Thoi-Nay - Giai Tri va Doi Song

 

  Trang chính
  Thế giới tâm linh
 

Mục lục

Đời - Đạo

Kinh tụng bằng nhạc

VIDEO

Nhạc

Hoa Đạo Pháp

Mở Trang Hiếu Hạnh (TNT Mặc Giang)

Mùa An Cư Kiết Hạ năm Canh Dần 2010

Nhân Mùa Phật Đản 2634 Phật lịch 2554

His Holiness the Dalai Lama

Câu chuyện cát đá - đạo vào đời

   Thế giới tâm linh - Phụ trách : TN. Last updated 8/2008. Khoa học:    

NHÂN MÙA VU-LAN, ĐỌC LẠI MỘT SỐ TƯ LIỆU
VỀ CHỮ HIẾU
TRONG TRUYỀN THỐNG TÔN GIÁO & VĂN HÓA VIỆT NAM



Nguyễn Đức Cung

14 tháng 08 năm 2008

 

 

Dân tộc Việt Nam tuy vốn là một quốc gia thấm nhuần giáo lý Khổng Mạnh và tư tưởng các tôn giáo khác từ thời ky lập quốc cho tới ngày nay, nhưng chúng ta có một bản sắc riêng, bản sắc Việt Nam. Nền văn minh nông nghiệp và hệ tư tưởng, triết lý đến từ phương bắc là Trung quốc đã cố kết và nhào nặn dân tộc Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước mà trong đó gia đình là một cơ cấu căn bản rất cần thiết cho sự sống còn của dân tộc qua trường kỳ lịch sử.

Các mối liên hệ tương quan giữa các thành viên trong gia đình Việt Nam đã được biểu thị qua hệ thống tam cương, ngũ thường mà sách vở kinh điển của Nho gia như Luận ngữ, Mạnh tử, Đại học, Trung dung hay các kinh Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân thu tuy vốn là những « sách thánh » của Trung quốc tự ngàn xưa nhưng vẫn còn hay nhắc đến, trong đó chữ hiếu có ảnh hưởng rất đậm nét trong phong cách hành xử của người Việt Nam. Những tiếp nhận về văn hóa và triết lý tuy mang nặng tính chất Trung Hoa đó khi đến Việt Nam đã được tiền nhân chúng ta điều chỉnh lại phần nào để phù hợp với tâm thức của người Việt. Tinh thần hiếu đễ đã hun đúc nên tâm tính hiền hòa, nhẫn nhục của người Việt Nam chính là yếu tố cốt cán giúp cho xã hội bền vững và gia đình phát triển qua nhiều thế hệ. Bởi thế, tìm hiểu ý nghĩa của chữ hiếu qua truyền thống tôn giáo và văn hóa Việt Nam cũng là thiết thực đóng góp chút ít suy tư với độc giả nhất là tầng lớp thanh niên Việt Nam đang ngày càng đạt được nhiều thành công trong việc ổn định cuộc sống tại hải ngoại.



I.- TÌM HIỂU TỪ NGUYÊN CHỮ HIẾU.

Từ nguyên (étymologie) là nguồn gốc, lịch sử hình thành và phát triển của một từ hay một chữ trong thời gian về trước và hiện tại, chính là yếu tố giúp cho người đọc hiểu rõ ràng ý nghĩa của nó. Căn cứ theo lục thư (sáu cách viết chữ Hán của người Trung hoa gồm có chỉ sự, tượng hình, hài thanh hay hình thanh, hội ý, giả tá, chuyển chú) chữ hiếu được cấu tạo theo lối hội ý nghĩa là kết hợp nhiều ý nghĩa của nhiều chữ.

Theo linh mục L. Wieger, ý nghĩa và kết cấu hình thành của chữ hiếu (Hsiao, Filial piety) đã được biện giải « là điều mà các con em mắc nợ đối với bậc trưởng thượng nói chung và đối với bậc cha mẹ nói riêng, là kẻ phụng sự cha mẹ rất chí tình, viết một phần gồm chữ lão (già cả) bỏ bớt nét và gồm với chữ tử ( con) » 1.

Linh mục L. Wieger thuộc Dòng Tên là một nhà Trung hoa học nổi tiếng trên thế giới trong nhiều thập niên trước đây với rất nhiều công trình biên tập giới thiệu cùng độc giả Tây phương các tác phẩm kinh điển của nền văn hóa cổ Trung hoa. Sách vở biên tập của ông đã được nhiều thế hệ sử dụng trong đó có rất nhiều tầng lớp độc giả, trí thức và giáo sư Đại học Việt nam. Ý nghĩa nhà bác học này muốn nhấn mạnh tới qua chữ hiếu đó là mối liên hệ mật thiết giữa lớp người trưởng thượng và con cháu của họ, một mối quan hệ hỗ tương rất chặt chẽ trong ý nghĩa của chính ngôn từ và trong đời sống thực tế ngoài xã hội.

Một kiến giải khác được hình thành trong một cuốn sách viết về nền văn hóa tâm linh xuất bản mới đây đã có trình bày rằng « theo hình tượng chữ hiếu trên phần đầu chữ khảo là cha, dưới chữ tử là người con, giữa có cái gậy vắt ngang, hiếu là con mũ gậy cha mẹ. » 2 Ý kiến giải thích như vậy cũng có tính cách khả tín. Tuy vậy xem lại hai cách giải nghĩa chữ hiếu thì trong đó các tác giả có phần nào gượng ép.

Theo Linh mục Sảng Đình Nguyễn Văn Thích (1891-1979), Giáo sư Hán văn của Trường Đại Học Văn Khoa Huế, Sài Gòn và Viện Hán học Huế (mà tôi là một môn sinh của ngài) trước năm 1975, một bậc túc nho cuối cùng của nền Hán học cổ truyền Việt Nam, thì chữ hiếu được kết hợp bởi chữ thổ là đất, nét sổ xiên từ phải sang trái có hình tượng như một cây roi và chữ tử là con, nghĩa chung là « đứa con chịu nằm xuống đất và để cây roi trên mình cho cha mẹ đánh thì đó là đứa con có hiếu. » Lối giải thích từ nguyên của vị giáo sư thâm nho này cũng có những nét đặc sắc và gần gũi với nền giáo dục trẻ con của Việt Nam ngày trước (Thương con cho roi cho vọt, ghét con cho ngọt cho bùi), một lối giáo dục nặng hình thức thương yêu mà trấn áp, răn đe.

Theo học giả Thiều Chửu, chữ hiếu có hai nghĩa : 1.- Thảo, con thờ cha mẹ hết lòng gọi là hiếu. 2.- Tục gọi đồ tang phục là hiếu. Như xuyên hiếu - mặc đồ tang (để tang). Thoát hiếu - chút đồ tang (đoạn tang) v.v. Sách Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh cũng có những giải thích tương tự.3



II.- MỘT SỐ Ý NIỆM VỀ CHỮ HIẾU TRONG CÁC TÔN GIÁO PHỔ CẬP Ở VIỆT-NAM.

Đất nước Việt Nam là nơi gặp gỡ của nhiều tôn giáo như Nho, Phật, Lão (tam giáo đồng quy) và về sau với sự góp mặt của Thiên Chúa Giáo cùng với một số tôn giáo có tính cách địa phương như Cao đài, Hòa hảo nên có thể nói được rằng ảnh hưởng của các tôn giáo đã đặt những dấu ấn rõ rệt trong nền văn hóa của dân tộc mà điển hình là một số ý niệm của các tôn giáo về vấn đề chữ hiếu nói chung. Có thể nói hầu hết mọi tôn giáo và triết thuyết Á đông đều khuyến khích con cái sống hiếu thảo đối với cha mẹ, các bậc trưởng thượng và tinh thần hiếu đễ có khi được coi là một tập tục sâu sắc, một tín ngưỡng (hiếu đạo).



2.1. Thiên chúa giáo và vấn đề chữ hiếu :

Giáo lý của Thiên chúa giáo có điều răn thứ bốn dạy là « thảo kính cha mẹ ». Trong sách Huấn Ca của Cựu Ước người ta đã đọc thấy những lời dạy như sau :

Hỡi các con, hãy nghe cha đây,

Và làm thế nào để các con được cứu độ

Đức Chúa làm cho người cha được vẻ vang vì con cái

Cho người mẹ thêm uy quyền đối với các con.

Ai thờ cha thì bù đắp lỗi lầm

Ai kính mẹ thì tích trữ kho báu

Ai thờ cha sẽ được vui mừng vì con cái

Khi cầu nguyện họ sẽ được lắng nghe.

Ai tôn vinh cha sẽ được trường thọ,

Ai vâng lệnh Đức Chúa sẽ làm cho mẹ an lòng. 4

Trong sách Tin Mừng Thánh Mát-thêu (15, 1- 6) có một đoạn liên hệ tới đạo hiếu, nói về thái độ của Đức Kitô đã cảnh cáo lớp người giả đạo đức thời đại của Ngài: « Bấy giờ có mấy người Pha-ri-sêu và mấy kinh sư từ Giê-ru-sa-lem đến gặp Đức Giê-su và nói rằng : « Sao môn đệ ông vi phạm truyền thống của tiền nhân, không chịu rửa tay khi dùng bữa ? » Người trả lời : « Còn các ông, tại sao các ông dựa vào truyền thống của các ông mà vi phạm điều răn của Thiên Chúa ? Quả thế, Thiên Chúa dạy : Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử. Còn các ông, các ông lại bảo : « Ai nói với cha với mẹ rằng : những gì con có để giúp cha mẹ, đều là lễ phẩm dâng cho Chúa rồi, thì người ấy không phải thờ cha kính mẹ nữa ». Như thế, các ông dựa vào truyền thống của các ông mà hủy bỏ lời Thiên Chúa... » 5

Ý nghĩa hiếu thảo và thương yêu giữa cha mẹ với con cái cũng được Thánh Phao-lồ nhắc đến trong Thư gửi tín hữu Cô-lô-xê : «... Kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là điều đẹp lòng Chúa. Những bậc làm cha mẹ đừng làm cho con cái bực tức, kẻo chúng ngã lòng » 6.

