| |
Chúng ta thường nghe rằng ở Phương Tây (của
cảnh giới này, không phải Tây phương là Mỹ
châu, Âu châu so với Á châu) có một cảnh
giới trang nghiêm thanh tịnh tên gọi là Tây
Phương Cực Lạc do những lời phát nguyện cao
thượng của ngài A-Di-Đà (Amitabha) mà tựu
thành. Theo Kinh A-Di-Đà, cõi đó hoàn toàn
khác hẳn với cõi giới mà chúng ta đang sống
là cõi Ta Bà vốn đầy phiền trược và rất
không hoàn hảo.
Có thể nói cõi A-Di-Đà là một cõi giới lí
tưởng mà hầu hết những Phật tử Tịnh Độ muốn
sanh về. Vì sao? Ở thế giới này chúng ta
được sanh ra vì sự tác hợp giữa cha mẹ, phải
trải qua chín tháng mười ngày trong bụng mẹ
vốn rất chật chội, gò bó và đầy bất tiện cho
cả mẹ và con, khi sanh cả hai mẹ con lại
phải chịu đựng bao đau đớn, sợ hãi; trong
khi đó ở cõi Tây Phương Cực lạc nguyện giả (người
phát nguyện sanh lên cõi đó) được hoá sanh
trong hoa sen, biểu tượng của sự thanh tịnh
và vượt lên trên mọi ô trược.
Ở đây
chúng ta phải học hỏi, tập tành để có thể
làm việc và kiếm sống, để có được miếng cơm,
manh áo và mái nhà chúng ta phải làm việc
cực nhọc, dành dụm và lo toan; nhưng ở đó
khi muốn gì nguyện giả chỉ cần khởi ý niệm
về điều đó, và ngay lập tức thức ăn, nước
uống, vv hiện ra; ăn xong không phải rửa
chén bát, điều này thật tuyệt vời cho những
phụ nữ suốt ngày phải vùi mình trong bếp núc
và những cô / chú điệu trong chùa với những
đống chén bát nồi niêu phải dọn rửa sau mỗi
kỳ lễ lạc!
Ở đây chúng ta phải tu
tập trong những điều kiện chẳng lấy gì làm
dễ chịu, đôi khi còn bị khinh chê, phỉ báng
và chế diễu nữa; nhưng ở đó vật chất được
làm bằng bảy báu như vàng ngọc, lưu ly, vv
với những con chim hót ca nhắc nhở về Ba
Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo để nguyện giả tiếp tục
tu hành và không bao giờ thối lui. Ờ đó mọi
người đều tu hành và hoan hỉ với phước báu
của nhau, không như ởđây chúng sanh đầy sân
si, ghanh tị, đố kỵ, tham lam, vv.
Chắc chắn khi được giới thiệu về một cảnh
giới lý tưởng như vậy ai cũng "ham" muốn
sanh lên ở đó. Vì sao? Điều này quá dễ dàng:
ai mà không thích sự dể dàng sung sướng với
những điều kiện có vẻ như rất dễ dãi mà Kinh
A-di-Đà đưa ra! Ngay cả suốt đời bê tha, làm
ác đầy rẫy nhưng khi chết biết hồi tâm cảnh
tỉnh và có người hộ niệm cho là cũng có thể
thoát khỏi đoạ đày, được sanh lên cõi Cực
lạc. Dễ vậy ai mà không ham?
Chúng ta thấy rằng những gì được vẽ lên
trong kinh A-Di-Đà hầu như đều đối ngược với
những gì mà chúng ta cho là bất toàn và đau
khổ ở thế giới này. Phải chăng ý định của
tác giả là muốn giới thiệu cho những chúng
sanh đang đắm say trong thế giới này biết
rằng những gì họ đang bám víu vào, đang
tranh giành, đang hưởng thụ chẳng có gì là
hay ho tốt đẹp cả; rằng có một thế giới khác
tốt đẹp hơn nhiều, hãy hướng tâm đến đó. Làm
như vậy ít nhiều những chúng sanh này sẽ
thấy rằng ngũ dục lạc thú mà họ đang cố công
tìm kiếm, đang hơn thua giành giật, hay may
mắn hơn, đang hưởng thụ một cách tự mãn thật
ra chẳng có gì đáng phải lao tâm khổ tứ để
đạt được.
