| |
Thiền Sư: S.N. Goenka
TN. Hằng Liên dịch
Mọi người luôn tìm cầu cái toàn thiện an
vui và hòa hợp, bởi vì cuộc sống chúng ta
thiếu sự trọn vẹn như vậy. Thỉnh thoảng,
ai cũng có những nỗi ưu phiền, bực tức,
bất an và đau khổ; Khi đau khổ vì phiền
muộn, chúng ta khó có thể kiềm chế chính
mình và thường gây bất an cho người khác.
Tần sóng buồn phiền này bao quanh môi
trường người đang đau khổ, đến nổi bất cứ
ai đến tiếp xúc với anh ta đều trở nên ưu
tư và tức giận. Đây chắc chắn không phải
là lối sống lành mạnh.
Ngược lại, một người sống an vui thường
mang lại niềm an vui cho người khác. Đúng
hơn, vì con người là một thành viên của xã
hội, anh ta phải sống trong xã hội mình
đang sống và giao tiếp với mọi người. Vậy,
sống an vui bằng cách nào? Làm sao chính
mình luôn sống hòa hợp và cách bảo tồn sự
hòa hợp, an vui xung quanh để mọi người
cùng sống an vui và hòa hợp?
Khi phiền muộn, muốn hết buồn phải biết rõ
nguyên nhân chủ yếu của nó cũng chính là
nguyên nhân đau khổ. Nếu quán xét vấn đề,
tự mình sẽ hiểu rõ ràng rằng bất cứ lúc
nào trong tâm sanh khởi niệm bất thiện
hoặc không tốt thì chắc chắn sẽ có phiền
muộn. Các tâm niệm xấu, không thanh tịnh
hoặc ô nhiễm (bất thiện) không bao giờ có
mặt chung với tâm an vui và hòa hợp.
Tâm tánh xấu phát sanh như thế nào? Chỉ có
quán xét mới hiểu rõ được điều ấy. Tôi
không vui, khi ai đó cư xử với tôi không
như ý hoặc có việc đáng ghét xảy ra. Các
vấn đề không mong muốn xảy ra khiến tôi
cảm thấy căng thẳng; Mơ ước không thành
tựu hoặc gặp chướng ngại trên đường đời
cũng khiến tinh thần tôi căng thẳng. Cứ
như thế, tôi bắt đầu cột gút (hay chất
chứa ưu phiền) trong tâm chính mình! Xuyên
suốt cuộc đời, điều không mong đợi cứ liên
tục xảy ra, còn điều ao ước thì có thể
hoặc không thể xảy ra, và chính quá trình
phản ứng trái nghịch này, một tiến trình
thắt nốt những gút mắc của cuộc đời (tức
là trói buộc theo “ý muốn của tôi”[1])
khiến cho toàn bộ cơ cấu thân tâm tràn
ngập ưu phiền và căng thẳng. Vì thế, cuộc
sống trở nên đau khổ.
Bây giờ, tìm cách giải quyết vấn đề là suy
tính sao cho cuộc đời của mình không gặp
điều bất trắc và mọi việc phải luôn luôn
diễn ra như ý muốn. Chúng ta phải tự mình
phát triển một quyền lực hoặc người nào có
khả năng này đến giúp chúng ta theo như
yêu cầu, từ đó cuộc sốâng của mình sẽ
không còn gặp điều nghịch ý và mọi vấn đề
luôn diễn ra như mong đợi. Nhưng đây là
điều không thể có được! Trên đời này,
không có ai luôn luôn thành tựu ước nguyện
cuộc sống sẽ trọn vẹn như ý và không bao
giờ gặp nghịch cảnh. Cuộc sống vốn không
như ý, vậy làm thế nào để không phản ứng
mù quáng theo bản năng? Phương cách nào
giúp tinh thần không bị căng thẳng? Và làm
sao duy trì sự sống an vui và hòa hợp?
Từ thời xa xưa, các bậc thánh nhân ở Ấn Độ
cũng như ở các quốc gia khác đã từng suy
tầm về vấn đề này và cũng là vấn đề đau
khổ của chúng sanh. Họ đã tìm ra giải pháp
rằng, nếu có sự việc nào đó không vừa ý
xảy ra, con người thường có phản ứng sân
giận, sợ hãi, hoặc với tâm xung đột nào đó.