Căn cứ theo các tài liệu lịch sử hiện nay thì Thiên Chúa giáo xuất hiện ở đất nước Việt Nam vào quảng đầu thế kỷ XVI. « Theo sách Dã lục thì tháng 3 năm Nguyên-hòa thứ nhất (1533) đời Lê-Trang-Tôn, có người Tây-Dương tên là I-nê-Xu lén lút đến xã Ninh-Cường, xã Quần Anh, huyện Nam-Châu, và xã Trà-Lũ huyện Giao-thủy, ngấm ngầm truyền bá tả đạo Gia-Tô.Thế là, ít ra, từ đó, đạo Công-giáo đã được biết ở Nam-Định. » 7

Đạo Công Giáo khi được truyền bá vào Việt Nam cũng đề cao tinh thần chữ hiếu trong bất cứ mọi trường hợp của cuộc sống, ngay cả đến khi cận kề cái chết, nên hoàn toàn có khả năng để thích ứng với cá tính đạo đức của dân Việt Nam và tình huống xã hội của đất nước chúng ta.

Trong một bài báo đăng trên Tạp chí Thế Kỷ 21 số 161 tháng Chín 2002, tác giả Ngô Nhân Dụng đã đề cập tới quyển sách của nhà truyền giáo De La Bissachère xuất bản hồi đầu thế kỷ 19 (sách in ở Paris năm 1812, tuy nhiên đã được in ở Luân Đôn từ năm trước) nhan đề État Actuel du Tunkin, de la Cochinchine, et des Royaumes de Cambogde, Laos, et Lac Tho (Tình trạng đương thời ở xứ Đàng ngoài, Đàng trong, và các vương quốc Cam Bốt, Lào, Lạc Thổ). Giáo sĩ De La Bissachère đã sống ở các xứ trên trong 18 năm dưới thời vua Gia Long. Bài báo của tác giả Ngô Nhân Dụng có đoạn viết :

« Một nền tảng của nền đạo lý dân tộc ở Việt Nam là đạo hiếu, thể hiện qua tục thờ cúng tổ tiên. De La Bissachère ghi nhận người Việt Nam thờ cúng tổ tiên và « coi họ như những người ở trên trời, những thần linh bậc nhì còn săn sóc và bảo vệ gia đình họ », và tin rằng « tổ tiên lúc sống càng thánh thiện bao nhiêu thì lúc chết càng có sức mạnh linh thiêng bấy nhiêu ». Có lẽ đây là một cách diễn tả niềm tin về « phúc đức ông bà » của người Việt. De La Bissachère viết, « Người già cả được tôn kính với thái độ giống như trong tôn giáo. » Ông nhận xét rằng ngoài chính sách cấm đạo cũa vua chúa thì đây là một trở ngại cho việc truyền đạo Thiên chúa ở Việt Nam, « tục thờ cúng tổ tiên, việc thờ cúng có vẻ ngoài như một tín ngưỡng. Các vị thừa sai thuộc dòng Tên đã chấp nhận phong tục này, mà họ thấy không thể cắt lìa phong tục đó khỏi các dân tộc này được ;... mà trong các bổn phận đối với tổ tiên đó, tất cả chỉ là để tỏ tình thương và lòng tôn kính, nhưng Rome không thể chấp nhận ý tưởng khoan dung đó. » 8. Lập trường của Giáo hội Roma về sau cũng tỏ ra rất uyển chuyển không còn cứng ngắc như trước đây, nhất là sau thời Công Đồng Vatican II, đối với một số các phong tục Á đông như việc thờ cúng tổ tiên, vấn đề hôn phối với người khác tín ngưỡng v.v...

Trước đây trong thời kỳ đạo Công giáo bị các chế độ phong kiến bách hại, người ta đưa ra lý luận rằng theo Công giáo là bỏ ông bà, bỏ bàn thờ gia tiên, bỏ đạo hiếu. Lý luận đó đã bị thực tế chứng minh trái ngược lại. Linh mục Nguyễn Văn Thích đã bày tỏ quan niệm về trung và hiếu của ngài trong bài viết ngắn và bài thơ sau đây :

Trung và Hiếu

« Có kẻ không hiểu nói rằng theo đạo Chúa, bỏ cha mẹ, nên làm lời giải hoặc.

Trung hiếu bổn vô nhị tri – Trung ư quân, tức hiếu ư thân ». Trung hiếu không phải hai đàng nghịch nhau. Trung với Chúa ấy là hiếu với cha mẹ. Đây chưa nói chữ hiếu theo nghĩa Evang (Phúc âm) »

« Hết trung thờ Chúa đạo làm trai,

Chữ hiếu làm con dễ dám sai.

Vẫn hiếu với trung là vốn một,

Mà trung cùng hiếu chẳng toàn hai.

Thà rằng mất hiếu trung cùng Chúa,

Hễ đã không trung, hiếu với ai ?

Chữ hiếu ấy tình, trung ấy nghĩa,

Bên trung bên hiếu nặng hai vai.

An Ninh chủng viện 1917

J.M.T

(Trích trong « Sảng Đình Thi Tập », tr.9) 9

Ngày 19-6-1988, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đã hân hoan mầng 117 vị chân phúc của Việt Nam đã được phong bậc hiển thánh (canonization) trong đó có rất nhiều tấm gương hiếu đễ trung tín đã được chứng minh trong cuộc đời của các Ngài kể cả những lúc trước giờ bị rơi đầu vì đức tin. Người Công Giáo cũng có truyền thống tưởng nhớ đến cha mẹ và thân nhân đã khuất bằng cách dành tháng 11 (Novembre) để cầu nguyện, xin lễ, viếng mộ cách đặc biệt cho người chết gọi là Tháng Các Đẳng Linh Hồn, và ngày 2 tháng 11 là Ngày Lễ Các Đẳng (Fête Des Défunts), tất cả những việc đó đều có ý nghĩa khuyến khích tinh thần hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ. Theo quan niệm của một số người Công Giáo Việt Nam, chết vào ngày 2 tháng 11 cũng là một ân sủng, trong một khía cạnh ý nghĩa đặc thù nào đó.

Trong Thư Mục Vụ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đưa ra tại Hà Nội ngày 11-10-2002, phần mở đầu đã có đề cập đến chữ hiếu trong gia đình người Công Giáo Việt Nam: «Nói đến gia đình Việt Nam, người ta nghĩ ngay tới một nề nếp gia phong rất gần gũi với giáo lý đức tin. Gia đình ấy coi chữ Hiếu làm đầu nên rất sẵn sàng đón nhận ánh sáng Phúc Âm, trong đó điều răn phải thảo kính cha mẹ được xếp ngay sau ba điều răn quy định việc thờ phượng Thiên Chúa. »



2.2. Phật giáo và chữ hiếu :

Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn tại Việt Nam mà ảnh hưởng đã thấy rõ trong các lãnh vực chính trị, văn hóa, tư tưởng, xã hội trong suốt quá trình lịch sử của đất nước. Có nhiều ý kiến khác nhau nói về thời điểm Phật giáo du nhập vào Việt Nam.

Theo Dương Quảng Hàm trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu, « Phật giáo du nhập vào nước ta do hai cách : a) Nhờ các vị sư Tàu sang tránh nạn ở Bắc kỳ, sau khi vua Hán Linh-Đế mất (189), trong khi nước Tàu có nội loạn (cuối thế kỷ thứ II và đầu thế kỷ thứ III) ; b) Nhờ các vị sư người Thiên-trúc Inde), Khang-cư (Sogdiane), Nguyệt-thị (Indoscythe) sang ở nước ta, hoặc đi qua nước ta để sang Tàu trong thế kỷ thứ III. » 10

Giáo sư Nguyễn Đăng Thục cho rằng : « Bước đầu lịch sử Phật học ở An nam chỉ bắt đầu từ thế kỷ III sau Công nguyên nhất là nếu chúng ta không kể sách Mâu Tử như là một tác phẩm chân thật của thời kỳ 190-200 ».11

Trong Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, tác giả Nguyễn Lang (tức Thiền Sư Nhất Hạnh) cho rằng « đạo Phật đầu tiên do các thương gia Ấn Độ đem đến. Những người này không phải là những nhà truyền giáo ; họ chỉ sống đời sống tín ngưỡng của họ trong lúc lưu lại Giao Châu, và chính vì vậy mà người Giao Châu biết đến đạo Phật. » 12 Qua những ghi nhận tổng quát này, Thích Nhất Hạnh, tiếc thay, không cho biết rõ ràng hơn về thời điểm có mặt của Phật Giáo trên đất nước ta.

Nhưng, có lẽ công trình nghiên cứu thấu đáo về Phật Giáo hơn cả phải kể đến bộ sách Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát trong đó tác giả này cho biết Phật Giáo có thể đã xuất hiện khoảng thế kỷ thứ II-III trước dương lịch. Tác giả viết : « ... Vùng miền nam nước ta từ phía nam cửa Sót trở vào đã mang nặng những vết tích của nền văn hóa Ấn Độ. Chiếc bia Võ Cảnh tìm thấy ở làng Võ Cảnh ở Nha Trang, thường được các nhà nghiên cứu xác định là xuất hiện vào thế kỷ thứ II sdl, viết bằng Phạn văn. Để cho Phạn văn trở thành một ngôn ngữ được khắc trên đá vào thế kỷ ấy, nền văn minh Ấn Độ vào thời điểm đó chủ đạo là Phật giáo, phải truyền bá tại vùng đất này qua một thời gian tương đối dài, tối thiểu cũng phải mất một vài trăm năm. Nói thẳng ra, văn minh Ấn Độ phải tồn tại ở phía nam nước ta vào những thế kỷ trước và sau dương lịch. Cho nên vị Hùng Vương của thời Chử Đồng Tử ta cũng có thể xác định vào những thế kỷ tdl, có khả năng là Hùng Nghị vương thứ nhất hoặc thứ hai, tức khoảng thế kỷ II-III tdl. » 13

Luận cứ của Lê Mạnh Thát cũng không có gì vững chắc nếu tác giả này nhớ rằng nền văn minh của Ấn Độ hay nền văn minh Angkor của Campuchia là nền văn minh của đá14 nghĩa là tất cả các hình thái nghệ thuật của họ đều thể hiện bằng chất liệu đá thì cần gì phải đợi đến mấy trăm năm về sau nghệ nhân xứ đó mới sử dụng đá để làm tấm bia Võ Cảnh ? Họ có thể sử dụng đá ngay khi mới đến định cư tại vùng đất phía nam cổ Việt khoảng thiên niên kỷ thứ hai trước Tây Lịch nếu kiến giải của Stephen Oppenheimer trong Eden in the East là đúng.15

