| |
“Thứ nhất
tu chợ, thứ nhì tu nhà, thứ ba tu chùa.” Tục
ngữ Việt Nam có câu như vậy. Vì là tục ngữ,
không thể biết được tác giả là ai. Vị tác
giả này có thể là người đã kinh qua ba giai
đoạn, ba hoàn cảnh tu tập, nhờ vậy mới có
nhận xét chung khá đúng đối với nhiều người
để trở thành một tục ngữ phổ quát.
Theo kinh nghiệm của tác giả câu tục ngữ ấy,
tu ở chợ là khó nhất, kế đến là tu ở nhà; và
dễ nhất là tu ở chùa. Tuy vậy, thực tế cho
thấy chỗ dễ nhất lại có rất ít người chọn
lựa, và một khi chọn lựa, lại ít người thành
công. Thành công, không phải chỉ hình thức
của người xuất gia suốt đời ở chùa, mà còn
là thành công trong việc giữ đạo, hành đạo,
và trên hết: giải thoát giác ngộ. Nói thế có
nghĩa rằng tu nhà và chợ chỉ khó hơn tu ở
chùa khi nào hành giả chọn hoàn cảnh tu như
là trợ duyên cho việc luyện tâm và đặt mục
tiêu tối hậu là giải thoát giác ngộ. Ngoài
điều này ra, tu nhà hạng nhì và tu chợ hạng
nhất chẳng qua cũng chỉ là tiếng than hoặc
là lời tự an ủi của một kẻ bị buộc phải
vướng vào dòng thế tục.
Tu chùa khó hạng nhất. Xuất gia là con đường
ngược dòng gian truân, nhọc nhằn, cô đơn và
bi tráng mà rất hiếm người theo đuổi tới
cùng. Tu chùa không đơn giản như bạn nghĩ
đâu.
Bạn đã từng tham dự một khóa tu học nào dành
cho phật-tử chưa? Khóa tu Bát quan trai-giới
chẳng hạn, là khóa tu một ngày một đêm, tập
sự như là xuất gia với tám điều luật về giới
và trai, sử dụng chín trong số mười giới của
Sa-di(1). Mười giới Sa-di(2) là giới cấm của
những tiểu tăng và tiểu ni tập sự xuất gia,
chưa chính thức là hàng tăng sĩ Phật giáo.
Giới luật của hàng tỳ-kheo và tỳ-kheo ni còn
nhiều và gay gắt hơn. Ngoài khóa tu Bát quan
trai-giới, còn có các khóa tu học Phật Pháp,
khóa Thiền quán, huân tu Tịnh độ, từ một đến
mười ngày, thường được tổ chức tại ngôi chùa
hoặc tu viện lớn, có khi phải mướn trường
học vào kỳ nghỉ hè mới đủ sức dung chứa
lượng người tham dự.
Nếu đã từng tham dự các khóa tu học nói
trên, hẳn bạn và các bạn tu đều có chung
kinh nghiệm là dù tinh tấn tu học, thu đạt
nhiều lợi ích về tinh thần, nhưng kết thúc
khóa tu thì lòng dạ cũng vui mừng lắm: được
thu xếp trở về với gia đình, với đời sống
thế tục quen thuộc, thân tình, không bị giới
luật và nội qui khe khắt ràng buộc nữa. Như
vậy, tu chùa thế nào, dễ hay khó?
Tôi cũng muốn hỏi, có khi nào bạn bị đặt
trước một hoàn cảnh phải chọn lựa giữa đạo
này và đạo kia, giữa đạo và một thế lực
chính trị, giữa đầu hàng và cái chết, giữa
sự rút lui cho yên thân hoặc phải tiến tới
để bị chửi mắng? Câu hỏi nêu ra vào thời
điểm này, có vẻ như khơi lại một kỷ niệm xa
xôi nào đó của quá khứ, hoặc chỉ đọc thấy
trong tiểu thuyết và sách sử. Đang sống ở
một đất nước tự do, trong một thời đại văn
minh dân chủ, bạn sẽ thấy câu hỏi kia xa
vời, không liên hệ gì đến mình cả. Nhưng kỳ
thực, câu hỏi ấy rất sống động và vẫn còn là
những thực tế đang xảy ra nhan nhản trước
mắt.
Điển hình là hoàn cảnh “tu chùa” của những
phật-tử tham dự khóa tu học Phật Pháp hàng
tuần vào ngày thứ Bảy, từ 8 giờ sáng đến 5
giờ chiều, tại chùa Bát Nhã, thành phố Santa
Ana, tiểu bang California. Khóa tu học Phật
Pháp này được khởi sự tổ chức từ cuối tháng
10 năm 2008. Đây quả là chương trình hoằng
pháp thiết thực, rất bổ ích và thuận lợi cho
phật-tử trong vùng. Chương trình tu học có
sự hướng dẫn luân phiên của nhiều Tăng Ni,
với các chuyên đề về Thiền, Tịnh và Mật
tông, cũng như các lớp Phật Pháp căn bản.
