| |
Dân tộc Việt Nam
tuy vốn là một quốc gia thấm
nhuần giáo lý Khổng Mạnh và tư
tưởng các tôn giáo khác từ thời
ky lập quốc cho tới ngày nay,
nhưng chúng ta có một bản sắc
riêng, bản sắc Việt Nam. Nền văn
minh nông nghiệp và hệ tư tưởng,
triết lý đến từ phương bắc là
Trung quốc đã cố kết và nhào nặn
dân tộc Việt Nam trong quá trình
xây dựng và phát triển đất nước
mà trong đó gia đình là một cơ
cấu căn bản rất cần thiết cho sự
sống còn của dân tộc qua trường
kỳ lịch sử.
Các mối liên hệ
tương quan giữa các thành viên
trong gia đình Việt Nam đã được
biểu thị qua hệ thống tam cương,
ngũ thường mà sách vở kinh điển
của Nho gia như Luận ngữ, Mạnh
tử, Đại học, Trung dung hay các
kinh Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân
thu tuy vốn là những « sách
thánh » của Trung quốc tự ngàn
xưa nhưng vẫn còn hay nhắc đến,
trong đó chữ hiếu có ảnh hưởng
rất đậm nét trong phong cách
hành xử của người Việt Nam.
Những tiếp nhận về văn hóa và
triết lý tuy mang nặng tính chất
Trung Hoa đó khi đến Việt Nam đã
được tiền nhân chúng ta điều
chỉnh lại phần nào để phù hợp
với tâm thức của người Việt.
Tinh thần hiếu đễ đã hun đúc nên
tâm tính hiền hòa, nhẫn nhục của
người Việt Nam chính là yếu tố
cốt cán giúp cho xã hội bền vững
và gia đình phát triển qua nhiều
thế hệ. Bởi thế, tìm hiểu ý
nghĩa của chữ hiếu qua truyền
thống tôn giáo và văn hóa Việt
Nam cũng là thiết thực đóng góp
chút ít suy tư với độc giả nhất
là tầng lớp thanh niên Việt Nam
đang ngày càng đạt được nhiều
thành công trong việc ổn định
cuộc sống tại hải ngoại.
I.- TÌM HIỂU TỪ NGUYÊN CHỮ HIẾU.
Từ nguyên (étymologie) là nguồn
gốc, lịch sử hình thành và phát
triển của một từ hay một chữ
trong thời gian về trước và hiện
tại, chính là yếu tố giúp cho
người đọc hiểu rõ ràng ý nghĩa
của nó. Căn cứ theo lục thư (sáu
cách viết chữ Hán của người
Trung hoa gồm có chỉ sự, tượng
hình, hài thanh hay hình thanh,
hội ý, giả tá, chuyển chú) chữ
hiếu được cấu tạo theo lối hội ý
nghĩa là kết hợp nhiều ý nghĩa
của nhiều chữ.
Theo linh mục L. Wieger, ý nghĩa
và kết cấu hình thành của chữ
hiếu (Hsiao, Filial piety) đã
được biện giải « là điều mà các
con em mắc nợ đối với bậc trưởng
thượng nói chung và đối với bậc
cha mẹ nói riêng, là kẻ phụng sự
cha mẹ rất chí tình, viết một
phần gồm chữ lão (già cả) bỏ bớt
nét và gồm với chữ tử ( con) »
1.
Linh mục L. Wieger thuộc Dòng
Tên là một nhà Trung hoa học nổi
tiếng trên thế giới trong nhiều
thập niên trước đây với rất
nhiều công trình biên tập giới
thiệu cùng độc giả Tây phương
các tác phẩm kinh điển của nền
văn hóa cổ Trung hoa. Sách vở
biên tập của ông đã được nhiều
thế hệ sử dụng trong đó có rất
nhiều tầng lớp độc giả, trí thức
và giáo sư Đại học Việt nam. Ý
nghĩa nhà bác học này muốn nhấn
mạnh tới qua chữ hiếu đó là mối
liên hệ mật thiết giữa lớp người
trưởng thượng và con cháu của
họ, một mối quan hệ hỗ tương rất
chặt chẽ trong ý nghĩa của chính
ngôn từ và trong đời sống thực
tế ngoài xã hội.
Một kiến giải khác được hình
thành trong một cuốn sách viết
về nền văn hóa tâm linh xuất bản
mới đây đã có trình bày rằng «
theo hình tượng chữ hiếu trên
phần đầu chữ khảo là cha, dưới
chữ tử là người con, giữa có cái
gậy vắt ngang, hiếu là con mũ
gậy cha mẹ. » 2 Ý kiến giải
thích như vậy cũng có tính cách
khả tín. Tuy vậy xem lại hai
cách giải nghĩa chữ hiếu thì
trong đó các tác giả có phần nào
gượng ép.
Theo Linh mục Sảng Đình Nguyễn
Văn Thích (1891-1979), Giáo sư
Hán văn của Trường Đại Học Văn
Khoa Huế, Sài Gòn và Viện Hán
học Huế (mà tôi là một môn sinh
của ngài) trước năm 1975, một
bậc túc nho cuối cùng của nền
Hán học cổ truyền Việt Nam, thì
chữ hiếu được kết hợp bởi chữ
thổ là đất, nét sổ xiên từ phải
sang trái có hình tượng như một
cây roi và chữ tử là con, nghĩa
chung là « đứa con chịu nằm
xuống đất và để cây roi trên
mình cho cha mẹ đánh thì đó là
đứa con có hiếu. » Lối giải
thích từ nguyên của vị giáo sư
thâm nho này cũng có những nét
đặc sắc và gần gũi với nền giáo
dục trẻ con của Việt Nam ngày
trước (Thương con cho roi cho
vọt, ghét con cho ngọt cho bùi),
một lối giáo dục nặng hình thức
thương yêu mà trấn áp, răn đe.
Theo học giả Thiều Chửu, chữ
hiếu có hai nghĩa : 1.- Thảo,
con thờ cha mẹ hết lòng gọi là
hiếu. 2.- Tục gọi đồ tang phục
là hiếu. Như xuyên hiếu - mặc đồ
tang (để tang). Thoát hiếu -
chút đồ tang (đoạn tang) v.v.
Sách Hán Việt Từ Điển của Đào
Duy Anh cũng có những giải thích
tương tự.3
II.- MỘT SỐ Ý NIỆM VỀ CHỮ HIẾU
TRONG CÁC TÔN GIÁO PHỔ CẬP Ở
VIỆT-NAM.