Trải qua quá trình lịch sử, Phật Giáo đã có những giai đoạn thăng trầm nhưng tinh thần từ bi hỉ xã của Phật Giáo vẫn là những nét trỗi bật trong nỗ lực hòa đồng với các tôn giáo khác và nhất là thể hiện truyền thống đạo hiếu trong các lễ nghi và bản sắc văn hóa của mình. Mùa Vu lan của Phật giáo là mùa báo hiếu và trong thời kỳ quân chủ trước đây có khi công cuộc tổ chức các lễ lạc được tiến hành từ trong chốn triều đình ra ngoài dân gian. « Mùa hạ năm 1434 vua Lê Thái Tông sai các quan rước Phật từ chùa Pháp Vân về kinh đô để làm lễ cầu mưa. Lại cho phóng thích một số tù nhân, và dựng trai đàn chẩn tế ngay ở điện Cần Chánh để tu tạo công đức, cầu cho có mưa. Rằm tháng bảy năm ấy, vua lại cho tổ chức đại hội Vu Lan, mời chư tăng đến cầu nguyện, rồi cúng dường chư tăng và phóng thích thêm năm mươi tù nhân nữa. » 16

Với Phật giáo, Vu-Lan-Bồn là một phương pháp báo hiếu có hiệu quả nhất. Theo Hòa thượng Thích Thiện Hoa, « Vu-Lan-Bồn là phiên âm theo tiếng Phạn. Người Trung Hoa dịch là : « giải đảo huyền », nghĩa đen là cổi trói người bị treo ngược ; nghĩa bóng là cứu vớt những kẻ đau khổ nặng nề như đang bị treo ngược...Ngài Đại-hiếu Mục-Kiền-Liên, sau khi tu hành chứng được 6 phép thần-thông, ngậm ngùi nhớ đến công ơn cha mẹ, Ngài bèn tìm cách báo đáp. Dùng đạo-nhãn xem trong thế gian, Ngài nhận thấy mẹ mình sanh làm loài ngạ-quỷ, thân thể ốm gầy, da bọc xương, thân hình tiều tụy, bụng lớn, đầu to, cổ nhỏ như ống chỉ, đói khát suốt năm không được ăn uống. Thương xót quá, Ngài liền đem bát cơm đang ăn để dâng mẹ. Ngài vận thần-thông, bưng bát cơm đi đến chỗ mẹ ở. Bà mẹ vì quá khao-khát, nên khi được cơm, lòng tham nổi lên, sợ người cướp giựt, lấy tay trái che giấu bát cơm, tay mặt bốc ăn. Bởi lòng tham lam độc ác trong tiền kiếp nổi bừng lên, nên cơm mới đưa vào miệng, thì hóa thành ra lửa, bà chẳng ăn được.

Ngài Mục-Kiền-Liên thấy thế, hết sức đau buồn kêu khóc thảm thiết. Ngài liền trở về bạch Phật, thuật lại như trên và cầu Phật chỉ dạy cho phương pháp cứu độ thân mẫu... Ngài Mục-Kiền-Liên vâng lời Phật dạy, đến ngày rằm tháng 7 làm lễ Vu-Lan, sắm đủ các vật liệu, rước chư Tăng trong mười phương thành tâm kính lễ trai-Tăng cúng-dường, nên vong mẫu của Ngài thoát khỏi kiếp ngạ-quỷ, sanh về cảnh giới lành. » 17

Cũng theo Hòa thượng Thích Thiện Hoa việc báo hiếu có nhiều cách nhưng không ngoài hai phương diện : vật chất và tinh thần tức là lo cho cha mẹ miếng ăn thức uống, áo quần, chỗ ở và làm cho tinh thần cha mẹ được nhẹ nhàng cao thượng và đi dần đến chỗ giải thoát.

Trong cuốn Lịch sử Phật Giáo Trung Quốc, Hòa thượng Thích Thanh Kiểm cho biết về nguồn gốc của một số lễ nghi của Phật giáo như sau: "Về lễ nghi của Phật giáo thông thường gọi là "Pháp hội". Pháp hội có từ đời Đông Tấn, nhưng tới đời Nam Bắc Triều thì rất được thịnh hành. Trước hết có Pháp hội về Đản sinh Đức Phật, ngày 8 tháng tư, gọi là "Quán Phật hội", hay "Lễ Tắm Phật", phổ cập khắp các chùa, và hội rước Phật để mọi người được dâng hương tán hoa, rồi đến hội "Vu Lan Bồn" ngày 15 tháng 7, hội Phật Thành đạo vào ngày 8 tháng 12, hội Phật Niết bàn vào ngày 15 tháng 2. Ngoài ra, còn có các hội như "Bát quan trai", "Vô Giá Đại hội" và "Diên Thọ hội", kết hạ an cư v.v..." 18 Như vậy lễ Vu Lan cũng có gốc tích từ những lễ nghi Phật Giáo ở Trung Quốc.

Câu chuyện Quan Âm Thị Kính nói việc Thị Kính bị mang tiếng oan có âm mưu giết chồng (Thiện Sĩ), chịu sỉ nhục tàn tệ phải cải dạng nam nhi mà đi tu, lại bị Thị Mầu quyến rũ không được, phải nhận nuôi con rơi của Thị Mầu, rồi sau đó chết vì sức khỏe mõi mòn, cuối cùng nàng được Phật tổ truyền cho thành Phật Quan Âm và được sư cụ chùa Vân (nơi nàng đi tu) bày tỏ công đức :

« Nay bà Thị Kính hóa duyên

Nam mô Phật, độ vô biên hằng hà

hóa thân được cả mẹ cha,

kìa là bạn cũ, nọ là con thơ

thế gian trông thấy sờ sờ »

« Ý của sư cụ là khi Thị Kính chứng quả, nàng có thể độ luôn được cả mẹ cha, Thiện Sĩ, đứa con thơ và vô biên hằng hà sa số người khác. Như vậy nghĩa là tu theo đạo Phật cũng có thể đền đáp công ơn cha mẹ và giúp đời cứu người, chữ hiếu, chữ nhân trọn vẹn, và đạo Phật không trái chống với nguyên tắc của Nho giáo. » 19

Theo tác giả Nguyễn Lang, sự tích Quan Âm Nam Hải đã được Việt hóa một cách hoàn toàn. Đức Quan Âm này, tuy là công chúa thứ ba con vua Diệu Trang ở nước Hưng Lâm ( ?) nhưng đã đi tu tại núi Hươ ng Tích ở Việt Nam và thành Phật tại đây. Truyện do một vị tăng đời Nguyên sáng tác. Công chúa thứ ba tên Diệu Thiện không muốn lấy chồng mà quyết chí đi tu. Nàng bị vua cha tìm mọi cách cản trở, hành hạ, ra lịnh xử chém, nhưng được một mãnh hổ cứu thoát. Nàng có dịp xuống địa ngục chứng kiến mọi cảnh khổ, vâng lời Phật dạy về tu tại núi Hương Tích, dùng một tay và một mắt của mình trị bệnh nan y cho vua cha, thuyết phục được cha mẹ bỏ ác làm lành rồi cả nhà cùng tu hành tại chùa Hương Tích. Hai nàng công chúa (chị của nàng) Diệu Thanh và Diệu Âm trở thành Văn Thù Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát.

Chân như đạo Phật rất mầu

Tâm trung chữ hiếu, niệm đầu chữ nhân

Hiếu là độ được đấng thân

Nhân là cứu vớt trầm luân mọi loài.

Cũng như truyện Quan Âm Thị Kính, truyện Nam Hải Quan Âm chủ trương rằng tu theo đạo Phật vẫn có thể làm tròn chữ hiếu và thực hiện chữ nhân. 20

Ngoài ra, một tôn giáo khác ở Việt Nam, Phật Giáo Tứ Ân cũng gọi là Bửu Sơn Kỳ Hương hay đạo Lành do Đoàn Minh Huyên (1807-1856) cũng gọi là Phật thầy Tây-An, thành lập tại xã Long Kiến, quận Chợ Mới, tỉnh An Giang, chủ trương bài trừ mê tín dị đoan, đơn giản hóa các lễ nghi Phật Giáo cho phù hợp với dân tình và khung cảnh đất đai Nam Bộ, nhất là chủ trương đáp đền bốn ơn lớn gọi là « tứ đại trọng ân » đó là ơn tổ tiên cha mẹ (hiếu), ơn đất nước (trung), ơn tam bảo (phật, pháp, tăng), ơn đồng bào và nhân loại (con người). Phật Giáo Tứ Ân do Đức Phật Thầy Tây An thành lập truyền được ảnh hưởng lớn với các chi phái về sau như Phật Trùm, Đức Bổn Sư Ngô Văn Lợi, Sư Vải Bán Khoai, Nguyễn Đa v.v... về sau có được 12 vị đại đệ tử như các ông Trần Văn Thành, Nguyễn Văn Thới, và sau này là Phật Giáo Hòa Hảo của Đức Huỳnh Phú Sổ (1920-1947). Chữ hiếu cũng luôn được chú trọng đề cao trong các tôn giáo trên đây.



2.3. Khổng Giáo bàn về chữ hiếu.

Lịch sử văn hóa Trung Quốc đã để lại những trang phong phú nói về đạo hiếu tự ngàn xưa trong đó có Kinh Thi được coi như ca dao, tục ngữ của Việt Nam, là một bộ môn văn chương bình dân tối cổ, có những câu nói về công ơn cha mẹ rất cảm động :

« Phụ hề sinh ngã, mẫu hề cúc ngã,

Ai ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao,

Dục báo thâm ân, hiệu thiên võng cực ».

Nghĩa là : cha sinh ta, mẹ nuôi ta. Hỡi ôi, cha mẹ sinh ta cực nhọc. Muốn đền đáp âm đức của cha mẹ, như vói lên trời cao chẳng cùng.

Khổng tử quan niệm chữ hiếu ở một mức độ rất cao. Trong sách Trung dung, Khổng tử có nói rằng : « Kính kỳ sở tôn, ái kỳ sở thân, sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn, hiếu chi chí giã » (nghĩa là : kính những người cha mẹ đã tôn trọng, yêu những người cha mẹ đã yêu mến, thờ cha mẹ lúc chết rồi cũng như lúc hãy còn, ấy là hiếu đến rất mực vậy). Là một bậc thầy uyên bác, Khổng tử có nhiều lối trả lời khác nhau khi được hỏi về chữ hiếu với các đệ tử. Mạnh Ý-tử ( quan đại phu nước Lỗ, họ Trọng tôn, tên là Hà-Kỵ) hỏi thờ đấng thân thế nào gọi là hiếu. Đức Khổng nói rằng : « Thờ đấng thân mà không ngang trái là hiếu. » Thày Phàn trì ngự xe cho đức Khổng, đức Khổng bảo cho rằng : « Họ Mạnh-tôn hỏi ta điều hiếu, ta thưa rằng : « Không ngang trái ». Thày Phàn trì hỏi rằng : « Lời ấy là ý bảo thế nào ? » Đức Khổng nói rằng : « Ta nói không ngang trái là không ngang trái với lẽ phải. Người con thờ đấng thân, khi đấng thân còn thì phụng dưỡng cho phải lễ ; khi đấng thân mất thì tống táng cho phải lễ ; khi tế đấng thân thì tế cho phải lễ »

Mạnh Vũ-Bá (con Mạnh Ý-tử, tên là Trệ) hỏi điều hiếu. Đức Khổng nói rằng : « Cha mẹ chỉ chăm lo về tật bệnh người con ».

