói :

       Trụ tâm quán tịnh là bịnh chẳng phải thiền. 

Và do đó, trên Trang Nhà Kiến Tánh, bài thơ "Thiền-tông" có câu :

       Nhị Thừa trụ quán , ta không trụ !

Tôi viết bài thơ "Thiền-tông" để xác định tông chỉ Thiền-tông  vậy./.

 

Lê Anh Chí

 

 
    Thoi Nay Montreal - Giai Tri va Doi Song

Mục lục

Phật Giáo và Khoa Học

Tông phái : Thiền - Mật - Tịnh

Bước đầu học Phật

Kinh

Luật

Luận

   
 

Copyright © 2011 | TN InfoWay