Đất nước Việt Nam là nơi gặp gỡ
của nhiều tôn giáo như Nho,
Phật, Lão (tam giáo đồng quy) và
về sau với sự góp mặt của Thiên
Chúa Giáo cùng với một số tôn
giáo có tính cách địa phương như
Cao đài, Hòa hảo nên có thể nói
được rằng ảnh hưởng của các tôn
giáo đã đặt những dấu ấn rõ rệt
trong nền văn hóa của dân tộc mà
điển hình là một số ý niệm của
các tôn giáo về vấn đề chữ hiếu
nói chung. Có thể nói hầu hết
mọi tôn giáo và triết thuyết Á
đông đều khuyến khích con cái
sống hiếu thảo đối với cha mẹ,
các bậc trưởng thượng và tinh
thần hiếu đễ có khi được coi là
một tập tục sâu sắc, một tín
ngưỡng (hiếu đạo).
2.1. Thiên chúa giáo và vấn đề
chữ hiếu :
Giáo lý của Thiên chúa giáo có
điều răn thứ bốn dạy là « thảo
kính cha mẹ ». Trong sách Huấn
Ca của Cựu Ước người ta đã đọc
thấy những lời dạy như sau :
Hỡi các con, hãy nghe cha đây,
Và làm thế nào để các con được
cứu độ
Đức Chúa làm cho người cha được
vẻ vang vì con cái
Cho người mẹ thêm uy quyền đối
với các con.
Ai thờ cha thì bù đắp lỗi lầm
Ai kính mẹ thì tích trữ kho báu
Ai thờ cha sẽ được vui mừng vì
con cái
Khi cầu nguyện họ sẽ được lắng
nghe.
Ai tôn vinh cha sẽ được trường
thọ,
Ai vâng lệnh Đức Chúa sẽ làm cho
mẹ an lòng. 4
Trong sách Tin Mừng Thánh
Mát-thêu (15, 1- 6) có một đoạn
liên hệ tới đạo hiếu, nói về
thái độ của Đức Kitô đã cảnh cáo
lớp người giả đạo đức thời đại
của Ngài: « Bấy giờ có mấy người
Pha-ri-sêu và mấy kinh sư từ
Giê-ru-sa-lem đến gặp Đức Giê-su
và nói rằng : « Sao môn đệ ông
vi phạm truyền thống của tiền
nhân, không chịu rửa tay khi
dùng bữa ? » Người trả lời : «
Còn các ông, tại sao các ông dựa
vào truyền thống của các ông mà
vi phạm điều răn của Thiên Chúa
? Quả thế, Thiên Chúa dạy :
Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, kẻ
nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải
bị xử tử. Còn các ông, các ông
lại bảo : « Ai nói với cha với
mẹ rằng : những gì con có để
giúp cha mẹ, đều là lễ phẩm dâng
cho Chúa rồi, thì người ấy không
phải thờ cha kính mẹ nữa ». Như
thế, các ông dựa vào truyền
thống của các ông mà hủy bỏ lời
Thiên Chúa... » 5
Ý nghĩa hiếu thảo và thương yêu
giữa cha mẹ với con cái cũng
được Thánh Phao-lồ nhắc đến
trong Thư gửi tín hữu Cô-lô-xê :
«... Kẻ làm con hãy vâng lời cha
mẹ trong mọi sự, vì đó là điều
đẹp lòng Chúa. Những bậc làm cha
mẹ đừng làm cho con cái bực tức,
kẻo chúng ngã lòng » 6.
Căn cứ theo các tài liệu lịch sử
hiện nay thì Thiên Chúa giáo
xuất hiện ở đất nước Việt Nam
vào quảng đầu thế kỷ XVI. « Theo
sách Dã lục thì tháng 3 năm
Nguyên-hòa thứ nhất (1533) đời
Lê-Trang-Tôn, có người Tây-Dương
tên là I-nê-Xu lén lút đến xã
Ninh-Cường, xã Quần Anh, huyện
Nam-Châu, và xã Trà-Lũ huyện
Giao-thủy, ngấm ngầm truyền bá
tả đạo Gia-Tô.Thế là, ít ra, từ
đó, đạo Công-giáo đã được biết ở
Nam-Định. » 7
Đạo Công Giáo khi được truyền bá
vào Việt Nam cũng đề cao tinh
thần chữ hiếu trong bất cứ mọi
trường hợp của cuộc sống, ngay
cả đến khi cận kề cái chết, nên
hoàn toàn có khả năng để thích
ứng với cá tính đạo đức của dân
Việt Nam và tình huống xã hội
của đất nước chúng ta.
Trong một bài báo đăng trên Tạp
chí Thế Kỷ 21 số 161 tháng Chín
2002, tác giả Ngô Nhân Dụng đã
đề cập tới quyển sách của nhà
truyền giáo De La Bissachère
xuất bản hồi đầu thế kỷ 19 (sách
in ở Paris năm 1812, tuy nhiên
đã được in ở Luân Đôn từ năm
trước) nhan đề État Actuel du
Tunkin, de la Cochinchine, et
des Royaumes de Cambogde, Laos,
et Lac Tho (Tình trạng đương
thời ở xứ Đàng ngoài, Đàng
trong, và các vương quốc Cam
Bốt, Lào, Lạc Thổ). Giáo sĩ De
La Bissachère đã sống ở các xứ
trên trong 18 năm dưới thời vua
Gia Long. Bài báo của tác giả
Ngô Nhân Dụng có đoạn viết :
« Một nền tảng của nền đạo lý
dân tộc ở Việt Nam là đạo hiếu,
thể hiện qua tục thờ cúng tổ
tiên. De La Bissachère ghi nhận
người Việt Nam thờ cúng tổ tiên
và « coi họ như những người ở
trên trời, những thần linh bậc
nhì còn săn sóc và bảo vệ gia
đình họ », và tin rằng « tổ tiên
lúc sống càng thánh thiện bao
nhiêu thì lúc chết càng có sức
mạnh linh thiêng bấy nhiêu ». Có
lẽ đây là một cách diễn tả niềm
tin về « phúc đức ông bà » của
người Việt. De La Bissachère
viết, « Người già cả được tôn
kính với thái độ giống như trong
tôn giáo. » Ông nhận xét rằng
ngoài chính sách cấm đạo cũa vua
chúa thì đây là một trở ngại cho
việc truyền đạo Thiên chúa ở
Việt Nam, « tục thờ cúng tổ
tiên, việc thờ cúng có vẻ ngoài
như một tín ngưỡng. Các vị thừa
sai thuộc dòng Tên đã chấp nhận
phong tục này, mà họ thấy không
thể cắt lìa phong tục đó khỏi
các dân tộc này được ;... mà
trong các bổn phận đối với tổ
tiên đó, tất cả chỉ là để tỏ
tình thương và lòng tôn kính,
nhưng Rome không thể chấp nhận ý
tưởng khoan dung đó. » 8. Lập
trường của Giáo hội Roma về sau
cũng tỏ ra rất uyển chuyển không
còn cứng ngắc như trước đây,
nhất là sau thời Công Đồng
Vatican II, đối với một số các
phong tục Á đông như việc thờ
cúng tổ tiên, vấn đề hôn phối
với người khác tín ngưỡng v.v...