Thầy Tử-Du (học trò Đức Khổng, họ Ngôn, tên Yển) hỏi điều hiếu. Đức Khổng nói rằng : « Đời nay chỉ bảo rằng nuôi được cha mẹ là hiếu. Nhưng suy đến loài hèn như khuyển mã, cũng còn nuôi nó cả. Nếu nuôi cha mẹ mà chẳng kính, thì có khác gì đâu !. »

Tử-Hạ (học trò của đức Khổng, họ là Bốc, tên là Thương) hỏi điều hiếu. Đức Khổng nói rằng : « Khi thờ cha mẹ, khó nhất là nét mặt hòa vui. Nếu kẻ đệ tử chỉ biết phục dịch làm thay việc khó nhọc cho phụ huynh, và có rượu cơm mời ngài xơi, những điều ấy có kể là hiếu đâu »21.

Trong lần khác, Khổng tử nói quan hệ của con cái đối với cha mẹ cũng thể hiện trong cuộc sống, cách sống. Khi cha mẹ còn, không bao giờ làm điều gì đề cho cha mẹ lo buồn, bởi vậy không nên đi đâu xa, có đi xa thì phải nói cho cha mẹ biết chỗ đi để cha mẹ khỏi lo, và nhỡ có việc gì, có thể tìm gọi được: “Phụ mẫu tại, bất viễn du, du tất hữu phương” (Luận ngữ: Lý nhân, IV). Những điều mà cụ Trần Trọng Kim vừa diễn đạt đó cũng còn có ít nhiều giá trị cho đến bây giờ. Trong Nho giáo, học giả họ Trần nói thêm: “ Lấy lễ mà thờ cha mẹ không phải là cha mẹ làm điều gì trái đạo cũng theo. Khổng-tử nói: “Sự phụ mẫu cơ gián, kiến chí bất tòng, hựu kính bất vi, lao nhi bất oán. (thờ cha mẹ thì khi cha mẹ có làm điều gì lầm lỗi, con phải tìm cách êm-đềm dịu-dàng mà can-ngăn, thấy cha mẹ không nghe, thì lại kính mà không trái lễ, dẫu có phải điều đau đớn khó nhọc cũng không oán giận”. (Luận ngữ, Lý nhân, IV). 22

Ảnh hưởng của việc làm, tâm tính của bậc cha mẹ cũng tác động nhiều trên con cái. Khổng tử có dạy: “Phụ tại quan kỳ chí, phụ một quan kỳ hành, tam niên vô cải ư phụ chi đạo, khả vị hiếu hỹ” : cha còn thì phải xem cái chí của cha, cha mất rồi phải xem việc làm của cha, ba năm không đổi cái đạo của cha, khả gọi là hiếu vậy. (Luận ngữ, Học nhi, I) 23.

Nhưng đối với Đức Khổng, tinh thần trung dung luôn luôn được sử dụng như là một thái độ cần thiết trong cuộc sống con người. Một hôm Diệp-công bảo Khổng tử rằng: “Ngô đảng hữu trực cung giả, kỳ phụ nhương dương, nhi tử chứng chi” (xóm chúng tôi có người cứ lấy cái thẳng mà khiến mình: cha đi ăn trộm dê, mà con đi làm chứng). Ngài nói rằng: “Ngô đảng chi trực giả dị ư thị, phụ vi tử ẩn, tử vi phụ ẩn, trực tại kỳ trung hỹ” (người thẳng xóm chúng tôi thì khác thế: cha che chở cho con, con che chở cho cha, cái trực ở trong đó vậy.- Luận ngữ, Tử Lộ, XIII) 24.

Đức Khổng rất đề cao chữ hiếu vì đó là căn bản ứng xử của con người, từ đó mà việc thảo kính của con cái đối với cha mẹ đã được xem như là một đạo hiếu (hiếu đạo) và những tư duy về nguyên tắc căn bản trong sự đối đãi giữa con cái đối với cha mẹ có thể tìm thấy trong Hiếu kinh của họ Khổng. Mạnh tử cũng có nói : “Bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại.” nghĩa là trong ba điều bất hiếu thì việc không có con nối dõi là điều bất hiếu to nhất.

Thầy Tử Lộ là một tấm gương chí hiếu đối với cha mẹ. Thuở mẹ ông còn sinh tiền, ông phải đi đội gạo thuê đàng xa để lấy tiền nuôi mẹ. Đến khi ông thành công ở đời, xe ngựa rập rình, áo mũ xênh xang làm quan cao chức trọng thì cha mẹ ông đã qua đời hết. Ông buồn bã than rằng: “Mộc dục tịnh nhi phong bất đình!

Tử dục dưỡng nhi thân bất tại”.

Nghĩa là cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng ! Con muốn nuôi báo hiếu mà cha mẹ chẳng còn sống. Thương thay nỗi lòng của thầy Tử Lộ cũng là nỗi đau khổ chung của những người con có hiếu!

Trong tác phẩm Trung Quốc Triết Học Sử, Bác sĩ Hồ Thích cho rằng Khổng tử nói về hiếu đạo chưa đầy đủ bằng Tăng tử . Tăng tử nói: “Hiếu hữu tam: đại hiếu tôn thân, kỳ thứ phất nhục, kỳ thứ năng dưỡng”, nghĩa là: Hiếu có ba điều: đại hiếu phải tôn thân, sau nữa không làm điếm nhục, sau nữa mới nuôi dưõng. Theo Hồ Thích, tôn thân là tôn cao cái nhân cách của mình, tôn cao cái nhân cách của cha mẹ mình, không hủy hoại thân thể mình; không làm điếm nhục đến cái nhân cách mà cha mẹ đã truyền cho ta và sau hết là nuôi dưỡng cha mẹ.25

Nói chung học thuyết Khổng Mạnh chú trọng đến chữ hiếu, đề cao chữ hiếu cho nên những lời Khổng tử nói với Tăng tử về chữ hiếu gồm thành một quyển sách gọi là Hiếu kinh, các nguyên tắc ứng dụng cho tròn chữ hiếu, các nghi thức thực hành hiếu đễ gọi là hiếu đạo đã ảnh hưởng rất sâu xa trong một số xã hội Á đông trong đó có Việt Nam từ xưa cho đến nay.



III.- CHỮ HIẾU TRONG NỀN VĂN HỌC VIỆT NAM.

Trong gia đình cũng như ngoài xã hội Việt Nam, qua giao tiếp giữa người này với kẻ khác, vấn đề trung, tín, hiếu, đễ luôn luôn là chuẩn mực để đánh giá tư cách con người, bởi thế mà tục ngữ Việt Nam có câu: “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng”. Dĩ nhiên tiếng ở đây gồm hai lãnh vực tốt và xấu trong đó vấn đề chữ hiếu.



3.1. Các chứng liệu chữ hiếu trong văn chương bình dân và bác học.

Dân tộc Việt Nam vốn là dân tộc hiếu đễ, tôn trọng luân thường đạo lý, kính trọng tổ tiên, ông bà, cha mẹ nên trong các hình thức văn chương bình dân như ca dao, tục ngữ những vấn đề đạo đức, luân lý cũng được nói đến với tất cả sự đề cao, trân trọng:

Công cha như núi Thái sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha,

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

hoặc: Lên non mới biết non cao,

Nuôi con mới biết công lao mẫu từ.

hay là so sánh: Mẹ nuôi con bằng trời bằng bể,

Con nuôi mẹ con kể từng ngày.

Công ơn cha mẹ thể hiện từ khi sinh ra, thời gian đi học cho đến tuổi trưởng thành: Con học, thóc vay.- Gia cảnh dù túng thiếu, cha mẹ vẫn chạy vạy chỗ này chỗ nọ để có phương tiện nuôi cho con đi học. Con đóng khố, bố cởi truồng.- Sự hy sinh về vật chất để cho con cái đầy đủ. Con lên ba cả nhà học nói.- Niềm vui và sự cộng tác của mọi người để dạy con. Cá không ăn muối cá ươn, con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư.- Kinh nghiệm khôn ngoan học hỏi ở cha mẹ để tránh được thất bại mà đạt đến thành công. Cơm cha áo mẹ ăn chơi, Cất lấy cơm người đổ bát mồ hôi.- Thừa hưởng công sức của cha mẹ một cách vô tình trong khi gặp cảnh khó khăn, cô đơn lẻ loi thì phải làm cật lực mới có cái ăn. Còn cha ăn cơm với cá, còn mẹ liếm lá ngoài cửa.- Nói về khả năng nuôi con cái của cha hay mẹ. Con có cha như nhà có nóc.- Nói về sự vững vàng khi con còn có cha. Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn.- Sự hy sinh chẳng quản đến thân mình của người mẹ.

Con ơi mẹ bảo đây này

Học buôn học bán cho tày người ta,

Con đừng học thói chua ngoa

Bạn bè khinh dễ, người ta chê cười.

Ca dao khuyên răn:

Đói lòng ăn đọt chà là

Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng.

Kho tàng tục ngữ ca dao của dân tộc còn có rất nhiều câu nói phản ảnh tinh thần hiếu đạo và mối liên hệ giáo huấn của cha mẹ đối với con cái. Những câu nồng nàn lòng yêu thương và niềm cảm mến nuối tiếc của con cái đối với bậc cha mẹ khi những người thân này đã khuất bóng:

Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Ngó về quê mẹ ruột đau chín chìu

Cốt lõi của hiếu đạo là:

Thờ cha mẹ ở hết lòng

Ấy là chữ hiếu dạy trong luân thường.

Chữ đễ nghĩa là nhường,

Nhường anh , nhường chị lại nhường người trên.

Ghi lòng tạc dạ chớ quên,

Con em phải giữ lấy nền con em.

Đối với các bậc trí thức khoa bảng Việt Nam trước đây, việc trứ thuật các tác phẩm nhắm mục đích giáo dục tinh thần hiếu đễ cho con em được xem như là một trong những chủ đích của mình. Các tác phẩm văn học nổi tiếng như Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu cũng được xây dựng trên chủ đề chữ hiếu. Sau đây là điển hình một số tác giả có tác phẩm viết về vấn đề chữ hiếu, đạo hiếu.