Khi tầm nhìn và khái niệm về hạnh phúc của
người ta bị hạn chế trong một khung trời bé
nhỏ họ không có gì nhiều để so sánh, để ước
mơ. Nhưng khi được giới thiệu về những khung
trời khác rộng lớn hơn và hoàng tráng hơn,
đẹp đẽ hơn và đáng mơ ước hơn, họ sẽ bớt bám
víu vào những gì ít giá trị mà họ đang cố
công, thậm chí tuyệt vọng bám níu. Công dụng
này của cảnh giới Cực Lạc, theo kinh Pháp
Hoa, là một thứ đồ chơi mà người cha từ bi
đem ra để dụ đám con trẻ đang mải mê say sưa
trong "ngôi nhà lửa". "Ngôi nhà lửa" chính
là thế gian này. Và gì là thế gian? Đó chính
là thân tâm này và những gì mà chúng ta đang
kinh nghiệm. Hãy nghe Bậc Đạo Sư miêu tả về
thế gian này:
"Mắt đang bốc cháy; hình sắc (đôí tượng của
mắt, ưu hay không ưu) đang bốc cháy; nhận
thức qua mắt đang bốc cháy. Tai đang nóng
bỏng; âm thanh (đối tượng mà tai hằng tiếp
nhận với sự thích thú hay khó chịu) đang
thiêu đốt; nhận thức qua tai đang thiêu đốt.
Mũi đang hừng hực; hương (đối tượng cảm xúc
của mũi) đang bùng cháy; nhận thức qua mũi
đang bùng cháy. Lưỡi đang cháy bỏng; vị giác
đang thiêu đốt; nhận thức qua lưỡi đang tiêu
đốt. Thân đang nóng ran; xúc (đối tượng mà
thân cảm nhận, êm ái dễ chịu hay thô tháp
khó ưa) đang thiêu đốt; nhận thức qua thân
đang bốc lửa. Tâm đang nóng cháy; ý tưởng (đối
tượng của tâm) đang thiêu đốt; tâm thức đang
nung đốt." [1]
Lửa ở đây dụ cho tham, sân, si, ba thứ phiền
não chính đã dẫn dắt chúng ta đến thế giới
này để rồi lòng vòng quanh quẩn trong đó
không biết lối ra. Thế gian chính là thân
tâm chúng ta và những gì chúng ta kinh
nghiệm thông qua các giác quan. Vì chúng ta
vẫn quen phản ứng với ngoại cảnh bằng tham,
sân, si: tham sanh khởi khi đối tượng làm
chúng ta cảm thấy hài lòng, thích thú; sân
sanh khởi khi ta cảm thấy đối tượng khó ưa,
chướng tai, gai mắt, thô thiển...; si sanh
khởi khi không có gì đáng ưa đáng ghét, cảm
giác trung tính dẫn đến sự nhàm chán tẻ nhạt
và lơ đãng.
Nhưng phải chăng Đức Phật bảo chúng ta phải
trốn tránh, "bỏ chạy" khỏi cái thế gian này
và tìm kiếm một thế giới khác xinh đẹp, đáng
yêu và thanh tịnh hơn? Nếu quả thật như vậy
chư Tổ đã không khẳng định rằng:
"Phật pháp tại thế
gian. Bất ly thế gian giác". Ở
đây "thế gian" cần được hiểu theo hai nghĩa:
thế gian bên trong và thế gian bên ngoài.