Trước đây trong thời kỳ đạo Công
giáo bị các chế độ phong kiến
bách hại, người ta đưa ra lý
luận rằng theo Công giáo là bỏ
ông bà, bỏ bàn thờ gia tiên, bỏ
đạo hiếu. Lý luận đó đã bị thực
tế chứng minh trái ngược lại.
Linh mục Nguyễn Văn Thích đã bày
tỏ quan niệm về trung và hiếu
của ngài trong bài viết ngắn và
bài thơ sau đây :
Trung và Hiếu
« Có kẻ không hiểu nói rằng theo
đạo Chúa, bỏ cha mẹ, nên làm lời
giải hoặc.
Trung hiếu bổn vô nhị tri –
Trung ư quân, tức hiếu ư thân ».
Trung hiếu không phải hai đàng
nghịch nhau. Trung với Chúa ấy
là hiếu với cha mẹ. Đây chưa nói
chữ hiếu theo nghĩa Evang (Phúc
âm) »
« Hết trung thờ Chúa đạo làm
trai,
Chữ hiếu làm con dễ dám sai.
Vẫn hiếu với trung là vốn một,
Mà trung cùng hiếu chẳng toàn
hai.
Thà rằng mất hiếu trung cùng
Chúa,
Hễ đã không trung, hiếu với ai ?
Chữ hiếu ấy tình, trung ấy
nghĩa,
Bên trung bên hiếu nặng hai vai.
An Ninh chủng viện 1917
J.M.T
(Trích trong « Sảng Đình Thi Tập
», tr.9) 9
Ngày 19-6-1988, Giáo Hội Công
Giáo Việt Nam đã hân hoan mầng
117 vị chân phúc của Việt Nam đã
được phong bậc hiển thánh
(canonization) trong đó có rất
nhiều tấm gương hiếu đễ trung
tín đã được chứng minh trong
cuộc đời của các Ngài kể cả
những lúc trước giờ bị rơi đầu
vì đức tin. Người Công Giáo cũng
có truyền thống tưởng nhớ đến
cha mẹ và thân nhân đã khuất
bằng cách dành tháng 11
(Novembre) để cầu nguyện, xin
lễ, viếng mộ cách đặc biệt cho
người chết gọi là Tháng Các Đẳng
Linh Hồn, và ngày 2 tháng 11 là
Ngày Lễ Các Đẳng (Fête Des
Défunts), tất cả những việc đó
đều có ý nghĩa khuyến khích tinh
thần hiếu thảo của con cái đối
với cha mẹ. Theo quan niệm của
một số người Công Giáo Việt Nam,
chết vào ngày 2 tháng 11 cũng là
một ân sủng, trong một khía cạnh
ý nghĩa đặc thù nào đó.
Trong Thư Mục Vụ của Hội Đồng
Giám Mục Việt Nam đưa ra tại Hà
Nội ngày 11-10-2002, phần mở đầu
đã có đề cập đến chữ hiếu trong
gia đình người Công Giáo Việt
Nam: «Nói đến gia đình Việt Nam,
người ta nghĩ ngay tới một nề
nếp gia phong rất gần gũi với
giáo lý đức tin. Gia đình ấy coi
chữ Hiếu làm đầu nên rất sẵn
sàng đón nhận ánh sáng Phúc Âm,
trong đó điều răn phải thảo kính
cha mẹ được xếp ngay sau ba điều
răn quy định việc thờ phượng
Thiên Chúa. »
2.2. Phật giáo và chữ hiếu :
Phật giáo là một trong những tôn
giáo lớn tại Việt Nam mà ảnh
hưởng đã thấy rõ trong các lãnh
vực chính trị, văn hóa, tư
tưởng, xã hội trong suốt quá
trình lịch sử của đất nước. Có
nhiều ý kiến khác nhau nói về
thời điểm Phật giáo du nhập vào
Việt Nam.
Theo Dương Quảng Hàm trong Việt
Nam Văn Học Sử Yếu, « Phật giáo
du nhập vào nước ta do hai cách
: a) Nhờ các vị sư Tàu sang
tránh nạn ở Bắc kỳ, sau khi vua
Hán Linh-Đế mất (189), trong khi
nước Tàu có nội loạn (cuối thế
kỷ thứ II và đầu thế kỷ thứ III)
; b) Nhờ các vị sư người
Thiên-trúc Inde), Khang-cư
(Sogdiane), Nguyệt-thị
(Indoscythe) sang ở nước ta,
hoặc đi qua nước ta để sang Tàu
trong thế kỷ thứ III. » 10
Giáo sư Nguyễn Đăng Thục cho
rằng : « Bước đầu lịch sử Phật
học ở An nam chỉ bắt đầu từ thế
kỷ III sau Công nguyên nhất là
nếu chúng ta không kể sách Mâu
Tử như là một tác phẩm chân thật
của thời kỳ 190-200 ».11
Trong Việt Nam Phật Giáo Sử
Luận, tác giả Nguyễn Lang (tức
Thiền Sư Nhất Hạnh) cho rằng «
đạo Phật đầu tiên do các thương
gia Ấn Độ đem đến. Những người
này không phải là những nhà
truyền giáo ; họ chỉ sống đời
sống tín ngưỡng của họ trong lúc
lưu lại Giao Châu, và chính vì
vậy mà người Giao Châu biết đến
đạo Phật. » 12 Qua những ghi
nhận tổng quát này, Thích Nhất
Hạnh, tiếc thay, không cho biết
rõ ràng hơn về thời điểm có mặt
của Phật Giáo trên đất nước ta.
Nhưng, có lẽ công trình nghiên
cứu thấu đáo về Phật Giáo hơn cả
phải kể đến bộ sách Lịch Sử Phật
Giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát
trong đó tác giả này cho biết
Phật Giáo có thể đã xuất hiện
khoảng thế kỷ thứ II-III trước
dương lịch. Tác giả viết : « ...
Vùng miền nam nước ta từ phía
nam cửa Sót trở vào đã mang nặng
những vết tích của nền văn hóa
Ấn Độ. Chiếc bia Võ Cảnh tìm
thấy ở làng Võ Cảnh ở Nha Trang,
thường được các nhà nghiên cứu
xác định là xuất hiện vào thế kỷ
thứ II sdl, viết bằng Phạn văn.