Bạn sẽ nôn nóng đặt câu hỏi: một khóa tu học
tổ chức hàng tuần, không phải là hàng năm
như những khóa tu khác, cũng không phải tập
trung hàng trăm, hàng ngàn người tham dự,
vậy thì có gì để nói? – Xin thưa, khóa tu
học Phật Pháp ở đây rất đặc biệt, không
giống bất kỳ khóa tu học nào của Phật giáo
Việt Nam trên toàn thế giới. Vì sao?
Đường dẫn đến chùa là con đường tráng nhựa
như bao nhiêu con đường khác, nhưng đầy ổ
gà. Xe đi vào phải lái chậm theo bảng đề hai
mươi lăm dặm một giờ. Có một ngã tư rộng với
bốn bảng stop, phải cẩn thận đi qua. Đường
hẹp và gập ghềnh. Khi gần đến cổng chùa, bạn
sẽ thấy có vài người trưng cờ và biểu ngữ,
dùng loa phóng thanh hướng vào trong chùa,
hò hét. Bạn sẽ không hiểu chuyện gì xảy ra.
Khi xe đến sát những người này, bạn sẽ nghe
được những câu khẩu hiệu biểu tình, đại khái
như: “Đả đảo ma tăng trọc đầu,” “đả đảo bọn
thầy chùa tiếm danh” “đả đảo công an trọc,”
“đả đảo bọn Về Nguồn phản bội…” Trước cổng
chùa thì như vậy, nhưng khi vào trong, bạn
sẽ chứng kiến một đạo tràng tu học trang
nghiêm với khoảng trên ba mươi học viên
phật-tử tham dự. Chương trình sít sao, từ
sáng đến chiều tụng kinh, niệm Phật, học
giáo lý, ăn cơm trong im lặng, thảo luận về
Phật Pháp. Không biết bạn sẽ có cảm giác thế
nào trước sự tương phản giữa nhóm ba bốn
người dùng loa chửi bới và ba bốn chục người
im lặng tu học, chứ đối với riêng tôi, mỗi
lần đến thăm đạo tràng, tôi đều ứa lệ.
Hòa thượng viện chủ chùa Bát Nhã vốn là một
“sơn tăng” trung hậu, bộc trực, ba mươi năm
sống trên đất Mỹ mà tâm tính và hình dung
vẫn giữ nguyên cái vẻ xuề xòa chất phác của
thầy tu chùa làng. Một nhà tu như vậy, đối
với thị-phi oan ức, vu khống mạ lỵ, chỉ là
chuyện của chợ đời gió thoảng mây bay. Một
lần, tôi chứng kiến một phật-tử đến thăm
chùa, đề nghị hòa thượng tìm cách giải quyết
vấn đề biểu tình ồn ào trước cổng chùa để
khóa tu học được yên tĩnh trang nghiêm, tâm
trí học viên sẽ được nhẹ nhàng, thư thả, dễ
định tâm hơn. Hòa thượng chỉ cười, trả lời
với giọng khiêm nhẫn lạ thường:
“Không sao, tâm của phật-tử ở đây kiên cố
lắm, những lời chửi rủa kia chẳng ăn thua gì
đâu!”
Nghe những lời mộc mạc ấy, tôi thật cảm
động, nhưng vẫn chưa yên lòng, vì nghĩ rằng
có thể đó chỉ là cảm nghĩ và nhận xét của
hòa thượng chứ không phải của chính các học
viên. Tôi nêu nghi vấn ấy, hòa thượng tiếp:
“Ngày nào chư Tăng Ni cũng thăm hỏi, an ủi
các học viên, động viên tinh thần của họ,
đều được họ mạnh dạn trả lời là sự chửi rủa,
chống phá càng làm cho tín tâm của họ mạnh
mẽ, kiên cường hơn.”
Nghe đến lời này, tâm tôi chấn động thật
mạnh. Ngay lúc ấy, ngôi chùa Bát Nhã nhỏ hẹp
trong xóm nghèo thành phố, lập tức hiển hiện
trước mắt tôi, trong tâm khảm tôi, như một
cảnh giới diệu lạc của các bậc bồ tát.
Hãy khoan nói về trình độ Phật Pháp và kinh
nghiệm tu tập hành trì của những học viên ở
đây như thế nào. Chỉ nhìn nơi vẻ thiết tha
cầu học, kham nhẫn tụng niệm trước sự chửi
rủa của kẻ khác, có thể nói là các học viên
khóa tu chùa Bát Nhã đang thực hành bồ-tát
đạo, và ít nhất họ đã biểu hiện ba trong bốn
pháp hạnh của bồ-tát được nói đến trong kinh
Đại Tập, phẩm Hạnh Tam Muội: “Thứ nhất là
tín tâm bất hoại, thứ hai là tinh tấn không
mỏi mệt, thứ ba là trí tuệ thù thắng và thứ
tư là gần gũi thiện tri thức.” Theo kinh
này, bồ-tát nào có đầy đủ bốn pháp hạnh thì
đạt được tam-muội ngay trong hiện tiền.