Như đoạn trên chúng ta đã nói về thế gian
nội tại (bên trong), điều mà chúng ta phải
thấy và đối diện để chuyển hoá. Chỉ khi
chúng ta thấy nó là khổ, bất toại nguyện, và
không hoàn hảo, chúng ta mới thôi bám víu,
vui thú hay tự mãn trong đó. Không nhiều
người thấy được sự bất toàn của thế gian này.
Chúng sanh phần lớn như những con thiêu thân
lao nay vào bóng đèn chói loà để tìm lấy cái
chết cho chính mình.
Thế gian bên ngoài hay ngoại tại, ngoại cảnh
mà chúng ta tiếp xúc, tương tác và nhận thức
qua sáu căn là một thế giới tồn tại tương
đối độc lập với với những nhận thức chủ quan
và cảm tính của chúng ta. Nghĩa là không thể
bằng sự mong cầu, ước ao hay khấn nguyện mà
sự vật hay tình thế có thể thay đổi như mong
ước của chúng ta. Có thể chăng một người
ngồi trên đường cao tốc rồi khấn nguyện: "xin
cho các loại xe đừng va / đè vào tôi, xin
cho tôi tránh khỏi tai nạn!" Đường cao tốc
là nơi mà các loại xe chạy với tốc độ cao,
muốn tránh khỏi tai nạn người ta phải biết
luật lệ đi đường, hay tìm một chỗ khác ít
rủi ro hơn mà ngồi.
Cũng
như vậy nếu chúng ta không tu tập, không tự
soi chiếu một cách sáng suốt và khách quan
vào những tiến trình tâm -sinh -vật lý đang
vận hành trong ta và quanh ta để thấy biết
chúng và những qui luật vận hành của chúng
thì mãi mãi chúng ta chỉ bị đẩy đưa theo
dòng nghiệp lực và hoàn cảnh.
Làm sao một cái tâm
mơ mơ màng màng, thiếu tu tập và đầy phiền
não có thể mong một nơi tái sinh tốt đẹp,
mong được giải thoát giác ngộ trong phút
chốc? Điều này cũng giống như một đứa trẻ
không chịu học để nhận diện mặt chữ và làm
các phép tính đơn giản trước mà cứ nằng nặc
đòi "con học đại học cơ, con không học cấp
một, cấp hai đâu", sự đòi hỏi ngây ngô của
đứa trẻ có thể hiện thực không?
Khi được hỏi có thể bằng sự nguyện cầu thiết
tha hay bằng lễ lạt trang nghiêm để đạt được
thanh tịnh và giải thoát không, Đức Phật đã
cho một ẩn dụ như sau:" Có một người muốn
qua sông nhưng ông ta chỉ ngồi bên này bờ
sông rồi cầu nguyện: Ô, bờ kia, hãy sang bên
này!", dù người này có khấn nguyện cả đời
mình như vậy, có thể nào ông qua sông bằng
cách đó không?" Tất nhiên là không. Cũng như
vậy, với thân khẩu ý đầy phàm phu nghiệp
chướng và luôn bị thôi thúc sai sử bởi tham,
sân, si, tật, nghi, mạn, ghanh tị, nhỏ nhen,...
mà cầu nguyện được sống trong cảnh Cực Lạc
thanh tịnh là điều không thể xẩy ra. Bản
chất của phiền não tật đố là bất tịnh, nung
đốt và bất mãn; ở đâu và thời nào nó cũng
như vậy, dù cho có một cảnh giới cực lạc và
thanh tịnh ở đâu đó đi nữa thì khi bị những
chúng sanh đầy phiền não sân si di cư đến,
cảnh giới đó cũng nhanh chóng biến ra Ta Bà!