Ngay tức khắc hãy chuyển tâm chú ý hướng
về một đối tượng khác, chẳng hạn như đứng
dậy, lấy một ly nước, bắt đầu uống; tâm
giận dữ sẽ không tăng trưởng và chúng ta
sẽ vượt qua cơn tức giận ấy. Hoặc bắt đầu
niệm số đếm: một, hai, ba, bốn. Hoặc niệm
một danh hiệu, một châm ngôn hay một câu
thần chú nào đó. Sự thực hành này sẽ dễ
dàng hơn nếu chúng ta niệm danh hiệu một
vị thần linh hoặc một bậc thánh mà chúng
ta tín ngưỡng, tâm sẽ được chuyển hướng và
đến mức độï nào đó chúng ta sẽ thoát khỏi
tâm bất thiện và giận dữ.
Giải pháp này có kết quả tốt, hữu ích và
vẫn được hữu dụng. Thực hành phương pháp
này, tâm chúng ta sẽ không còn phiền muộn.
Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp có hiệu
quả trên bề mặt ý thức. Thật ra, với cách
chuyển hướng tâm chú ý, chúng ta vô tình
đè nén tâm xung đột đi sâu vào tầng vô
thức và chính trong chiều sâu vô thức này,
tâm niệm xấu tiếp tục tái tạo và tăng
trưởng. Ngoài mặt ý thức, chúng ta đã tạo
được sự an vui và hòa hợp, nhưng bên trong
nội tâm vô thức ngọn núi lữa xung đột bị
đè nén đang ngủ ngầm, nó liên tục hoạt
động và thỉnh thoảng sẽ bùng nổ mãnh liệt
hơn.
Có những khám phá về sự thật nội tâm uyên
thâm hơn đối với giải pháp vừa nêu trên và
bằng kinh nghiệm thực chứng bên trong thân
tâm chính mình, họ đã nhận thức rằng
chuyển hướng tâm chú ý chỉ là chạy trốn
vấn đề. Tránh né không phải là giải pháp
thiết thực mà chúng ta phải đối diện với
sự thật vấn đề. Bất cứ khi nào phát sanh
tâm niệm xấu, chúng ta chỉ việc quan sát
và trực diện với nó. Ngay khi quan sát tâm
bất thiện sanh khởi, nó bắt đầu mất đi khả
năng phản ứng, dần dần bị chế phục và sẽ
được đoạn trừ hoàn toàn.
Phương pháp lợi ích thiết thực là tránh xa
cả hai cực đoan đè nén và buông thả. Kiềm
chế tâm bất thiện bên trong vô thức sẽ
không diệt trừ được nó mà còn cho phép nó
biểu hiện qua các hành động thân thể hoặc
ngôn ngữ sẽ tạo nên nhiều phiền phức hơn.
Nếu bình thản quan sát, tâm ô nhiễm này tự
nhiên biến mất và như thế chúng ta sẽ đoạn
trừ và giải thoát khỏi các tánh xấu ấy.
Phương pháp này có vẻ hay thật, nhưng thực
sự có thể hành trì được không? Khi giận dữ
sanh khởi, nó chế ngự tâm mình quá nhanh
đến nổi chúng ta không kịp nhận thức.
Trong lúc mất tự chủ vì giận dữ, chúng ta
chắc chắn hành động với lời nói hoặc chân
tay làm tổn thương chính mình và người
khác. Sau đó, khi cơn giận qua đi chúng ta
chỉ biết than khóc và ân hận, đi xin lỗi
người này, người kia hoặc than Trời, “Ôi!
tôi đã lỡ phạm sai lầm, xin tha thứ cho
tôi!” Nhưng rồi lần kế tiếp, trong một
tình huống tương tự, chúng ta lại phản ứng
sai lầm giống hệt như vậy. Tất cả điều đó,
ăn năn sẽ không giúp ích gì được.
Điều khó khăn là chúng ta không tỉnh giác
khi các tánh xấu sanh khởi. Nó trổi dậy từ
bên trong sâu lắng của tâm vô thức và khi
biểu hiện với ý thức, nó đã tăng trưởng
quá mạnh hoàn toàn khống chế chính mình và
chúng ta không thể quan sát nó.