Nguyễn Trãi là một bậc khai quốc công thần của nhà Hậu Lê. Ông sinh năm 1380, quán làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông, con trai Nguyễn Ứng Long tức Nguyễn Phi Khanh, đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) năm 21 tuổi,ra giúp Lê Lợi khoảng năm 1421, giữ các việc tham mưu và viết các thư từ trọng đại cho lê Lợi trong việc xử trí với quân Minh. Khi Lê Lợi lên ngôi, ông được phong tước Quan Phục hầu, làm Nhập Nội Hành Khiển dưới thời Lê Thái Tông. Sau ông bị gặp phải vụ án Nguyễn Thị Lộ mà bị tru di tam tộc năm 1442. Tác phẩm ông để lại có rất nhiều loại viết bằng chữ Hán gồm Quân trung từ mệnh tập, Dư địa chí, Ức trai thi tập; Văn loại trong số đó có tập “Gia huấn ca (bài hát dạy người nhà) vẫn truyền là của ông soạn ra, nhưng không được chắc lắm.

a) Tập này có sáu bài ca: 1. Dạy vợ con; 2. Dạy con ở cho có đức; 3. Dạy con gái; Vợ khuyên chồng; 5. Dạy học trò ở cho có đạo; 6. Khuyên học trò phải chăm họ.

b) Các bài ca viết theo thể lục bát, nhiều khi đặt xen những câu bảy chữ.

c) Chủ ý tác giả là đem các điều cốt yếu, trong luân thường diễn ra lời nôm cho đàn bà trẻ con đọc.

d) Lời văn bình-thường, giản-dị, lưu-loát êm-ái. Nếu tập ấy thật của Nguyễn-Trãi soạn ra, thì văn nôm của ta về đầu thế-kỷ thứ XV cũng không khác nay mấy, chỉ thỉnh-thoảng có một vài chữ nay ít dùng.”26

Đặt ra ngoài tính cách nghi ngờ về tác giả sách Gia huấn ca, chúng ta cũng nhận chân được ý thức về giá trị của tinh thần hiếu đạo mà người xưa thường quan niệm.

Một danh sĩ thời Nguyễn, Lý Văn Phức (1785-1849) người làng Hồ khẩu, huyện Vĩnh thuận, tỉnh Hà đông, làm quan trải ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, nhiều lần đi sứ các nước lân cận, đã sáng tác nhiều sách vở bằng Hán văn như Việt hành ngâm, Việt hành tục ngâm, trong số đó có tập Nhị thập tứ hiếu nói về 24 người con có hiếu ở bên Tàu. “Lý Văn Phức là một nhà luân lý muốn đem các điều luân thường đạo lý để khuyên răn người đời. Tác phẩm “Nhị thập tứ hiếu” (416 câu thơ song thất lục bát) đã thành một cuốn gia-huấn ca được phổ cập rộng rãi trong dân chúng.”27

Trong thế kỷ trước, tác phẩm Nhân Thế Tu Tri do Cao Xuân Dục (1842-1923), Phó tổng tài Quốc sử quán triều Thành Thái biên soạn bằng Hán văn theo lời đề nghị của Diên Lộc Quận Công Nguyễn Thân năm 1899 và in năm Thành Thái thứ 14 (1902), bản dịch do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2001 với nhan đề Người Đời Nên Biết có ghi “Chủ đề của tác phẩm là làm sáng tỏ luân thường nhân sinh, việc học làm người, phép lập thân xử thế. Sách tập trung vào những điều thiết yếu có quan hệ đến nhật dụng nhân sinh thông qua các lời đã chép, việc đã làm rút trong Kinh, Sử, Tử, Tập...” Những lời châm ngôn, những tấm gương hiếu đễ, những lời khuyến thiện trừng ác của Trung Hoa, của Việt Nam, những việc làm tốt đẹp của các danh nhân liệt nữ đều được biên tập lại trong sách này có thể coi đây là một hệ thống quy phạm đạo đức chính thống triều Nguyễn 28.

Ngoài ra, một vị linh mục Công giáo mà công trình kiến trúc nhà thờ Phát Diệm của ông đã nêu phương danh lại cho hậu thế đó là Linh mục Trần Lục hay còn gọi là Cha Sáu hoặc Père Six vốn là Khâm sai đại thần dưới triều vua Tự Đức cũng đã để lại một công trình trứ tác văn chương nổi tiếng về vấn đề giáo dục chữ hiếu. Linh mục Trần Lục nguyên quán làng Mỹ Quan, tổng Cao Vĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, sinh năm 1825, đi tu năm 1845 tại chủng viện Vĩnh Trị, năm 1860 thụ phong linh mục, từng làm Gia lễ bộ Tham tri, Khâm sai Tuyên phủ sứ của vua Đồng Khánh, Lễ bộ Thượng thư của vua Thành Thái. Ngài mất năm 1899. Tác phẩm của linh mục Trần Lục Sách thuật lại ít nhiều ca vè gồm có ba tác phẩm có tên Hiếu tự ca (1088 câu), Nữ tắc thường lễ (1016 câu), Nịch ái vong ân (440 câu).

“Hiếu tự ca nói về chữ hiếu của người Việt Nam, đối với cha mẹ và tổ tiên. Tất cả là người đã sinh ra đều mang nợ với tổ tiên và cần báo đền.

Mấy lời hiếu tự nói qua,

Để cho ai nấy trẻ già nhớ ơn.

Làm người sống ở thế gian,

Ai không đội đức cao san nặng dày.” 29

“Nữ tắc thường lễ là bài chỉ dẫn những nguyên tắc, những điều thông thường cho thanh thiếu nữ cần biết trở thành người lương thiện và giáo dân đạo hạnh. Cụ Sáu đưa ra tám điều trong sinh hoạt hằng ngày của người con gái để sống: thảo kính cha mẹ, lo liệu công việc nhà, giao tiếp xã hội bên ngoài, dáng điệu đi đứng, cử chỉ khi ngồi, lời ăn tiếng nói, cách thức trang phục và trau dồi nghề nghiệp. Tất cả dựa theo đạo tam tòng: phụ phu tử và tứ đức: công dung ngôn hạnh.

Sinh mà không dạy khác gì,

Như loài mục súc ngu si quê mùa.

Dạy con thì dạy đầu sơ,

Đang khi còn bé dạy thì dễ in.

Lòng như giấy trắng nguyên tuyền,

Ta mà muốn vẽ đỏ đen khó gì.

Nữ nhi bay cũng phải suy,

Cá không ăn muối ắt thì cá ươn.” 30

“Nịch ái vong ân là bài học dành cho thanh niên. Đến tuổi trưởng thành lập nghiệp có gia đình, người thanh niên nên biết khéo sống với vợ, và khôn với cha mẹ hai bên. Muốn có người vợ ăn kiếp ở đời với mình phải lựa chọn, đắn đo, bàn tính trước sau, không vội vàng bừa bãi mà ân hận suốt đời.

Dạy con từ thuở lên ba.

Dạy vợ khi mới về nhà làm dâu. (17-18)

Cả vợ chồng việc làm đầu tiên là thảo kính tứ thân phụ mẫu tùy khả năng.

Tứ thân cha mẹ bình an,

Đi thăm về viếng hỉ hoan tươi cười.

Canh riêu miếng lạt miếng tươi,

Liệu chừng thay đổi cho người bổ lao.

Lúc người yếu đuối liệt lào,

Trông nom chớ để giờ nào qua không.” 31

Tóm lại, tác phẩm chủ yếu vẫn là Hiếu Tự Ca là tập thơ “diễn tả những tâm tình, những sự kiện liên quan đến lòng hiếu thảo xảy ra hằng ngày trước mắt đại chúng. Chữ Hiếu trong Khổng học, chữ Hiếu trong Thiên chúa giáo, và chữ Hiếu trong niềm tin phổ thông nơi đại chúng, trước ba lựa chọn ấy, Cha Sáu và dân con vùng Phát Diệm, qua Hiếu Tự, đã chấp nhận lựa chọn thứ ba, chỉ vì lựa chọn ấy sẽ cung ứng nhiều phương án hợp cảnh, hợp tình hơn.” 32



3.2. Một vài mẫu chuyện liên quan tới chữ hiếu:

Trong kho tàng lịch sử và văn học Việt Nam, chúng ta có thể kiếm ra rất nhiều tấm gương hiếu thảo đức hạnh của biết bao anh hùng, danh nhân, liệt nữ chói lọi nghìn thu. Có những mẩu chuyện được truyền lưu trong dân gian ít được sử sách ghi lại. Sau đây chúng tôi xin lược ghi một số chuyển biểu trưng cho những tấm lòng hiếu hạnh đó.

Vua Lê Thánh Tôn hiếu với mẹ.

Vua Lê Thánh Tôn là một vị minh quân trong lịch sử Việt Nam, trị vì từ 1460 đến 1497. Dưới thời của ngài, đất nước phát triển về kinh tế, văn học, cương thổ, quân sự. Ngài cũng là người con rất có hiếu. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi lại rằng : “ Trước đây, hồi tháng 2, Hoàng thái hậu đi lễ lăng về, không may bị bệnh nặng, đến giờ Hợi, ngày 26 tháng nhuận, băng ở chính tẩm điện Thừa Hoa, thọ 76 tuổi. Khi Hoàng thái hậu chưa băng, mùa đông, vua cùng Hoàng thái tử ngày đêm chăm sóc, không lúc nào rời bên cạnh. Khi dâng thuốc thang hay đồ ăn uống, vua nhất định tự mình nếm trước; trong thì kêu với tổ tiên, ngoài thì dốc lòng cầu khẩn, không thần nào là không khấn. Đến khi hấp hối cũng tự kêu gào, Thái hậu còn nhếch mép một chút, muốn nói để từ giã. Mọi việc mặc áo, khâm liệm, bỏ gạo vào miệng người chết, vua đều tự làm lấy cả để tỏ lòng đau xót.”33

Trịnh Kiểm với chuyện ăn cắp gà.

Cho đến nay, cuộc đời của nhũng danh nhân lịch sử thường được tô điểm bằng những câu chuyện gọi là giai thoại Trịnh Kiểm là người làng Sóc sơn, huyện Vĩnh lại tỉnh Thanh hóa, có công trong việc trung hưng nhà Lê vào những năm giữa thế kỷ 16. Tương truyền thuở nhỏ Kiểm đã có lần ăn cắp con gà mái của hàng xóm làm thịt cho mẹ ông ăn vì ông vốn rất có hiếu với mẹ nhưng nhà lại quá nghèo. Hàng xóm biết được bắt mẹ ông thả xuống giếng cho chết. Câu chuyện thực hư như thế nào không biết nhưng cũng là yếu tố góp công xây dựng một chút huyền sử cho vị thái sư họ Trịnh này.