Cực lạc và thanh
tịnh là nơi tâm, không phải nơi cảnh. Tâm
tịnh thì cảnh tịnh, dù cảnh có động thì cũng
không ảnh hưởng gì đến cái tâm đã bất động
trước những đổi thay bốn mùa; do vậy khi tâm
tịnh hành giả như đang sống trong cảnh Cực
Lạc mà tiếng chim hót nghe như đang nghe
pháp! Tâm động thì sự vật cũng có
vẻ như đang nhảy nhót múa may, tâm loạn thì
thấy mọi thứ quay cuồng điên đảo; và rồi như
con rối bị giật giây bởi phiền não (nội động)
và ngoại cảnh (ngoại xâm), chúng sanh tạo
tác và trôi lăn theo nghiệp lực đẩy đưa.
Muốn qua sông thì phải có phương tiện để qua
sông. "Sông mê" và "bể ái" thường được dụ
cho sanh tử luân hồi trong tam giới. Và
chiếc bè / mảng để vượt qua con sông sanh tử
luân hồi là Bát Chánh Đạo bao gồm (1) thấy
biết đúng đắn, (2) suy tư đúng đắn, (3) nói
năng chính đáng, (4) kiếm sống lương thiện,
(5) hành động không sai quấy, (6) nỗ lực
đúng cách, (7) nhớ nghĩ đúng lúc đúng chỗ,
(8) và tập trung tư tưởng chân chính. Bát
Chánh Đạo lại được tổng hợp thành Tam Vô Lậu
Học bao gồm Học Giới (3,4,5) là những giá
trị chuẩn mực đạo đức Phật Giáo có công năng
kiểm soát và điều chỉnh hành động của thân
và khẩu; Định Học (6,7,8) là phương pháp để
thanh lọc tâm khỏi những chướng ngại như
tham muốn, sân hận, nghi ngờ, dã dượi u ám,
và hối hận dày vò; Tuệ Học (1,2) chính là sự
thấy biết và đánh giá một cách chính xác và
khách quan, nghĩa là thấy biết sự vật và
hiện tượng (tâm- sinh -vật lý) trong sự
tương quan nhân quả và duyên sinh để thoát
khỏi cái nhìn biên kiến, chủ quan và cảm
tính ngã chấp. Đã nhiều lần Đức Phật khẳng
định rằng chỉ có Bát Chánh Đạo mới đưa đến
sự giải thoát chân chính, và trí tuệ thấy rõ
biết rõ giải thoát [2].
Tại sao vật chất cấu thành cõi Cực Lạc lại (được
thấy) là bảy báu? Vì khi tâm tịnh, từc là
tâm đã được giải phóng khỏi những phiền
trược, thì cảnh trở nên tịnh, nghĩa là
nguyện giả không thấy các loại vật chất kia
han rỉ, pha tạp, và dễ biến hoại. Tâm thanh
thản và trong sáng thì không khởi niệm phân
biệt và bất mãn, cái thấy biết chơn như cấu
thành bảy báu của cõi cực lạc.
Âm thanh (tiếng chim hót, hoa rơi, nước chảy,...)
ở cõi cực lạc nhắc nhở như những bài pháp
rằng hành giả phải trú tâm trên thân, rằng
sinh mạng của chúng ta chỉ gói gọn trong mỗi
hơi thở ra vào, rằng vô thường chẳng có chi
đáng nám giữ thủ chấp.
Hãy
trú tâm trên cảm thọ khi mắt thấy sắc, tai
nghe âm thanh, mũi ngửi hương, lưỡi nếm
vị,..những cảm thọ sanh khởi khi căn tiếp
xúc với trần cần được biết và buông xả; ưa
hay không ưa, dễ chịu hay khó chịu, tất cả
đã, đang và sẽ trôi qua.
Hãy
trú tâm trên tâm, những buồn vui hờn giận,
những ghét và thương, những hạnh phúc và khổ
đau, tịnh và động, an và bất an,... như mây
trên bầu trời đến rồi đi, tụ rồi tán; chỉ có
khoảng không bình lặng không đến không đi,
không tịnh không động, không nhơ không sạch.