Để cho Phạn văn trở thành một
ngôn ngữ được khắc trên đá vào
thế kỷ ấy, nền văn minh Ấn Độ
vào thời điểm đó chủ đạo là Phật
giáo, phải truyền bá tại vùng
đất này qua một thời gian tương
đối dài, tối thiểu cũng phải mất
một vài trăm năm. Nói thẳng ra,
văn minh Ấn Độ phải tồn tại ở
phía nam nước ta vào những thế
kỷ trước và sau dương lịch. Cho
nên vị Hùng Vương của thời Chử
Đồng Tử ta cũng có thể xác định
vào những thế kỷ tdl, có khả
năng là Hùng Nghị vương thứ nhất
hoặc thứ hai, tức khoảng thế kỷ
II-III tdl. » 13
Luận cứ của Lê Mạnh Thát cũng
không có gì vững chắc nếu tác
giả này nhớ rằng nền văn minh
của Ấn Độ hay nền văn minh
Angkor của Campuchia là nền văn
minh của đá14 nghĩa là tất cả
các hình thái nghệ thuật của họ
đều thể hiện bằng chất liệu đá
thì cần gì phải đợi đến mấy trăm
năm về sau nghệ nhân xứ đó mới
sử dụng đá để làm tấm bia Võ
Cảnh ? Họ có thể sử dụng đá ngay
khi mới đến định cư tại vùng đất
phía nam cổ Việt khoảng thiên
niên kỷ thứ hai trước Tây Lịch
nếu kiến giải của Stephen
Oppenheimer trong Eden in the
East là đúng.15
Trải qua quá trình lịch sử, Phật
Giáo đã có những giai đoạn thăng
trầm nhưng tinh thần từ bi hỉ xã
của Phật Giáo vẫn là những nét
trỗi bật trong nỗ lực hòa đồng
với các tôn giáo khác và nhất là
thể hiện truyền thống đạo hiếu
trong các lễ nghi và bản sắc văn
hóa của mình. Mùa Vu lan của
Phật giáo là mùa báo hiếu và
trong thời kỳ quân chủ trước đây
có khi công cuộc tổ chức các lễ
lạc được tiến hành từ trong chốn
triều đình ra ngoài dân gian. «
Mùa hạ năm 1434 vua Lê Thái Tông
sai các quan rước Phật từ chùa
Pháp Vân về kinh đô để làm lễ
cầu mưa. Lại cho phóng thích một
số tù nhân, và dựng trai đàn
chẩn tế ngay ở điện Cần Chánh để
tu tạo công đức, cầu cho có mưa.
Rằm tháng bảy năm ấy, vua lại
cho tổ chức đại hội Vu Lan, mời
chư tăng đến cầu nguyện, rồi
cúng dường chư tăng và phóng
thích thêm năm mươi tù nhân nữa.
» 16
Với Phật giáo, Vu-Lan-Bồn là một
phương pháp báo hiếu có hiệu quả
nhất. Theo Hòa thượng Thích
Thiện Hoa, « Vu-Lan-Bồn là phiên
âm theo tiếng Phạn. Người Trung
Hoa dịch là : « giải đảo huyền
», nghĩa đen là cổi trói người
bị treo ngược ; nghĩa bóng là
cứu vớt những kẻ đau khổ nặng nề
như đang bị treo ngược...Ngài
Đại-hiếu Mục-Kiền-Liên, sau khi
tu hành chứng được 6 phép
thần-thông, ngậm ngùi nhớ đến
công ơn cha mẹ, Ngài bèn tìm
cách báo đáp. Dùng đạo-nhãn xem
trong thế gian, Ngài nhận thấy
mẹ mình sanh làm loài ngạ-quỷ,
thân thể ốm gầy, da bọc xương,
thân hình tiều tụy, bụng lớn,
đầu to, cổ nhỏ như ống chỉ, đói
khát suốt năm không được ăn
uống. Thương xót quá, Ngài liền
đem bát cơm đang ăn để dâng mẹ.
Ngài vận thần-thông, bưng bát
cơm đi đến chỗ mẹ ở. Bà mẹ vì
quá khao-khát, nên khi được cơm,
lòng tham nổi lên, sợ người cướp
giựt, lấy tay trái che giấu bát
cơm, tay mặt bốc ăn. Bởi lòng
tham lam độc ác trong tiền kiếp
nổi bừng lên, nên cơm mới đưa
vào miệng, thì hóa thành ra lửa,
bà chẳng ăn được.
Ngài Mục-Kiền-Liên thấy thế, hết
sức đau buồn kêu khóc thảm
thiết. Ngài liền trở về bạch
Phật, thuật lại như trên và cầu
Phật chỉ dạy cho phương pháp cứu
độ thân mẫu... Ngài
Mục-Kiền-Liên vâng lời Phật dạy,
đến ngày rằm tháng 7 làm lễ
Vu-Lan, sắm đủ các vật liệu,
rước chư Tăng trong mười phương
thành tâm kính lễ trai-Tăng
cúng-dường, nên vong mẫu của
Ngài thoát khỏi kiếp ngạ-quỷ,
sanh về cảnh giới lành. » 17
Cũng theo Hòa thượng Thích Thiện
Hoa việc báo hiếu có nhiều cách
nhưng không ngoài hai phương
diện : vật chất và tinh thần tức
là lo cho cha mẹ miếng ăn thức
uống, áo quần, chỗ ở và làm cho
tinh thần cha mẹ được nhẹ nhàng
cao thượng và đi dần đến chỗ
giải thoát.
Trong cuốn Lịch sử Phật Giáo
Trung Quốc, Hòa thượng Thích
Thanh Kiểm cho biết về nguồn gốc
của một số lễ nghi của Phật giáo
như sau: "Về lễ nghi của Phật
giáo thông thường gọi là "Pháp
hội". Pháp hội có từ đời Đông
Tấn, nhưng tới đời Nam Bắc Triều
thì rất được thịnh hành. Trước
hết có Pháp hội về Đản sinh Đức
Phật, ngày 8 tháng tư, gọi là
"Quán Phật hội", hay "Lễ Tắm
Phật", phổ cập khắp các chùa, và
hội rước Phật để mọi người được
dâng hương tán hoa, rồi đến hội
"Vu Lan Bồn" ngày 15 tháng 7,
hội Phật Thành đạo vào ngày 8
tháng 12, hội Phật Niết bàn vào
ngày 15 tháng 2. Ngoài ra, còn
có các hội như "Bát quan trai",
"Vô Giá Đại hội" và "Diên Thọ
hội", kết hạ an cư v.v..." 18
Như vậy lễ Vu Lan cũng có gốc
tích từ những lễ nghi Phật Giáo
ở Trung Quốc.