Như vậy, chúng ta nên có một thư ký riêng
để bất cứ lúc nào sân giận nổi lên thì anh
ta liền nói: “Thưa Ngài, hãy xem kìa cơn
giận đang bắt đầu!” Do chúng ta không biết
giận dữ sẽ phát sanh lúc nào, nên phải có
ít nhất ba thư ký riêng để thay đổi suốt
ngày, hoặc tốt hơn là bốn người thay phiên
nhau trong các ngày nghĩ phép.
Giả sử chúng ta theo cách có thư ký phục
vụ và mỗi khi cơn thịnh nộ xảy ra, lập tức
người thư ký sẽ báo cho chúng ta biết: “Ồ
thưa Ngài, nhìn xem cơn giận đã bắt đầu!”
Nhưng điều đầu tiên chúng ta hành động có
thể là đánh anh ta một bạt tai và mắng
rằng: “Đồ ngu! Anh nghĩ rằng tôi trả lương
cho anh đến đây để dạy tôi à?” Đang lúc
sôi gan vì tức giận thì không còn lời
khuyên bổ ích nào có thể giúp chúng ta
trong lúc ấy.
Giả sử khi đó, chúng ta vẫn còn minh mẫn
và không bạt tai anh ta. Thay vì mắng anh,
chúng ta sẽ nói: “Cám ơn anh rất nhiều,
bây giờ tôi phải ngồi xuống và quan sát
giận dữ.” Tuy nhiên, điều này có thể thực
hành được không? Ngay khi nhắm mắt lại và
cố gắng quan sát giận dữ, tức khắc trong
tâm chúng ta hiện lên đối tượng của sự
giận dữ có thể là một người hoặc biến cố
nào đó khiến chúng ta nỗi cơn giận. Chúng
ta không quan sát giận dữ mà đúng hơn là
đang tìm hiểu những tác nhân xúc cảm bên
ngoài. Điều này chỉ làm gia tăng cơn giận
dữ và đây không thể là giải pháp ổn thỏa.
Thật vô cùng khó khăn nếu phải quan sát
tâm bất thiện vô hình, một xúc cảm trừu
tượng được tách rời với đối tượng bên
ngoài khuấy động nó.
Tuy nhiên, bậc toàn giác, người chứng ngộ
về sự thật tuyệt đối đã tìm ra một phương
pháp thiết thực. Ngài khám phá rằng bất cứ
lúc nào trong tâm sanh khởi niệm bất thiện,
sẽ có hai sự kiện tâm lý đồng thời xảy ra.
Trước nhất là hơi thở chúng ta sẽ mất đi
nhịp thở bình thường. Chúng ta sẽ thở mạnh
hơn khi trong tâm bắt đầu có xung đột. Đây
là một sự thật mà mọi người đều có thể
nhận biết, cho dù chúng ta có thể nghĩ
rằng hơi thở là sự kiện sinh lý hiển nhiên
và thô thiển. Cũng vậy, ở mức độ vi tế hơn,
có một sự phản ứng sinh hóa ‘duyên khởi’
bên trong thân thể, đó là các cảm thọ. Mỗi
tâm bất thiện sẽ tạo nên một loại cảm thọ
sai khác bên trong, ở bộ phận này hoặc
thân phần khác của thân thể.
Đây là một phương pháp thực tiễn. Một
người bình thường không thể quan sát các
tâm sở bất thiện vô hình; vì sợ hãi, sân
giận và tham muốn đều là các tâm lý trừu
tượng. Nhưng với sự thực hành và tập luyện
đúng phương pháp, thì rất dễ dàng quan sát
cả hơi thở lẫn cảm thọ có liên quan trực
tiếp đối với các tâm lý bất thiện.
Hơi thở và cảm thọ sẽ giúp chúng ta trên
hai phương diện; trước nhất, chúng là
những thư ký đắc lực của chính mình. Ngay
khi trong tâm sanh khởi niệm bất thiện,
hơi thở không điều hòa bình thường và sẽ
lên tiếng báo động rằng: “chú ý, có điều
gì đó bất ổn!” chúng ta không thể đánh vào
hơi thở mà phải chấp nhận lời cảnh báo.
Tương tự, các cảm thọ sẽ cấp báo: “có vấân
đề không ổn.” Chúng ta phải chấp nhận hiệu
báo và tỉnh giác quan sát hơi thở cùng các
cảm tho. Không bao lâu chúng ta sẽ nhận
thấy rằng tâm bất thiện bị tiêu diệt.