Chuyện người giết cọp xứ Quảng.

Nguyễn Văn Danh, người Bình Sơn, Quảng Ngãi, lúc đầu thi đỗ tú tái. Cha đi thăm nương bị hổ vồ mang đi. Danh đem người nhà đi tìm thây cha, thấy vết hổ có một dấu chân nhỏ, bèn đo và ghi lại. Sau đó đặt bẫy, ngày đêm chỉ lo việc bắt hổ. Sau bắt được một con hổ chân sau hơi nhỏ, so với kích thước đo thì khớp, lập tức giết hổ lấy tim gan tế trước mộ cha, ăn sống đến hết. Nhân đó mắc bệnh, mỗi khi nói chuyện với người, tiếng rống như hổ. Thiệu Trị năm thứ sáu, được biểu dương. 34

Lòng hiếu thảo của vua Tự Đức.

Vua Tự Đức (1847-1883) vốn là người rất có hiếu với mẹ. Mẹ ngài là bà Phạm Thị Hằng tức Đức bà Từ Dũ, con của ông Phạm Đăng Hưng là một vị khai quốc công thần thời Gia Long. Vua Tự Đức thường dành những ngày không thiết triều để viếng thăm mẹ và những điều mẹ ngài dạy ngài đều ghi vào một cuốn sổ gọi là Từ Huấn Lục. Sau đây là một câu chuyện nói về lòng hiếu thảo của nhà vua.

Một hôm vua Tự Đức đi săn ở rừng Thuận trực ở phía thượng nguồn sông Lợi Nông, cách kinh thành Huế khoảng 15 cây số. Gặp lúc trời mưa lụt nên nhà vua không về được mà chỉ còn hai ngày nữa là ngày kỵ của vua cha là Thiệu Trị. Bà Từ Dũ bèn sai Nguyễn Tri Phương đi tìm đón rước về. Dọc đường hai bên gặp nhau nhưng vì nước sông chảy mạnh quá nên thuyền không thể đi nhanh được mà tối đến mới về tới kinh thành. Vua Tự Đức vội vã bất chấp trời mưa đến trình diện mẹ mình xin chịu tội. Bà Từ Dũ ngồi quay mặt vào trong, im lặng không nói gì. Vua Tự Đức bèn lấy một cây roi mây dâng lên mẹ và đặt nơi trường kỷ rồi lặng lẽ nằm xuống khẩn khoản xin chịu tội. Bà mẹ bấy giờ mới quay lại lấy tay hất cây roi mây rồi nói: “Thôi tha cho, đi chơi để cho quan quân cực khổ thì phải ban thưởng cho người ta.” 35

Câu chuyện hoàng tử Lý Long Tường.

Câu chuyện sau đây có tính cách thời sự và đặc biệt nối kết con người hiện tại với quá khứ cách đây hơn tám trăm năm.

Năm 1225, do âm mưu sắp đặt của Trần Thủ Độ, ngai vàng họ Lý bị chuyển sang tay họ Trần do việc Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Trần Thủ Độ tiến hành việc tận diệt dòng dõi nhà Lý, giết vua Lý Chiêu Tông, cùng sát hại toàn bộ tôn thất nhà Lý. Hoàng tử thứ hai là Lý Long Tường, con vua Lý Anh tông (1136-1175) và là em của Lý Long Trát (tức Lý Cao Tông 1175-1210) biết rõ nếu chần chừ trước sau cũng bị hại về tay Trần Thủ Độ. “Lý Long Tường đau xót trước sự sụp đổ của vương triều Lý và lo lắng tông miếu bị hủy bỏ, không ai thờ cúng tổ tiên. Năm 1226, ông đem theo đồ thờ của tổ tông, chạy về phía đông dùng thuyền vượt biển ra nước ngoài...thuyền của ông cuối cùng đã vượt qua biển cả mênh mông, đến sông Phú Lương huyện Bồn Tân phía tây nước Cao Ly và ông đã cư trú tại Trấn Sơn phía nam phủ thành.” 36. Vua phát hiện ra hoàng tử An nam bèn cấp đất lập cho thái ấp tên Hoa Sơn. Tại đây hoàng tử Lý Long Tường đã góp sức đánh bại quân Nguyên bằng sức mạnh và mưu trí trong rất nhiều trận chiến khiến cho vua Cao ly rất cảm phục. Dù xa quê nhưng Lý Long Tường vẫn luôn nhớ về quê cũ nên được vua Cao ly xây cho Vọng quốc đàn trên đỉnh Hoa Sơn để ngày ngày ông lên đó hướng về phía nam mà lắng lòng trầm tư. Vua Cao Ly ban quan tước, cấp thêm 30 dăm vuông đất và nhân khẩu 20 hộ cho ông làm thái ấp để thờ cúng tổ tiên.

Sau chiến tranh, Hoàng tử Lý Long Tường mở trường dạy học, dựng đài bình văn, lập đền thờ các bậc thánh hiền, học trò có nhiều người đỗ đạt. Con cháu ông dần dà sinh sôi nảy nở trên đất CHDCND Triều Tiên và ở Hàn Quốc, riêng ở đây có khoảng 200 hộ với trên 600 người. Gia phả của dòng họ gọi là Hoa Sơn Lý thị tộc phổ ghi chép được 32 đời kể từ đời vua Lý Thái tổ (Lý Công Uẩn). Các di tích của dòng họ Lý tại Hàn Quốc cho đến nay vẫn được gìn giữ cẩn thận chẳng hạn như ngôi mộ của Lý Long Tường dưới chân núi Di Ất phía tây phủ thành Bồn Tân 10 dặm, di tích Thụ hàng môn và tấm bia Thụ hàng môn kỷ tích bi, di tích thành lũy và dinh quán cũa Hoa Sơn Quân. Năm 1994, một người cháu đời thứ 26 của hoàng tử Lý Long Tường là Lý Xương Căn đã từ Hàn Quốc tìm về cố hương là làng Đình Bảng thăm viếng và hội ngộ lại với tổ tiên, dòng tộc theo lời căn dặn của tiền nhân.

Trong tác phẩm Đường Hy Vọng biên soạn trong một hoàn cảnh rất đổi khó khăn của tác giả, Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận (1928-2002) có viết : “Gia đình là một “trung tâm ánh sáng”, đem ngọn lửa hồng đốt sáng nóng kẻ khác. Ngày nào mỗi gia đình là “một trung tâm ánh sáng”, thế giới này sẽ là một đại gia đình, đầy ánh sáng, đầy hy vọng”.37

Nhân mùa Vu Lan, thử suy tư về một vài quan điểm tôn giáo bàn về chữ hiếu với ước mong hiếu đạo là căn bản vững chắc của mọi sinh hoạt gia đình Việt Nam ở hải ngoại cũng như trong nước qua mọi thời đại và mọi người đều có bổn phận giữ cho cái căn bản đó (trung tâm ánh sáng) tồn tại mãi mãi và soi sáng đến muôn đời !



Nguyễn Đức Cung

New Jersey August, 10, 2008



CHÚ THÍCH:

1.- Dr. L. Wieger, S.J, Chinese Characters, Paragon Book Reprint Corp., New York Dover Publications, Inc., New York, trang 88.

2.- Nguyễn Đăng Duy, Văn hóa tâm linh, Nhà xuất bản Hà Nội, 1998, tr. 167.

3.- Thiều Chửu, Hán Việt tự điển, Nhà xuất bản Đại Nam, trang 137. Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển, Nhà xuất bản Tràng Thi, Sài Gòn, 1957, trang 361.

4.- Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ, Kinh Thánh Cựu Ứơc và Tân Ước, Huấn Ca, Tòa Tổng Giám Mục Thành Phố Hồ Chí Minh, 1998, trang 1282.

5.- Nhóm Phiên Dịch, Sách đã dẫn, tr. 1871.

6.- Nhóm Phiên Dịch, Sđd, tr. 2196.

7.- Nguyễn Phương, Cha Đắc-Lộ với sự thành lập Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, Tạp chí Đại Học, năm thứ tư, 1961, số 1 kỷ niệm giáo sĩ Đắc Lộ, tr. 71. Phan Phát Huồn, Việt Nam Giáo Sử, tập I, Cứu Thế xuất bản, Sài Gòn 1965, bản in lần thứ hai, tr. 35.

8.- Ngô Nhân Dụng, bài Thực vi văn hiến chi bang, Thế kỷ 21, số 161, September, 2002, tr. 10-11.

9.- Lê Ngọc Bích, Nhân Vật Giáo Phận Huế, Tập I, 2000, tr. 347.

10.- Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Bộ Giáo Dục, Trung Tâm Học Liệu Xuất Bản, in lần 10, 1968, tr. 58.

11.- Nguyễn Đăng Thục, Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam, Tập II, Nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh, 1998, tr. 117.

12.- Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Tập I, Lá Bối xuất bản, 1973, tr. 39.

13.- Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật Giao Việt Nam, Nxb. Thành Phố HCM, tập I, tr. 31

14.- Chu Văn Sơn, Angkor – những đối cực của cái đẹp, Talawas, ngày 5.1.2007.

15.- Stephen Oppenheimer, Eden in the East, The Drơned Continent of Southeast Asia, Phoenix, 2001, tr. 91.

16.- Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Tập II, Lá Bối xuất bản, 1973, tr. 64.

17.- Hòa thượng Thích Thiện Hoa, Phật Học Phổ Thông, quyển I, Thành Hội Phật Giáo Thành Phố Hồ Chí Minh ấn hành, 1992, tr. 231.

18.- Thích Thanh Kiểm, Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc, Nhà xb. Tôn Giáo, Hà Nội, 2001, tr. 139.

19.- Nguyễn Lang, Sđd, tập II, tr. 79. Nguyễn Đăng Thục, Quan Âm Thị Kính, Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam, Tập I, Nhà xuất bảnThành Phố Hố Chí Minh, 1998, trang 374-391.

20.- Nguyễn Lang, Sđd, tập II, tr. 83. Nguyễn Đăng Thục, Sự Tích Phật Bà Chùa Hương Tích, Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam, Tập I, Nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh, 1998, trang 357-373.