Câu chuyện Quan Âm Thị Kính nói
việc Thị Kính bị mang tiếng oan
có âm mưu giết chồng (Thiện Sĩ),
chịu sỉ nhục tàn tệ phải cải
dạng nam nhi mà đi tu, lại bị
Thị Mầu quyến rũ không được,
phải nhận nuôi con rơi của Thị
Mầu, rồi sau đó chết vì sức khỏe
mõi mòn, cuối cùng nàng được
Phật tổ truyền cho thành Phật
Quan Âm và được sư cụ chùa Vân
(nơi nàng đi tu) bày tỏ công đức
:
« Nay bà Thị Kính hóa duyên
Nam mô Phật, độ vô biên hằng hà
hóa thân được cả mẹ cha,
kìa là bạn cũ, nọ là con thơ
thế gian trông thấy sờ sờ »
« Ý của sư cụ là khi Thị Kính
chứng quả, nàng có thể độ luôn
được cả mẹ cha, Thiện Sĩ, đứa
con thơ và vô biên hằng hà sa số
người khác. Như vậy nghĩa là tu
theo đạo Phật cũng có thể đền
đáp công ơn cha mẹ và giúp đời
cứu người, chữ hiếu, chữ nhân
trọn vẹn, và đạo Phật không trái
chống với nguyên tắc của Nho
giáo. » 19
Theo tác giả Nguyễn Lang, sự
tích Quan Âm Nam Hải đã được
Việt hóa một cách hoàn toàn. Đức
Quan Âm này, tuy là công chúa
thứ ba con vua Diệu Trang ở nước
Hưng Lâm ( ?) nhưng đã đi tu tại
núi Hươ ng Tích ở Việt Nam và
thành Phật tại đây. Truyện do
một vị tăng đời Nguyên sáng tác.
Công chúa thứ ba tên Diệu Thiện
không muốn lấy chồng mà quyết
chí đi tu. Nàng bị vua cha tìm
mọi cách cản trở, hành hạ, ra
lịnh xử chém, nhưng được một
mãnh hổ cứu thoát. Nàng có dịp
xuống địa ngục chứng kiến mọi
cảnh khổ, vâng lời Phật dạy về
tu tại núi Hương Tích, dùng một
tay và một mắt của mình trị bệnh
nan y cho vua cha, thuyết phục
được cha mẹ bỏ ác làm lành rồi
cả nhà cùng tu hành tại chùa
Hương Tích. Hai nàng công chúa
(chị của nàng) Diệu Thanh và
Diệu Âm trở thành Văn Thù Bồ Tát
và Phổ Hiền Bồ Tát.
Chân như đạo Phật rất mầu
Tâm trung chữ hiếu, niệm đầu chữ
nhân
Hiếu là độ được đấng thân
Nhân là cứu vớt trầm luân mọi
loài.
Cũng như truyện Quan Âm Thị
Kính, truyện Nam Hải Quan Âm chủ
trương rằng tu theo đạo Phật vẫn
có thể làm tròn chữ hiếu và thực
hiện chữ nhân. 20
Ngoài ra, một tôn giáo khác ở
Việt Nam, Phật Giáo Tứ Ân cũng
gọi là Bửu Sơn Kỳ Hương hay đạo
Lành do Đoàn Minh Huyên
(1807-1856) cũng gọi là Phật
thầy Tây-An, thành lập tại xã
Long Kiến, quận Chợ Mới, tỉnh An
Giang, chủ trương bài trừ mê tín
dị đoan, đơn giản hóa các lễ
nghi Phật Giáo cho phù hợp với
dân tình và khung cảnh đất đai
Nam Bộ, nhất là chủ trương đáp
đền bốn ơn lớn gọi là « tứ đại
trọng ân » đó là ơn tổ tiên cha
mẹ (hiếu), ơn đất nước (trung),
ơn tam bảo (phật, pháp, tăng),
ơn đồng bào và nhân loại (con
người). Phật Giáo Tứ Ân do Đức
Phật Thầy Tây An thành lập
truyền được ảnh hưởng lớn với
các chi phái về sau như Phật
Trùm, Đức Bổn Sư Ngô Văn Lợi, Sư
Vải Bán Khoai, Nguyễn Đa v.v...
về sau có được 12 vị đại đệ tử
như các ông Trần Văn Thành,
Nguyễn Văn Thới, và sau này là
Phật Giáo Hòa Hảo của Đức Huỳnh
Phú Sổ (1920-1947). Chữ hiếu
cũng luôn được chú trọng đề cao
trong các tôn giáo trên đây.
2.3. Khổng Giáo bàn về chữ hiếu.
Lịch sử văn hóa Trung Quốc đã để
lại những trang phong phú nói về
đạo hiếu tự ngàn xưa trong đó có
Kinh Thi được coi như ca dao,
tục ngữ của Việt Nam, là một bộ
môn văn chương bình dân tối cổ,
có những câu nói về công ơn cha
mẹ rất cảm động :
« Phụ hề sinh ngã, mẫu hề cúc
ngã,
Ai ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao,
Dục báo thâm ân, hiệu thiên võng
cực ».
Nghĩa là : cha sinh ta, mẹ nuôi
ta. Hỡi ôi, cha mẹ sinh ta cực
nhọc. Muốn đền đáp âm đức của
cha mẹ, như vói lên trời cao
chẳng cùng.
Khổng tử quan niệm chữ hiếu ở
một mức độ rất cao. Trong sách
Trung dung, Khổng tử có nói rằng
: « Kính kỳ sở tôn, ái kỳ sở
thân, sự tử như sự sinh, sự vong
như sự tồn, hiếu chi chí giã »
(nghĩa là : kính những người cha
mẹ đã tôn trọng, yêu những người
cha mẹ đã yêu mến, thờ cha mẹ
lúc chết rồi cũng như lúc hãy
còn, ấy là hiếu đến rất mực
vậy). Là một bậc thầy uyên bác,
Khổng tử có nhiều lối trả lời
khác nhau khi được hỏi về chữ
hiếu với các đệ tử. Mạnh Ý-tử (
quan đại phu nước Lỗ, họ Trọng
tôn, tên là Hà-Kỵ) hỏi thờ đấng
thân thế nào gọi là hiếu. Đức
Khổng nói rằng : « Thờ đấng thân
mà không ngang trái là hiếu. »
Thày Phàn trì ngự xe cho đức
Khổng, đức Khổng bảo cho rằng :
« Họ Mạnh-tôn hỏi ta điều hiếu,
ta thưa rằng : « Không ngang
trái ». Thày Phàn trì hỏi rằng :
« Lời ấy là ý bảo thế nào ? »
Đức Khổng nói rằng : « Ta nói
không ngang trái là không ngang
trái với lẽ phải. Người con thờ
đấng thân, khi đấng thân còn thì
phụng dưỡng cho phải lễ ; khi
đấng thân mất thì tống táng cho
phải lễ ; khi tế đấng thân thì
tế cho phải lễ »
Mạnh Vũ-Bá (con Mạnh Ý-tử, tên
là Trệ) hỏi điều hiếu. Đức Khổng
nói rằng : « Cha mẹ chỉ chăm lo
về tật bệnh người con ».
Thầy Tử-Du (học trò Đức Khổng,
họ Ngôn, tên Yển) hỏi điều hiếu.