Hiện tượng tâm sinh lý này giống như một
đồng tiền có hai mặt. Một mặt là các tư
tưởng hoặc cảm xúc sanh khởi trong tâm,
còn mặt kia là hơi thở và cảm thọ trong
thân. Bất cứ tư tưởng hoặc cảm xúc, ý thức
hoặc vô thức, hay là tâm bất thiện nào đều
biểu hiện qua hơi thở và cảm thọ ngay lúc
nó sanh khởi. Như vậy, với sự quan sát hơi
thở và cảm thọ, chúng ta sẽ gián tiếp quan
sát tâm bất thiện. Thay vì tránh né vấn đề,
chúng ta hãy đối diện với bản chất thật
‘chính nó’, tâm bất thiện sẽ mất đi khả
năng hiện khởi và không còn khống chế
chúng ta như trước đây nữa. Nếu kiên trì
thực hành, tâm bất thiện nhất định sẽ được
đoạn trừ và chúng ta sẽ duy trì sự sống an
vui và hạnh phúc.
Phương pháp tự mình quán chiếu sẽ giúp
chúng ta nhận chân được bản chất thật trên
hai phương diện bên trong và bên ngoài.
Trước đây, chúng ta luôn luôn nhìn sự vật
bằng nhãn quan thông thường bên ngoài nên
không thể nhìn thấy được sự thật bên trong.
Chúng ta chỉ tìm thấy các nguyên nhân đau
khổ bên ngoài, đỗ lỗi tại chúng và cố gắng
làm thay đổi cái nguyên nhân bên ngoài này.
Do vô minh bao phủ bản chất thật bên trong,
chúng ta không bao giờ nhận thức được
nguyên nhân đau khổ bắt nguồn bên trong từ
các phản ứng mù quáng của cá nhân.
Như đã biết, rất khó quan sát tâm bất
thiện vô hình khi nó sanh khởi, nhưng bây
giờ nhờ tập luyện, chúng ta có thể nhìn
thấy mặt trái của đồng tiền. Chúng ta có
thể tỉnh giác từng hơi thở và hiểu rõ mọi
hoạt động đang diễn ra bên trong chính
mình. Bất luận điều gì xảy ra, chúng ta
chỉ việc chú tâm quan sát hơi thở hoặc các
cảm thọ, không đánh mất trạng thái cân
bằng của tâm. Chúng ta sẽ ngăn cản đau khổ
phát sanh bằng cách, thay vì cho phép
chúng hiện khởi, tâm bất thiện tự nó tiêu
diệt.
Càng
hành trì chúng ta càng nhanh chóng giải
thoát thỏi các phiền não. Dần dần từng
bước, tâm sẽ chuyển hóa thanh tịnh và giải
thoát hoàn hoàn khỏi các lậu hoặc (tâm uế
nhiễm). Đó là tâm thanh tịnh luôn dạt dào
tình yêu thương muôn loài không phân biệt;
tràn đầy lòng từ bi đối với kẻ đang đau
khổ hay thất bại; chứa chan niềm hoan hỷ
đối với người đang thành công và hạnh phúc;
hoàn toàn buông xả khi phải đối diện với
bất cứ hoàn cảnh nào.
Người thực hành đạt đến giai đoạn này thì
toàn bộ lối sống của anh ta trở nên thay
đổi hoàn thiện. Anh ta không thể còn các
hành động chân tay hoặc ngôn ngữ làm tổn
thương hạnh phúc và an vui của người khác.
Thay vào đó, người có tâm quân bình không
những tự mình sống an vui mà có thể giúp
người khác cũng sống an vui. Môi trường
xung quanh người ấy thấm nhuận niềm an vui,
hòa hợp và ảnh hưởng đến mọi người cùng
sống vui tươi như vậy.
Đây là những gì đức Phật đã dạy cho chúng
ta: đó là ‘một nghệ thuật sống’! Ngài chưa
bao giờ thiết lập hay giảng dạy bất kỳ tôn
giáo hay giáo phái nào. Ngài cũng không
hướng dẫn các đệ tử hành trì theo các nghi
lễ hoặc nghi thức cúng tế mù quáng và
trống rỗng. Thay vì như vậy, Ngài giảng
dạy chỉ nên quan sát sự thật ‘duyên khởi’
trong tự tánh, tức là quán chiếu bản chất
thật của nội tâm. Do vô minh (không tỉnh
giác) chúng ta thường hành động phản ứng
theo bản năng làm hại chính mình và người
khác.