Hãy trú tâm trên pháp, mọi hiện hữu đều do
duyên sinh, nhân diệt duyên rã thì chẳng còn
chi cả: "Pháp ta thuyết như bè độ khách qua
sông, chánh pháp (hay những thiện tâm sở)
còn phải buông bỏ huống nữa là phi pháp (hay
những tâm sở bất thiện)" [3]. Thấy biết như
vậy, quán xét như vậy gọi là Tứ Niệm Xứ, con
đường duy nhất dẫn chúng sanh ra khỏi ô
nhiễm phiền não, buồn rầu than khóc, con
đường dẫn đến thanh tịnh giải thoát ngay
trong thế giới này và trong kiếp sống này.
Tiếng chim của cõi đó sách tấn hành giả hãy
nỗ lực tinh tấn. Hãy ngăn ngừa cảnh giác với
những trạng thái bất thiện chưa sanh, nếu
thấy người sân hận si mê, tham lam tà kiến,
ghanh tị nhỏ nhen,... nên biết rằng những
tâm niệm xấu ác đó cũng có thể sanh khởi
trong mình khi có điều kiện và thiếu phòng
hộ.
Hãy
dũng cảm nhìn nhận và cương quyết loại trừ
những ác pháp đã sanh, chúng là nguyên nhân
của mọi khổ đau oan trái, xin đừng thoả hiệp.
Hãy tạo điều kiện tốt cho những thiện tâm (chưa
sanh) sanh khỏi, thiện căn chính là gốc
cộicuả mọi thiện nghiệp. Hãy nuôi dưỡng vun
bồi và làm vững mạnh những thiện pháp đã
sanh, mọi vụ mùa bội thu không chỉ có hạt
giống tốt, mảnh đất màu mỡ, mà còn phải có
công sức bón tỉa chăm nom của người nông phu.
Nỗ lực như vậy gọi là Tứ Chánh Cần trong
Giáo pháp của bậc Thiện Thệ.
Đệ tử của Như Lai thì không xin xỏ nguyện
cầu những thế lực siêu phàm ban ơn cứu độ,
thay vì cầu nguyện van xin, những dũng sĩ
này tự mình rèn luyện những phương pháp dẫn
đến năng lực siêu phàm. Đó là khởi tâm mong
muốn và dùng ý chí để đạt được định lực;
tinh tấn duy trì định lực này bằng sự tập
trung ý chí; gom tâm bất thối; và từ trong
định quán xét. Bốn loại tập trung tâm lực
này cho những công dụng siêu phàm gọi là Tứ
Thần Túc.
Để đạt được những năng lực siêu phàm như
trên và cũng là để hỗ trợ cho mọi thiện pháp,
hành giả cần phải học hỏi, tu tập đểtrở nên
thiện xảo trong năm chi pháp gọi là Ngũ Căn.
Tín hay niềm tin cần phải trong sáng, vững
vàng: tin Phật là bậc giác ngộ giải thoát,
tin Pháp thiết thực hiện tiền, tin Tăng là
Giáo đoàn hoà hợp thanh tịnh, tin vào vị
thầy hướng dẫn có đủ từ bi và trí tuệ đểdẫn
dắt mình, tin vào khả năng giác ngộ giải
thoát của chính mình. Tấn là chi pháp thứ
hai, còn gọi là tinh tấn không dễ duôi biếng
nhác trong thực hành.
Niệm
là chi pháp thứ ba cũng như cán cân thăng
bằng giữ tâm trên hiện tại. Định tức là năng
lực định tâm trên một đối tượng (nhất tâm),
khi tâm không sao nhãng hay phân tán mà chỉ
trụ trên một điểm duy nhất nó có nhiều năng
lực ở dạng tĩnh năng. Nhưng định cần được
cân bằng với tấn vốn là động năng, khi định
quá vượt trội, tấn lại quá yếu thì tâm sinh
trì trệ, thụ động và dần đến hôn trầm; khi
tấn quá vượt trội mà định lại không đủ mạnh
thì tâm dao động trạo cử và bất an; một sự
cân bằng giữa tấn và định đem đến những kết
quả khả quan như mong muốn.