21.- Nguyễn Hữu-Tiến và Nguyễn Đôn-Phục dịch Luận Ngữ (Thiên Vi chính, Chương V-VIII, trích trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu của Dương Quảng Hàm, Bô Giáo Dục, Trung Tâm Học Liệu Xuất Bản, bản in lần 10, 1968, tr. 42.

22.- Trần Trọng Kim, Nho Giáo, quyển thượng, Bộ Giáo Dục, Trung Tâm Học Liệu Xuất Bản, 1971, tr. 106.

23.- Trần Trọng Kim, Sđd, tr. 107.

24.- Trần Trọng Kim, Sđd, tr. 107.

25.- Hồ Thích, Trung Quốc Triết Học Sử, bản dịch Huỳnh Minh Đức, Khai Trí xuất bản, 1970, tr. 261-262.

25.- Dương Quảng Hàm, Sđd, tr. 270.

27.- Nguyễn Huyền Anh, Việt Nam Danh Nhân Từ Điển, Cơ sở xuất bản Zieleks, tr. 176.

28.- Tuyển Tập Cao Xuân Dục, Tập 1, Người Đời Nên Biết (Nhân Thế Tu Tri), Trần Lê Sáng, Phạm Kỳ Nam dịch, Nhà xuất bản Văn Học, 2001, tr. 7-8.

Muốn hiểu thêm về tác phẩm Người Đời Nên Biết tức Nhân Thế Tu Tri của Cao Xuân Dục xin đọc thêm Nguyễn Đức Cung, Diên Lộc Quận Công Nguyễn Thân, Nhà xuất bản Nhật Lệ, Philadelphia, Hoa Kỳ 2002, tr. 394-408.

29.- Phạm Bá Nha, Đọc tác phẩm “ Sách thuật lại ít nhiều ca vè”, bài trích trong Trần Lục do một Ban Biên Tập ấn hành tại Canada, 1996, tr. 143.

30.- Phạm Bá Nha, Bài đã dẫn, tr. 146.

31.- Phạm Bá Nha, Bài đã dẫn, tr. 151.

32.- Phạm Xuân Thu, Tìm hiểu “Hiếu Tự Ca” của Cha Sáu Trần Lục (1825-1899), bài trích trong Trần Lục do một Ban Biên Tập ấn hành tại Canada, 1996, tr. 179.

33.- Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Bản kỷ thực lục, quyển XIII, kỷ nhà Lê, Viện Khoa Học Xã Hội, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1998, tr. 514.

34.- Tuyển Tập Cao Xuân Dục, Sách đã dẫn, tr. 245.

35.- Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, bản in lần VI, Tân Việt, Sài Gòn, tr. 471.

36.- Phan Huy Lê, Họ Lý Hoa Sơn, một họ Lý gốc Việt ở Hàn Quốc, bài trích trong Tìm Về Cội Nguồn, Tập II, Nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội, 1999, trang 432-440. Một số báo xuân trong nước như Tuổi Trẻ, Thanh Niên trước đây cũng có vài bài tường thuật về sự kiện lịch sử này.

37.- Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận, Đường Hy Vọng, Kinh Đô ấn quán, Houston, (không đề năm in), tr.116.

 

=====Xem thêm:

Câu Chuyện Của Người Mẹ và Nỗi Lòng Người Con


Uyên Hạnh




Có một người mẹ rời quê hương ra đi đã lâu. Cô rời quê hương cùng chồng và đứa con gái đầu lòng đến sinh sống một nơi cách quê nhà khá xa. Cuộc sống thường nhật dần dà được ổn định, nhờ hai vơ chồng cô chịu khó làm ăn. Tháng năm qua, hai vợ chồng làm ăn khá giả và họ sinh thêm được một đứa con trai. Hai đứa trẻ đều thông minh, đời sống lại đầy đủ nên học hành rất chăm chỉ, và cả hai được xem là học trò giỏi của lớp và của trường.

Đời sống của họ trôi qua trong bình thường với cuộc sống thường nhật của những khó khăn cũng như niềm vui có được. Thời gian đi mau và các con của họ lớn dần. Người con gái của họ vào năm 18 tuổi, đã tốt nghiệp Trung học với bằng tốt nghiệp có số điểm rất cao, tương lai và hy vọng tràn trề. Ghi danh vào một Đại học tiếng tăm theo ý cha mẹ, cô con gái sẽ đi qua một học trình 5 năm, sau đó theo dự định của mẹ, cô sẽ thực hiện ước mơ của mẹ mình, tiếp tục học để lấy bằng cao học. Nhưng rồi một hôm bỗng dưng cô gái nỗi cơn điên lọan! Kể từ đó, cô gái bỏ cả học hành, khóc khóc cười cười bất thường. Gia đình của họ đi vào khúc rẽ của đời mình. Họ bước vào một hành trình gian truân từ đó.



Thời gian nầy khổ đau nhất là người mẹ. Bà ta là người năng động và có tham vọng rất lớn, nên không chấp nhận những cái gì bình thường, thế nên trong tình huống nầy bà ta nhìn đứa con gái mình mang nặng đẻ đau dứt ruột sinh ra với một thất vọng dữ dội và một bất lực to lớn. Vì thất vọng vì sợ mất mặt với đời nên bà đã gặp lắm nỗi gian truân từ những lăn lóc trong cơn đau nỗi khổ liên tục đêm ngày của hành trình tư tưởng xây dựng trên vọng tưởng của mình. Ngay cả trong giấc mơ bà ta cũng thấy mình đang sống trong sợ hãi và niềm tuyệt vọng. Hai vợ chồng bà thấy rõ cuộc đời của họ đi vào ngỏ cụt không lối thóat. Cuộc sống thường nhật của họ kể từ đó mất niềm vui, chỉ còn thấy khổ đau. Hai vợ chồng và các con họ quay cuồng cuốn hút vào vòng xóay của giận của thương và của sợ hãi. Khi cái lực vô hình của khổ đau đang mãnh liệt chi phối, con người bỗng trở nên yếu đi, mất hết tự chủ, hai vợ chồng họ chỉ biết rơi nước mắt, cằn nhằn, than thân trách phận.



Khổ hay không cũng phải tiếp tục việc làm để kiếm sống. Hai vợ chồng vẫn ngày hai buổi đi làm, người con gái ở nhà vì đã bị đuổi học. Cô con gái sống trong thế giới nửa tỉnh nửa mê, nhưng vẫn tự lo được những việc bình thường như ăn uống, nói chuyện với nhau trong nhà. Người mẹ không chấp nhận con gái mình đã thật sự điên lọan, bởi vì bà không thấy được nguyên nhân của những cơn điên nầy, nên bà ta hy vọng đây chỉ là một cơn khủng hỏang của tuổi mới lớn, rồi sẽ qua đi. Bệnh viện không ”giam lỏng” một bệnh nhân như thế, vì vậy cô gái vẫn ở nhà với bố mẹ. Hằng ngày trước khi đi làm người mẹ dặn dò cô con gái đủ điều, vừa dạy con cẩn thận vừa hăm dọa để cho con sợ mà không làm bậy. Ở nhà buồn quá, cô gái đi ra ngòai và đi lang thang trong tình trạng khi tình khi say, ngơ ngơ ngẩn ngẩn, khóc khóc cười cười. Không chủ động được tư tưởng và hành động của mình, cô gái đã làm nhiều việc đáng tiếc, là đề tài cho sự vật vả và khổ đau ngày càng lớn của người mẹ.



Mỗi buổi chiều xong việc hai vợ chồng vội vã về nhà và người mẹ mong được gặp con gái đang bình yên ở nhà, nhưng cô gái bỏ đi chơi nguyên ngày và thâu đêm suốt sáng, là sự kiện trước đây cô hòan tòan bị ngăn cấm. Nhiều đêm bà mẹ không ngủ ngồi chờ con đi chơi về với sự sợ hãi và nỗi lo âu tràn ngập lòng bà. Đứa con gái đi suốt đêm, và tìm đến những nơi đông người như phòng nhảy với âm nhạc kích động ồn ào để hò hét nhảy nhót cho thỏa thích. Cô uống bia, uống rượu và dùng những lọai thuốc kích thích như Ecstasy khi đến phòng nhảy. Ảnh hưởng của những thứ nầy tạo kết quả cho hành động thác lọan ”khát sống” không kềm chế, và cô gái đã làm những việc mà mẹ cô trước đây đã ngăn cấm, đã dặn dò không cho làm hoặc dữ dội răn đe cô. Sự ngăn cấm hăm dọa trước đây được tác động bởi sự bất mãn trong cô, chất chứa ẩn tàng đầy ắp trong tiềm thức của cô gái, đến hôm nay ”cựa mình sống dậy” làm cô gái sống lọan, sống ”bất cần đời” không kể đến người khác và ngay cả bản thân mình.



Khi vừa mới lớn và bắt đầu có nhận thức về mình và về người, cô gái đã nuôi dưỡng một nỗi uất ức. Những gì cần dạy dỗ con, bà mẹ đã dạy qua lời cằn nhằn, và bằng sự khống chế. Bà không đặt tình thương của mình đúng chỗ để có được sự cảm thông, sự hiểu biết, nói lời giải thích hoặc để tôn trọng con mình bằng việc nghe ý kiến và nhận xét của con. Sống trong sự đặt để như thế cô gái khổ sở cố gắng kềm chế sự bất mãn trước những cằn nhằn hoặc giận dữ của mẹ mình, đôi khi cả sự dữ tợn của người cha qua hành vi trừng phạt không đúng dựa vào những giận dữ vô cớ của người mẹ. Trong đầu óc người mẹ đã phát họa một lối sống cứng ngắt và cũ xưa, bắt con gái phải sống như ý mình, không giải thích không bàn luận, và bất kể là con có đồng ý hay không. Bà mẹ chỉ thấy được mình mà không thấy được con của bà. Ăn ngủ, học hành, giao tiếp với bạn bè phải theo đúng ý của bà, nếu không cô gái sẽ bị gọi là đứa con hư hỏng chỉ bỏ phí cuộc đời mình và là đứa con đại bất hiếu.



Chữ HIẾU được bà mẹ triệt để áp dụng trong những lần ”dạy dỗ” con qua cái nhìn và lối suy nghĩ của riêng bà. Cái thấy của bà không thông suốt được cái xã hội văn hóa học đường trong đó không có người mẹ chỉ có bạn bè và cô gái. Bà mẹ thiếu tinh thần bình đẳng dân chủ tôn trọng kẻ khác, đặc biệt đối với con mình. Bà quên rằng nó là một người trẻ tuổi biết suy nghĩ và hiểu biết.