Được biết, số học viên không bị giảm đi sau
nhiều tuần lễ vừa tu học vừa bị chửi. Họ đã
tìm thấy an vui, lợi lạc khi được “gần gũi
thiện tri thức.” Họ vẫn “tinh tấn” mỗi tuần
đến đạo tràng để tham dự khóa tu học, “không
mỏi mệt” tuân theo các nội qui và giới luật
của khóa tu. Và trên hết, niềm tin của họ
đối với Chánh Pháp, đối với Tam Bảo, là niềm
tin không thể lay động, không thể xoay
chuyển: “tín tâm bất hoại.” Với ba pháp hạnh
này, dù không dám nghĩ là họ có “trí tuệ thù
thắng,” tôi vẫn tin ít nhất là trong ý nghĩa
của tâm kiên cố, bất động(3), họ đã chạm
chân đến cảnh giới tam muội bất khả tư nghì
của hàng bồ-tát sơ học. Ngần ấy đủ cho tôi
chắp tay, cúi đầu.
Bạn đã từng chứng kiến hoặc tham dự một khóa
tu học Phật Pháp nào có được nghịch cảnh để
thử thách, luyện tâm như khóa tu học Phật
Pháp ở Chùa Bát Nhã chưa? Cứ đúng vào ngày
thứ Bảy mỗi tuần, khi khóa tu học bắt đầu
thì việc chửi mắng cũng bắt đầu. Bên trong,
người tu học siêng năng tu học; bên ngoài,
người chửi mắng cũng miệt mài chửi mắng. Một
điều kiện tu học tốt đẹp như thế, chưa có
ngôi chùa hay đạo tràng tu học nào trên thế
giới có được. Nếu bạn đã quen tu học ở nơi
thanh tịnh trang nghiêm, nơi mà ai cũng tôn
trọng quí kính nhau, nơi mà ai cũng mở đầu
câu nói bằng chữ “mô Phật,” thì bạn cũng nên
một lần trong đời, tham dự một khóa tu mà
tiếng chửi mắng (có khi rất thô tục) thật to
lớn, lấn át tiếng tụng kinh niệm Phật và lời
giảng dạy của Tăng Ni. Chính nơi đây, bạn
mới trắc nghiệm được tín tâm của bạn đối với
Chánh Pháp. Như vậy, cũng nên cảm ơn những
người lớn tiếng chửi rủa nơi cổng tam-quan.
Chẳng phải họ cũng là bồ-tát nghịch hạnh hay
sao?
Lái xe chầm chậm ra khỏi chùa, tôi nghe một
trong ba người biểu tình không cầm loa, nhìn
vào xe tôi, nói xuống giọng như thể nói
riêng với tôi:
“Cũng vì mấy người phật-tử vô minh nhẹ dạ
như người này mới đi chùa của ma tăng đầu
trọc, phá hoại Phật giáo!”
Tôi nói nhỏ:
“Cám ơn.”
California, ngày 13 tháng 02 năm 2009.
----------------------------------------------------------------------
(1) Bát quan trai-giới: tám cánh cửa của
trai (ăn chay, không ăn quá giờ ngọ) và giới
được giữ gìn trong vòng 24 tiếng đồng hồ,
dành cho người phật-tử tại gia. Trong ngôn
ngữ bình thường, phật-tử thường nói tắt với
nhau là “thọ bát quan trai” hoặc ngắn hơn,
“thọ bát.” Khi thọ Bát quan trai-giới,
phật-tử được xem như tập sự xuất gia một
ngày một đêm như các chú Sa-di. Giới thứ sáu
của tám trai-giới này kết hợp giới thứ sáu
và giới thứ bảy của mười giới Sa-di, cho nên
tuy là tám, nhưng tương đương với chín giới
của Sa-di. Tám trai-giới gồm có: 1. Không
được sát sanh. 2. Không được trộm cướp. 3.
Không được dâm dục. 4. Không được nói dối.
5. Không được uống rượu. 6. Không được trang
điểm, thoa dầu thơm, múa hát và đi xem. 7.
Không được nằm giường cao đẹp, rộng lớn. 8.
Không được ăn quá giờ ngọ.
(2) Sa-di thập giới: 1. Không sát sanh. 2.
Không trộm cướp. 3. Không dâm dục. 4. Không
nói dối. 5. Không uống rượu. 6. Không mang
vòng hoa, xông ướp hương thơm. 7. Không ca,
vũ, hòa tấu, biểu diễn, hoặc đi xem, nghe.
8. Không được nằm và ngồi giường cao tốt,
rộng lớn. 9. Không ăn phi thời. 10. Không
cất giữ vàng bạc, bảo vật.
(3) Thước ca-ra tâm: tâm kiên cố, bền chặt
(kinh Thủ Lăng Nghiêm).
Vĩnh Hảo |
|