Chi
pháp thứ năm là Tuệ. Ở đây tuệ chính là khả
năng xét đoán, phân biệt và quán chiếu các
pháp đang hiện khởi. Tuệ phải được cân bằng
với tín vì khi trí tuệ quá vượt trội mà
thiếu đức tin thì sanh ra gian xảo, hiểu
nhiều biết rộng nhưng không chịu thực hành
nên sinh ra tự đắc tự mãn, sắc sảo châm biếm
chỉ trích và thiếu bao dung nhân hậu. Ngược
lại, đức tin quá nhiều mà thiếu trí tuệ phân
biệt chọn lựa thì dễ tin quàng tin xiên, nhẹ
dạ cả tin, hay tín điều chấp chặt và bảo thủ
cho rằng chỉ có pháp môn mình theo, hay ông
thầy của mình mới đúng.
Ngũ lực (năm năng lực) cũng bao gồm các chi
pháp giống như ngũ căn nhưng đã được phát
triển cân bằng trở nên nội lực.
Có một nhóm thiện pháp cũng rất quan trọng
cấu thành những yếu tố giác ngộ gọi là Thất
Giác Chi, bắt đầu từ Niệm giác chi. Niệm
giác chi này cũng chính là Chánh Niệm (7)
trong Bát Chánh Đạo, trong Tứ Niệm Xứ, và
Niệm căn trong Ngũ căn, Niệm lực trong ngũ
lực. Đây là một chi pháp rất quan trọng nên
mới được liệt kê trong nhiều nhóm thiện pháp
như vậy. Niệm được thầy Nhất Hạnh ví như
những "bước sen". Vâng, khi hành giả an trú
trong chánh niệm thì ở đâu cũng thanh tịnh
và cực lạc. Bên cạnh niệm còn có Trạch Pháp
Giác chi hay yếu tố phân biệt, khảo sát. Yếu
tố niệm giữ tâm trên hiện tại, trên những
hiện hữu đang là; trong khi đó yếu tố phân
biệt, khảo sát cho thấy những gì đang hiện
khởi là hữu ích hay vô ích, thiện hay bất
thiện để phát triển hay loại trừ. Khi tâm an
trú và khảo sát như vậy với sự trợ lực của
Tấn, yếu tố chuyên tâm, thì yếu tố Hỉ phát
sinh. Hỉ đưa đến Tĩnh Tại, một yếu tố làm
nhân gần cho Định, và Xả.
Đức Phật dạy chúng ta con đường Trung Đạo,
nghĩa là phương pháp thực hành tránh những
cực đoan cố chấp Giáo điều. Con đường trung
đạo này có thể được hiểu theo nhiều nghĩa.
Trên bình diện lý thuyết nó được giảng giải
như là tránh chấp có và chấp không (bản thể
học); và tránh xa thường kiến và đoạn kiến .
Thường kiến cho rằng có một linh hồn trường
tồn bất biến, nó từ bỏ thân xác khi cơ thể
tan rã rồi đi đầu thai lòng vòng trong một
thế giới cũng trường tồn bất biến như vậy;
đoạn kiến cho rằng linh hồn không thể tách
rời khỏi thể chất, khi thân hoại mạng chung
linh hồn cũng hoại diệt.
Trung đạo trong thực hành được thể hiện nơi
sự cân bằng của ngũ căn như chúng ta đã dề
cập sơ qua ở phần trên. Trong Bảy Yếu Tố
Giác Ngộ cũng cần có sự chọn lựa nên phát
triển yếu tố nào trong thời điểm nào. Khi
tâm đang phấn khích, hăng hái và đầy nhiệt
tình tiến thủ, đó là lúc không nên phát
triển tấn và hỉ, vì hai yếu tố này khiến tâm
dễ "bốc đồng", niệm (giữ cái tâm biết mà
không phân biệt) và trạch pháp (phân tích,
khảo sát, phân loại) cũng phải được cân bằng,
điều này không dể làm; trái lại, nay chính
là lúc để phát triển định, khinh an (tĩnh
tại) và xả giác chi. Khi tâm quá tĩnh (do
định) hay thờ ơ lạnh nhạt (do xả), lúc này
tâm không thích động hay hoạt động (ghiền
Thiền!), nay chính là thời điểm để phát
triển yếu tố tấn và hỉ, những yếu tố có thể
"hâm nóng" tâm, đừng vùi sâu thêm trong định
và tĩnh tại là những yếu tố khiến hanh giả
thụ động và biếng lười.