Đức Khổng nói rằng : « Đời nay
chỉ bảo rằng nuôi được cha mẹ là
hiếu. Nhưng suy đến loài hèn như
khuyển mã, cũng còn nuôi nó cả.
Nếu nuôi cha mẹ mà chẳng kính,
thì có khác gì đâu !. »
Tử-Hạ (học trò của đức Khổng, họ
là Bốc, tên là Thương) hỏi điều
hiếu. Đức Khổng nói rằng : « Khi
thờ cha mẹ, khó nhất là nét mặt
hòa vui. Nếu kẻ đệ tử chỉ biết
phục dịch làm thay việc khó nhọc
cho phụ huynh, và có rượu cơm
mời ngài xơi, những điều ấy có
kể là hiếu đâu »21.
Trong lần khác, Khổng tử nói
quan hệ của con cái đối với cha
mẹ cũng thể hiện trong cuộc
sống, cách sống. Khi cha mẹ còn,
không bao giờ làm điều gì đề cho
cha mẹ lo buồn, bởi vậy không
nên đi đâu xa, có đi xa thì phải
nói cho cha mẹ biết chỗ đi để
cha mẹ khỏi lo, và nhỡ có việc
gì, có thể tìm gọi được: “Phụ
mẫu tại, bất viễn du, du tất hữu
phương” (Luận ngữ: Lý nhân, IV).
Những điều mà cụ Trần Trọng Kim
vừa diễn đạt đó cũng còn có ít
nhiều giá trị cho đến bây giờ.
Trong Nho giáo, học giả họ Trần
nói thêm: “ Lấy lễ mà thờ cha mẹ
không phải là cha mẹ làm điều gì
trái đạo cũng theo. Khổng-tử
nói: “Sự phụ mẫu cơ gián, kiến
chí bất tòng, hựu kính bất vi,
lao nhi bất oán. (thờ cha mẹ thì
khi cha mẹ có làm điều gì lầm
lỗi, con phải tìm cách êm-đềm
dịu-dàng mà can-ngăn, thấy cha
mẹ không nghe, thì lại kính mà
không trái lễ, dẫu có phải điều
đau đớn khó nhọc cũng không oán
giận”. (Luận ngữ, Lý nhân, IV).
22
Ảnh hưởng của việc làm, tâm tính
của bậc cha mẹ cũng tác động
nhiều trên con cái. Khổng tử có
dạy: “Phụ tại quan kỳ chí, phụ
một quan kỳ hành, tam niên vô
cải ư phụ chi đạo, khả vị hiếu
hỹ” : cha còn thì phải xem cái
chí của cha, cha mất rồi phải
xem việc làm của cha, ba năm
không đổi cái đạo của cha, khả
gọi là hiếu vậy. (Luận ngữ, Học
nhi, I) 23.
Nhưng đối với Đức Khổng, tinh
thần trung dung luôn luôn được
sử dụng như là một thái độ cần
thiết trong cuộc sống con người.
Một hôm Diệp-công bảo Khổng tử
rằng: “Ngô đảng hữu trực cung
giả, kỳ phụ nhương dương, nhi tử
chứng chi” (xóm chúng tôi có
người cứ lấy cái thẳng mà khiến
mình: cha đi ăn trộm dê, mà con
đi làm chứng). Ngài nói rằng:
“Ngô đảng chi trực giả dị ư thị,
phụ vi tử ẩn, tử vi phụ ẩn, trực
tại kỳ trung hỹ” (người thẳng
xóm chúng tôi thì khác thế: cha
che chở cho con, con che chở cho
cha, cái trực ở trong đó vậy.-
Luận ngữ, Tử Lộ, XIII) 24.
Đức Khổng rất đề cao chữ hiếu vì
đó là căn bản ứng xử của con
người, từ đó mà việc thảo kính
của con cái đối với cha mẹ đã
được xem như là một đạo hiếu
(hiếu đạo) và những tư duy về
nguyên tắc căn bản trong sự đối
đãi giữa con cái đối với cha mẹ
có thể tìm thấy trong Hiếu kinh
của họ Khổng. Mạnh tử cũng có
nói : “Bất hiếu hữu tam vô hậu
vi đại.” nghĩa là trong ba điều
bất hiếu thì việc không có con
nối dõi là điều bất hiếu to
nhất.
Thầy Tử Lộ là một tấm gương chí
hiếu đối với cha mẹ. Thuở mẹ ông
còn sinh tiền, ông phải đi đội
gạo thuê đàng xa để lấy tiền
nuôi mẹ. Đến khi ông thành công
ở đời, xe ngựa rập rình, áo mũ
xênh xang làm quan cao chức
trọng thì cha mẹ ông đã qua đời
hết. Ông buồn bã than rằng: “Mộc
dục tịnh nhi phong bất đình!
Tử dục dưỡng nhi thân bất tại”.
Nghĩa là cây muốn lặng mà gió
chẳng ngừng ! Con muốn nuôi báo
hiếu mà cha mẹ chẳng còn sống.
Thương thay nỗi lòng của thầy Tử
Lộ cũng là nỗi đau khổ chung của
những người con có hiếu!
Trong tác phẩm Trung Quốc Triết
Học Sử, Bác sĩ Hồ Thích cho rằng
Khổng tử nói về hiếu đạo chưa
đầy đủ bằng Tăng tử . Tăng tử
nói: “Hiếu hữu tam: đại hiếu tôn
thân, kỳ thứ phất nhục, kỳ thứ
năng dưỡng”, nghĩa là: Hiếu có
ba điều: đại hiếu phải tôn thân,
sau nữa không làm điếm nhục, sau
nữa mới nuôi dưõng. Theo Hồ
Thích, tôn thân là tôn cao cái
nhân cách của mình, tôn cao cái
nhân cách của cha mẹ mình, không
hủy hoại thân thể mình; không
làm điếm nhục đến cái nhân cách
mà cha mẹ đã truyền cho ta và
sau hết là nuôi dưỡng cha mẹ.25
Nói chung học thuyết Khổng Mạnh
chú trọng đến chữ hiếu, đề cao
chữ hiếu cho nên những lời Khổng
tử nói với Tăng tử về chữ hiếu
gồm thành một quyển sách gọi là
Hiếu kinh, các nguyên tắc ứng
dụng cho tròn chữ hiếu, các nghi
thức thực hành hiếu đễ gọi là
hiếu đạo đã ảnh hưởng rất sâu xa
trong một số xã hội Á đông trong
đó có Việt Nam từ xưa cho đến
nay.
III.- CHỮ HIẾU TRONG NỀN VĂN HỌC
VIỆT NAM.
Trong gia đình cũng như ngoài xã
hội Việt Nam, qua giao tiếp giữa
người này với kẻ khác, vấn đề
trung, tín, hiếu, đễ luôn luôn
là chuẩn mực để đánh giá tư cách
con người, bởi thế mà tục ngữ
Việt Nam có câu: “Hùm chết để
da, người ta chết để tiếng”. Dĩ
nhiên tiếng ở đây gồm hai lãnh
vực tốt và xấu trong đó vấn đề
chữ hiếu.