Khi trí tuệ sanh khởi – trí tuệ quán chiếu
tự tánh như thị – chúng ta sẽ thoát khỏi
thói quen phản ứng này. Một người không
còn phản ứng mù quáng sẽ có khả năng hành
động chính đáng, một hành động xuất phát
từ tâm bình thản và buông xả, có hiểu biết
và nhận chân được sự thật. Hành động như
vậy, con người sẽ sống lành mạnh, sáng tạo,
lợi ích cho bản thân và mọi người.
Điều cần thiết là phải tự mình hiểu biết,
đó là lời khuyên của các bậc có trí. Người
hiểu biết chính mình không phải dựa trên
kiến thức tư tưởng và học thuyết. Điều này
cũng không có nghĩa là sự hiểu biết mang
tính cảm xúc hay tín ngưỡng, chỉ mù quáng
chấp nhận theo những gì nghe nói hoặc đọc
qua sách vở. Kiến thức hiểu biết như vậy
quả thật chưa đủ.
Thật ra, muốn nhận biết bản chất sự thật
phải có sự thực nghiệm. Chúng ta phải trực
tiếp chứng nghiệm sự thật ấy qua hiện
tượng tâm sinh lý của chính mình. Đây là
điều duy nhất giúp chúng ta đoạn trừ các
phiền não và giải thoát khỏi đau khổ.
Thực nghiệm tự tánh, một phương pháp quán
chiếu chính mình được gọi là thiền ‘tuệ
quán’ (vipassana). Vào thời đức phật, theo
ngôn ngữ Ấn Độ ‘passana’ có nghĩa là nhìn
thấy bằng nhãn quan thông thường, nhưng
‘vipassana’ là phương pháp quan sát vạn
vật ‘duyên khởi’ như bản chất thật chính
nó (tự tánh như thị), chứ không phải ‘được
cho là’ (kiến tánh phân biệt). Một khi
chúng ta chứng đạt sự thật tối thượng trên
toàn bộ cơ cấu thân tâm, thì chân lý hiển
nhiên sẽ được liễu ngộ. Chứng nghiệm được
sự thật này, chúng ta sẽ không phản ứng mù
quáng, ngừng tạo phiền não và tự nhiên các
lậu hoặc trong quá khứ cũng dần dần được
đoạn tận. Chúng ta sẽ giải thoát khỏi các
đau khổ và chứng nghiệm hạnh phúc.
Trong khóa tu thiền luôn có ba giai đoạn
huấn luyện. Đầu tiên, thiền sinh phải ngăn
chặn các hành động thân và khẩu khuấy
nhiễu sự an vui và hòa hợp của người khác.
Thiền sinh không thể tự mình giải thoát
khỏi các phiền não trong tâm, nếu vẫn còn
tạo tác các hành động làm gia tăng phiền
não. Vì thế, giới luật là bước thực hành
đầu tiên căn bản. Thiền sinh phải nghiêm
trì các giới cấm không sát sanh, không
trộm cướp, không tà dâm, không nói dối và
không dùng các chất có men say. Nhờ hành
trì phạm hạnh, thiền sinh có khả năng
chuyển tâm bước vào trạng thái tỉnh lặng.
Bước kế tiếp là phát triển khả năng chế
ngự tâm hoang tưởng bằng cách tập luyện
tâm chuyên nhất cố định vào đối tượng ‘hơi
thở.’ Thiền sinh cố gắng duy trì sự chú
tâm vào hơi thở bao lâu tùy theo khả năng.
Đây không phải là sự tập luyện hơi thở.
Thay vì điều hòa hơi thở, thiền sinh nên
quan sát hơi thở tự nhiên như chính nó,
‘tự tánh hơi thở vào, tự tánh hơi thở ra’.
Với phương pháp hành trì này, tâm thiền
sinh không bao lâu sẽ trở nên an tỉnh cho
đến khi thuần hóa các tâm xung đột bất
thiện. Đồng thời, thiền sinh hướng tâm sâu
hơn vào định tỉnh, nhạy bén và thuần hóa,
có khả năng quán chiếu bản chất sự thật
nội tâm.