Hành Thiền cũng như người chơi đàn vậy. Để
có một bản nhạc hài hoà êm dịu hay du dương
trầm bổng, tiết tấu cung bậc phải được đổi
thay đúng lúc, nhịp nhàng và tài hoa. Dây
đàn phải được điều chỉnh không căng quá cũng
không chùng quá mới tạo được âm thanh du
dương, người hành đạo cũng đừng ráng sức
thái quá hay buông lơi dễ dãi mà phải biết
tuỳ lúc tuỳ thời, tuỳ pháp tuỳ duyên mà tiến
hay lùi, xả hay giữ.
Cư dân ở cõi Cực lạc sáng sáng đi hứng hoa
trời về cúng dường chư Phật. Cuộc sống xem
ra thật thảnh thơi êm đềm thoát khỏi mọi lo
toan phiền luỵ. Ở Myanmar có những loài hoa
nở vào đêm, sáng ra rụng trắng mặt đất thơm
ngát. Chúng tôi, những nữ tu mặc y hồng, y
trắng, y vàng, xả Thiền trong sớm tinh sương
rồi đi lượm hoa đem về cúng Phật. Và những
chiều tà trong tiết giao mùa nắng nhạt nhoà
bâng khuâng, lá vàng rơi lao xao trên lối đi
kinh hành, hay tĩnh tại, hồn nhiên trên
đường đến Pháp đường để trình Thiền hay nghe
pháp, tôi khởi lên ý niệm "cực lạc là đây",
nhưng thời gian (và Thiền sư) nói "không"
như một sự đùa cợt phũ phàng. Khi trở lại "thế
gian" với bao quan hệ, bổn phận, công việc,
lo toan, phiền não lại phát sinh do nhân vẫn
còn mà duyên thì cứ đẩy tới.
Tu sao đây để biến Ta Bà thành Cực Lạc, đó
là chủ đề mà chúng ta cần bàn luận tới. Có
pháp Tứ Vô Lượng Tâm, tức Từ, Bi, Hỉ, xả là
bốn Pháp giúp hành giả an trú vô lượng vô
biên trong những phẩm chất cao thượng của
bậc Phạm Thiên (Brahma vihara). Nhiều bậc
thiện tri thức nói rằng nếu trên thế gian
này ai cũng tu Tứ Vô Lượng Tâm thì chẳng cần
phải tìm Cực lạc thiên đàng đâu xa. Thế nào
gọi là Từ, Bi, Hỉ, Xả? Công năng, diệu dụng,
và cách an trú trong bốn pháp cao thượng này
là một đề tài rất thiết thực dành cho bài
viết khác.
Mong sao tất cả
chúng sanh đều an lạc, hạnh phúc!
BHAVANTU SABBA MANGALAM.
AYYA KHEMA Centre,
Gonapola village, Gonapola,
SRI LANKA.
May 15- 18, 2005.
Pháp Hỷ Dhammananda
------------------------------------------------------------------------
Ghi chú:
[1] Kinh Aditta- Lửa cháy, Tương Ưng bộ kinh,
Salayatana samyutta, Sabba vagga.
[2] AN X:1,2; M 78, M 126
[3] MN, Alagaddpama sutta, Kinh Ví dụ con
rắn, Trung bộ kinh số 22, tập I; Kinh Di
Giáo.
|
|