Những quyết định của riêng bà, đặt căn bản trên cái nhìn như thế, thường trở thành một sự ép buộc một sự đặt để, và do đó có sự chống đối, là dịp bà mẹ cằn nhằn ngày nầy qua ngày khác. Suốt những tháng năm bị đặt để dưới sự hà khắc của người mẹ, cô gái nuôi dưỡng trong lòng niềm phẫn uất ngày một lớn. Nỗi phẫn uất đó dần dần biến thành nội kết trong tâm tư cô gái và đã ăn sâu mọc rễ. Khi nội kết đã theo năm tháng đâm rễ nằm sâu trong lòng sẽ không thể chuyển đổi được nữa. Đến khi sức chịu đựng đã không còn, niềm phẩn uất nổ bùng tạo lọan động trí óc của cô gái, và từ đó cô gái khóc cười, say rồi tỉnh, tỉnh rồi say.



Nhiều năm trôi qua, cô gái vẫn trong trạng thái điên lọan. Người mẹ vẫn khổ đau vật vả than trời trách đất và gia đình rối bời theo từng cơn điên lọan của cô con gái. Mỗi đầu ngày là những lời cằn nhằn và dạy dỗ của người mẹ với con gái. Mỗi buổi chiều bên mâm cơm gia đình là những lời than thân trách phận của bà mẹ. Khi đêm về là lúc người cha nếm mùi căng thẳng sợ hãi của người mẹ, bởi vì bà mẹ vừa khổ đau vừa giận dữ đợi con về đã để tư tưởng mình tự do vẽ những hình ảnh làm bà càng thêm khủng hỏang rối trí. Lời cằn nhằn của bà vẫn đều đặn rót vào tai chồng trên giường ngủ, lào rào suốt đêm, nên cả hai vợ chồng đã nhiều đêm mất ngủ. Ngày đi làm mệt nhọc, đêm về không được nghỉ ngơi đầy đủ, hai vợ chồng sau nhiều năm trở nên khá tiều tụy, sức lực mỏi mòn.



Cuối cùng họ chấp nhận cho con gái điều trị tại bệnh viện tâm thần. Khi tình trạng gia đình vẫn không thay đổi thì cho dù được trị liệu bằng thuốc men sau nhiều tháng nhiều năm, vẫn không đưa cô gái trở về sự bình an của tâm hồn. Những người quen khuyên họ tìm đến chùa để nghe kinh lễ Phật tìm thanh thản tâm hồn và để cầu nguyện cho con gái họ hết cơn điên lọan.



Kể từ đó bà mẹ thường đến chùa tụng kinh niệm Phật. Hằng năm đến Mùa Vu Lan, người mẹ ăn chay suốt một tháng bầy để cầu nguyện cho con gái của mình được thóat khỏi cảnh điên lọan, trở về đời sống bình thường như xưa. Người mẹ hy vọng rằng với sự phù hộ của chư Phật, một ngày nào đó con gái của bà sẽ bình thường trở lại, và cô sẽ lập gia đình với người cô thương, sinh con đẻ cái, săn sóc giáo dục con nên người.

Mùa Vu Lan năm nay, năm 2008, bà mẹ tiếp tục cầu nguyện và ăn chay suốt Tháng Bẩy. Người con gái của bà ta vẫn khóc khóc cười cười, vẫn lang thang trên đường phố, nhìn người qua lại với đôi mắt ngây dại. Bây giờ cô đã được 32 tuổi.

Biết đến bao giờ cô gái nầy sẽ thóat khỏi cảnh sống trong hư hư thực thực, khi tỉnh khi mơ. Biết đến bao giờ người mẹ có được sự bình an trong những giây phút sống. Lời kinh bà tụng vẫn ngân vang câu:

Nguyện trú kiết tường dạ kiết tường

Trú dạ lục thời hằng kiết tường

Nhất thiết thời trung kiết tường giả

Nguyện chư Tam Bảo ai nhiếp thọ



(Dịch ý: Xin nguyện cầu ngày và đêm sáu thời, tất cả các thời thường được an lành. Nguyện cầu Chư Phật từ bi gia hộ)



Nhiều người đã phát tâm tu hành và sùng Đạo khi còn trẻ. Có người khi già cả mới tìm đến chùa tụng kinh nghe Pháp. Cũng có người bôn ba bận rộn không nghĩ đến Đạo, đến khi gặp một khúc mắc hay vấn đề tạo chấn động mãnh liệt trong tâm, người ta mới nghĩ đến chùa và tìm về chùa để cầu chư Phật gia hộ cho khổ đau giảm bớt và an lành đến với đời sống. Người Phật tử sùng Đạo hay đến chùa lễ bái hương hoa cúng Phật vào Ngày Rằm và Mồng Một. Một số lớn Phật tử thường năm chỉ đến dự hai lễ lớn là Lễ Phật Đản (佛誕 - Vaisakha) và Lễ Vu Lan (盂蘭 – Ullambana).



Chùa là nơi thanh tịnh. Vào đến sân chùa chúng ta thấy tượng lộ thiên của Ngài Quán Thế Âm, vị Bồ Tát với hạnh biêt lắng nghe để hiểu để yêu thương. Trước chánh điện chúng ta gặp Ông Thiện Ông Ác, như một cảnh tỉnh một nhắc nhở về những hành động thiện ác ta đã làm và sẽ làm. Vào trong chánh điện điển hình chúng ta ngắm được nụ cười vi diệu của Đức Bổn sư Thích Ca, vị Phật với hạnh tinh tấn, dạy cho ta không biếng lười buông xuôi. Hình ảnh Phật A Di Đà với bàn tay phóng quang, là sự diễn bày hạnh tế độ, cứu vớt để đưa về cõi thanh tịnh giải thóat. Tam Thế Chư Phật với Đức Bổn Sư, A Di Đà và Di Lặc là biểu tượng của Hiện tại, Quá khứ và Tương lai. Tam Thế Chư Tôn gồm tượng Phật A Di Đà ở giữa, tượng Bồ Tát Quán Thế Âm ở bên trái, Bồ Tát Đại Thế Chí ở bên phải là hạnh Thanh Tịnh, Từ Bi và Trí Tuệ... Tất cả đều mang đầy đủ ý nghĩa đẹp để ta thấy được và hiểu rõ ý nghĩa của giải thoát và ràng buộc vướng mắc. Bằng thành tâm thành ý ta biết đưa những hình ảnh nầy vào cuộc sống của chúng ta, để đời sống chúng ta an lạc. Đó là sự phù hộ có được từ Chư Phật Chư Bồ Tát.



Những tượng đất tượng đồng trong chùa không có khả năng cho ta an lạc, nếu ta qùy gối van xin ban phước lành theo nghĩa đen của sự kiện. Nếu hiểu rõ sự hiện hữu qua hình tướng của chư Phật trong Chùa là ta đã thấy để có thế biết mà lập tâm tu hành sửa đổi đời sống của chúng ta cho gia đình bớt nặng nề khổ đau.



Qùy gối trước tượng Phật trong Chùa là hành động dừng hành động. Tạm thời trong khỏanh khắc nầy không phải bôn ba cái thân, không phải động não suy nghĩ lo lắng, mà qùy gối yên lặng trước bàn thờ để niệm hồng danh chư Phật, đưa thân và tâm về một mối, gọi là tạo thanh tịnh thân tâm. Hướng lên bàn thờ chấp tay là thái độ sùng kính tri ân nên thành tâm học hỏi. Sùng kính Đức Phật với đời sống thanh tịnh tu hành đạt đạo giải thóat, không còn bị phiền não khuyấy động như chúng sanh ở cõi Ta bà. Từ sự sùng kính ngưỡng mộ cho ta phút giây dừng lại và nhìn sâu vào lòng mình để tu sửa. Thấy được cái vướng mắc của tâm mình đang nằm ở đâu mới có giải pháp để tháo gỡ được cái khúc mắc. Đó là ý thức nằm trong cái lạy trước hình tượng chư Phật chư Bồ Tát.



Nhiếp tâm trong chánh niệm làm ta dẹp được cái vọng đưa ta trở về cái thực. Cũng nhờ cái thấy mà ta hiểu được tình thương chân thật là tình thương ở đó ta thấy được người ta thương. Nói rằng thương người mà chỉ thấy mình là tình thương ảo giác tạo vọng động khổ đau. Người mẹ trong câu chuyện kể trên đây nếu thấy được con mình và nếu người con thấy được mẹ mình trong những sinh họat thường nhật của họ sẽ làm cho cả hai hiểu được nhau hơn thì lời nói và hành động đã có mặt của sự qúy mến và tôn trọng nhau.



Khi đã thực sự biết thương là đã có sự cảm thông, thì những bước chân ta đi trong cuộc đời mình và cuộc đời người sẽ là bước chân an lạc. Chính những bước chân an lạc tạo thành con đường an lạc. Chư Phật không xuất hiện như một phép lạ dùng thần thông lập nên con đường đó cho ta đi.



Mùa Vu Lan là Mùa Báo Hiếu. Báo hiếu Cha Mẹ không gì bằng tích cực sống.. Biết chia sẻ và yêu thương người nghèo khó khốn khổ là báo đáp sự dạy dỗ về chữ THƯƠNG của Mẹ. Phấn đấu với cuộc sống không buông xuôi là đáp chữ NGHĨA của Cha. Sống mà tạo lợi ích cho bản thân, gia đình và xã hội là giữ được chữ HIẾU đẹp nhất, vì tạo niềm vui cho Cha Mẹ. Xã hội có một người sống hạnh phúc thì phẩm chất đời sống của xã hội được nâng cao thêm. Tự thân ta, ta đã đem hãnh diện về cho Cha Mẹ.

Những ai còn mẹ phải biết mình là người hạnh phúc và nên qúy trọng giữ gìn hạnh phúc đó. Mẹ không ở mãi với ta, tuy lòng ta rất mong muốn. Hãy nghe lời ca khi người con mất mẹ:

Nếu mai này Mẹ hiền có mất đi

như đóa hoa không mặt trời

như trẻ thơ không nụ cười

ngỡ đời mình không lớn khôn thêm

như bầu trời thiếu ánh sao đêm...



”Tu tức là nhìn tất cả những gì đã và đang xảy ra trong đời mình bằng con mắt quán chiếu”



UYÊN HẠNH

Vu Lan 2008

 

 
 
    Thoi Nay Montreal - Giai Tri va Doi Song

Mục lục

Phật Giáo và Khoa Học

Tông phái : Thiền - Mật - Tịnh

Bước đầu học Phật

Kinh

Luật

Luận

   
 

Copyright © 2011 | TN InfoWay