3.1. Các chứng liệu chữ hiếu
trong văn chương bình dân và bác
học.
Dân tộc Việt Nam vốn là dân tộc
hiếu đễ, tôn trọng luân thường
đạo lý, kính trọng tổ tiên, ông
bà, cha mẹ nên trong các hình
thức văn chương bình dân như ca
dao, tục ngữ những vấn đề đạo
đức, luân lý cũng được nói đến
với tất cả sự đề cao, trân
trọng:
Công cha như núi Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn
chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
hoặc: Lên non mới biết non cao,
Nuôi con mới biết công lao mẫu
từ.
hay là so sánh: Mẹ nuôi con bằng
trời bằng bể,
Con nuôi mẹ con kể từng ngày.
Công ơn cha mẹ thể hiện từ khi
sinh ra, thời gian đi học cho
đến tuổi trưởng thành: Con học,
thóc vay.- Gia cảnh dù túng
thiếu, cha mẹ vẫn chạy vạy chỗ
này chỗ nọ để có phương tiện
nuôi cho con đi học. Con đóng
khố, bố cởi truồng.- Sự hy sinh
về vật chất để cho con cái đầy
đủ. Con lên ba cả nhà học nói.-
Niềm vui và sự cộng tác của mọi
người để dạy con. Cá không ăn
muối cá ươn, con cưỡng cha mẹ
trăm đường con hư.- Kinh nghiệm
khôn ngoan học hỏi ở cha mẹ để
tránh được thất bại mà đạt đến
thành công. Cơm cha áo mẹ ăn
chơi, Cất lấy cơm người đổ bát
mồ hôi.- Thừa hưởng công sức của
cha mẹ một cách vô tình trong
khi gặp cảnh khó khăn, cô đơn lẻ
loi thì phải làm cật lực mới có
cái ăn. Còn cha ăn cơm với cá,
còn mẹ liếm lá ngoài cửa.- Nói
về khả năng nuôi con cái của cha
hay mẹ. Con có cha như nhà có
nóc.- Nói về sự vững vàng khi
con còn có cha. Bên ướt mẹ nằm,
bên ráo con lăn.- Sự hy sinh
chẳng quản đến thân mình của
người mẹ.
Con ơi mẹ bảo đây này
Học buôn học bán cho tày người
ta,
Con đừng học thói chua ngoa
Bạn bè khinh dễ, người ta chê
cười.
Ca dao khuyên răn:
Đói lòng ăn đọt chà là
Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng.
Kho tàng tục ngữ ca dao của dân
tộc còn có rất nhiều câu nói
phản ảnh tinh thần hiếu đạo và
mối liên hệ giáo huấn của cha mẹ
đối với con cái. Những câu nồng
nàn lòng yêu thương và niềm cảm
mến nuối tiếc của con cái đối
với bậc cha mẹ khi những người
thân này đã khuất bóng:
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Ngó về quê mẹ ruột đau chín chìu
Cốt lõi của hiếu đạo là:
Thờ cha mẹ ở hết lòng
Ấy là chữ hiếu dạy trong luân
thường.
Chữ đễ nghĩa là nhường,
Nhường anh , nhường chị lại
nhường người trên.
Ghi lòng tạc dạ chớ quên,
Con em phải giữ lấy nền con em.
Đối với các bậc trí thức khoa
bảng Việt Nam trước đây, việc
trứ thuật các tác phẩm nhắm mục
đích giáo dục tinh thần hiếu đễ
cho con em được xem như là một
trong những chủ đích của mình.
Các tác phẩm văn học nổi tiếng
như Đoạn trường tân thanh của
Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của
Nguyễn Đình Chiểu cũng được xây
dựng trên chủ đề chữ hiếu. Sau
đây là điển hình một số tác giả
có tác phẩm viết về vấn đề chữ
hiếu, đạo hiếu.
Nguyễn Trãi là một bậc khai quốc
công thần của nhà Hậu Lê. Ông
sinh năm 1380, quán làng Nhị
Khê, huyện Thượng Phúc, phủ
Thường Tín, tỉnh Hà Đông, con
trai Nguyễn Ứng Long tức Nguyễn
Phi Khanh, đỗ Thái học sinh
(tiến sĩ) năm 21 tuổi,ra giúp Lê
Lợi khoảng năm 1421, giữ các
việc tham mưu và viết các thư từ
trọng đại cho lê Lợi trong việc
xử trí với quân Minh. Khi Lê Lợi
lên ngôi, ông được phong tước
Quan Phục hầu, làm Nhập Nội Hành
Khiển dưới thời Lê Thái Tông.
Sau ông bị gặp phải vụ án Nguyễn
Thị Lộ mà bị tru di tam tộc năm
1442. Tác phẩm ông để lại có rất
nhiều loại viết bằng chữ Hán gồm
Quân trung từ mệnh tập, Dư địa
chí, Ức trai thi tập; Văn loại
trong số đó có tập “Gia huấn ca
(bài hát dạy người nhà) vẫn
truyền là của ông soạn ra, nhưng
không được chắc lắm.
a) Tập này có sáu bài ca: 1. Dạy
vợ con; 2. Dạy con ở cho có đức;
3. Dạy con gái; Vợ khuyên chồng;
5. Dạy học trò ở cho có đạo; 6.
Khuyên học trò phải chăm họ.
b) Các bài ca viết theo thể lục
bát, nhiều khi đặt xen những câu
bảy chữ.
c) Chủ ý tác giả là đem các điều
cốt yếu, trong luân thường diễn
ra lời nôm cho đàn bà trẻ con
đọc.
d) Lời văn bình-thường, giản-dị,
lưu-loát êm-ái. Nếu tập ấy thật
của Nguyễn-Trãi soạn ra, thì văn
nôm của ta về đầu thế-kỷ thứ XV
cũng không khác nay mấy, chỉ
thỉnh-thoảng có một vài chữ nay
ít dùng.”26
Đặt ra ngoài tính cách nghi ngờ
về tác giả sách Gia huấn ca,
chúng ta cũng nhận chân được ý
thức về giá trị của tinh thần
hiếu đạo mà người xưa thường
quan niệm.
Một danh sĩ thời Nguyễn, Lý Văn
Phức (1785-1849) người làng Hồ
khẩu, huyện Vĩnh thuận, tỉnh Hà
đông, làm quan trải ba triều
Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức,
nhiều lần đi sứ các nước lân
cận, đã sáng tác nhiều sách vở
bằng Hán văn như Việt hành ngâm,
Việt hành tục ngâm, trong số đó
có tập Nhị thập tứ hiếu nói về
24 người con có hiếu ở bên Tàu.