Hai bước hành trì đầu tiên sống phạm hạnh
và diều phục tâm vô cùng thiết yếu và lợi
ích, nhưng chúng sẽ hướng tâm đi đến sự ức
chế ‘tự ngã’, trừ phi thiền sinh thực hành
bước thứ ba kế tiếp: thanh lọc tâm uế
nhiễm bằng cách phát triển khả năng nhận
thức bản chất ‘tự tánh’ chân thật của
chính mình. Phương pháp nhận chân sự thật
này là thiền tuệ quán “vipassana”, một
tiến trình thể nghiệm bản chất thật tự
tánh bằng cách quán chiếu có hệ thống và
bình thản trước hiện tượng biến đổi không
ngừng của thân tâm thể hiện qua các cảm
thọ bên trong chính mình. Đây là điều tối
thượng trong lời dạy của đức Phật, ‘chính
mình thanh tịnh bằng cách tự quán chiếu’.
Mọi người ai cũng có thể thực hành phương
pháp này. Bịnh ‘khổ’ không phân biệt giáo
phái, vì thế phương thuốc trị liệu cũng
không thể có giáo phái mà ắt hẳn là phương
thuốc chung. Trên thế gian này, mọi người
đều phải đối diện với vấn đề đau khổ. Khi
người ta đau khổ vì sân hận, sẽ không có
sự sân giận thuộc Phật giáo, sân giận
thuộc Ấn giáo, sân giận thuộc Thiên Chúa
giáo, sân hận là sân hận. Do sân hận, con
người trở nên phiền muộn, không có sự phân
biệt phiền muộn Thiên Chúa giáo, Ấn giáo
hay Phật giáo. ‘Đau khổ là căn bịnh chung
của chúng sanh thì phương pháp ‘thoát khổ’
sẽ được thực hành chung cho tất cả mọi
người.
Như vậy, thiền tuệ quán ‘vipassana’ chính
là phương pháp hành trì chung cho tất cả
mọi người. Không có ai sẽ phản đối nguyên
tắc sống tôn trọng sự an vui và hòa hợp
của người khác. Cũng sẽ không có ai phản
đối việc thực hành phát triển chế ngự tâm
hay phát triển phương pháp thiền quán bên
trong bản chất thật của tự tánh và nhờ đó
tâm có thể giải thoát khỏi các điều xấu
xa. Đây là lộ trình giải thoát chung không
mang tính giáo điều và tín ngưỡng trong
niềm tin mù quáng.
Quán chiếu bản chất thật ‘như thị’ là tiến
trình tuệ quán sự thật bên trong nội tâm
với tự thân nhận chân và chứng nghiệm như
thật. Nhờ hành trì ‘thiền quán’ chúng ta
sẽ thoát khỏi các phiền não và đau khổ. Từ
sự thật hiển nhiên bên ngoài, cảm thọ thô;
chúng ta sẽ ‘liễu ngộ’ thông suốt sự thật
tối thượng bên trong thân tâm. Vượt xa hơn
sự thật này, chúng ta sẽ chứng nghiệm sự
thật siêu thoát vượt qua giới hạn của thân
và tâm, thời gian và không gian, cũng như
thế giới duyên sinh tương đối. Đây là chân
lý giải thoát hoàn toàn khỏi tất cả các
lậu hoặc, tâm uế nhiễm và đau khổ. Chứng
đạt như vậy, bất luận điều gì chúng ta cho
là sự thật tối thượng không còn liên quan
nữa, đó là mục đích cuối cùng của tất cả
mọi người.
Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh chứng
nghiệm được chân lý tối thượng!
Cầu nguyện cho tất cả mọi người đều giải
thoát khỏi các phiền não và đau khổ!
Cầu nguyện cho nhân loại thực sự chung
hưởng cảnh sống an vui, hòa hợp và hạnh
phúc!
Dịch từ D.C. Ahir, (ed.) Vipassana: A
Universal Buddhist Technique of
Meditation,
(India: Sri Satguru Publications, 1999),
pp. 21-28.
_____
[1] Theo danh từ Phật học gọi là “ngã sở
hữu chấp”, có nghĩa luôn chấp thủ theo
kiến giải phân biệt của tự ngã. Tùy theo
chủng tử nghiệp, mỗi người có những ý thức
phân biệt đúng sai, thương ghét, được mất,
vui buồn theo cá nhân và khi tiếp xúc với
đối tượng bên ngoài sẽ có các phản ứng
tương phản do bản năng chấp thủ của tự
ngã. |
|