“Lý Văn Phức là một nhà luân lý
muốn đem các điều luân thường
đạo lý để khuyên răn người đời.
Tác phẩm “Nhị thập tứ hiếu” (416
câu thơ song thất lục bát) đã
thành một cuốn gia-huấn ca được
phổ cập rộng rãi trong dân
chúng.”27
Trong thế kỷ trước, tác phẩm
Nhân Thế Tu Tri do Cao Xuân Dục
(1842-1923), Phó tổng tài Quốc
sử quán triều Thành Thái biên
soạn bằng Hán văn theo lời đề
nghị của Diên Lộc Quận Công
Nguyễn Thân năm 1899 và in năm
Thành Thái thứ 14 (1902), bản
dịch do Nhà xuất bản Văn học ấn
hành năm 2001 với nhan đề Người
Đời Nên Biết có ghi “Chủ đề của
tác phẩm là làm sáng tỏ luân
thường nhân sinh, việc học làm
người, phép lập thân xử thế.
Sách tập trung vào những điều
thiết yếu có quan hệ đến nhật
dụng nhân sinh thông qua các lời
đã chép, việc đã làm rút trong
Kinh, Sử, Tử, Tập...” Những lời
châm ngôn, những tấm gương hiếu
đễ, những lời khuyến thiện trừng
ác của Trung Hoa, của Việt Nam,
những việc làm tốt đẹp của các
danh nhân liệt nữ đều được biên
tập lại trong sách này có thể
coi đây là một hệ thống quy phạm
đạo đức chính thống triều Nguyễn
28.
Ngoài ra, một vị linh mục Công
giáo mà công trình kiến trúc nhà
thờ Phát Diệm của ông đã nêu
phương danh lại cho hậu thế đó
là Linh mục Trần Lục hay còn gọi
là Cha Sáu hoặc Père Six vốn là
Khâm sai đại thần dưới triều vua
Tự Đức cũng đã để lại một công
trình trứ tác văn chương nổi
tiếng về vấn đề giáo dục chữ
hiếu. Linh mục Trần Lục nguyên
quán làng Mỹ Quan, tổng Cao
Vĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh
Hóa, sinh năm 1825, đi tu năm
1845 tại chủng viện Vĩnh Trị,
năm 1860 thụ phong linh mục,
từng làm Gia lễ bộ Tham tri,
Khâm sai Tuyên phủ sứ của vua
Đồng Khánh, Lễ bộ Thượng thư của
vua Thành Thái. Ngài mất năm
1899. Tác phẩm của linh mục Trần
Lục Sách thuật lại ít nhiều ca
vè gồm có ba tác phẩm có tên
Hiếu tự ca (1088 câu), Nữ tắc
thường lễ (1016 câu), Nịch ái
vong ân (440 câu).
“Hiếu tự ca nói về chữ hiếu của
người Việt Nam, đối với cha mẹ
và tổ tiên. Tất cả là người đã
sinh ra đều mang nợ với tổ tiên
và cần báo đền.
Mấy lời hiếu tự nói qua,
Để cho ai nấy trẻ già nhớ ơn.
Làm người sống ở thế gian,
Ai không đội đức cao san nặng
dày.” 29
“Nữ tắc thường lễ là bài chỉ dẫn
những nguyên tắc, những điều
thông thường cho thanh thiếu nữ
cần biết trở thành người lương
thiện và giáo dân đạo hạnh. Cụ
Sáu đưa ra tám điều trong sinh
hoạt hằng ngày của người con gái
để sống: thảo kính cha mẹ, lo
liệu công việc nhà, giao tiếp xã
hội bên ngoài, dáng điệu đi
đứng, cử chỉ khi ngồi, lời ăn
tiếng nói, cách thức trang phục
và trau dồi nghề nghiệp. Tất cả
dựa theo đạo tam tòng: phụ phu
tử và tứ đức: công dung ngôn
hạnh.
Sinh mà không dạy khác gì,
Như loài mục súc ngu si quê mùa.
Dạy con thì dạy đầu sơ,
Đang khi còn bé dạy thì dễ in.
Lòng như giấy trắng nguyên
tuyền,
Ta mà muốn vẽ đỏ đen khó gì.
Nữ nhi bay cũng phải suy,
Cá không ăn muối ắt thì cá ươn.”
30
“Nịch ái vong ân là bài học dành
cho thanh niên. Đến tuổi trưởng
thành lập nghiệp có gia đình,
người thanh niên nên biết khéo
sống với vợ, và khôn với cha mẹ
hai bên. Muốn có người vợ ăn
kiếp ở đời với mình phải lựa
chọn, đắn đo, bàn tính trước
sau, không vội vàng bừa bãi mà
ân hận suốt đời.
Dạy con từ thuở lên ba.
Dạy vợ khi mới về nhà làm dâu.
(17-18)
Cả vợ chồng việc làm đầu tiên là
thảo kính tứ thân phụ mẫu tùy
khả năng.
Tứ thân cha mẹ bình an,
Đi thăm về viếng hỉ hoan tươi
cười.
Canh riêu miếng lạt miếng tươi,
Liệu chừng thay đổi cho người bổ
lao.
Lúc người yếu đuối liệt lào,
Trông nom chớ để giờ nào qua
không.” 31
Tóm lại, tác phẩm chủ yếu vẫn là
Hiếu Tự Ca là tập thơ “diễn tả
những tâm tình, những sự kiện
liên quan đến lòng hiếu thảo xảy
ra hằng ngày trước mắt đại
chúng. Chữ Hiếu trong Khổng học,
chữ Hiếu trong Thiên chúa giáo,
và chữ Hiếu trong niềm tin phổ
thông nơi đại chúng, trước ba
lựa chọn ấy, Cha Sáu và dân con
vùng Phát Diệm, qua Hiếu Tự, đã
chấp nhận lựa chọn thứ ba, chỉ
vì lựa chọn ấy sẽ cung ứng nhiều
phương án hợp cảnh, hợp tình
hơn.” 32
3.2. Một vài mẫu chuyện liên
quan tới chữ hiếu:
Trong kho tàng lịch sử và văn
học Việt Nam, chúng ta có thể
kiếm ra rất nhiều tấm gương hiếu
thảo đức hạnh của biết bao anh
hùng, danh nhân, liệt nữ chói
lọi nghìn thu. Có những mẩu
chuyện được truyền lưu trong dân
gian ít được sử sách ghi lại.
Sau đây chúng tôi xin lược ghi
một số chuyển biểu trưng cho
những tấm lòng hiếu hạnh đó.
Vua Lê Thánh Tôn hiếu với mẹ.
Vua Lê Thánh Tôn là một vị minh
quân trong lịch sử Việt Nam, trị
vì từ 1460 đến 1497. Dưới thời
của ngài, đất nước phát triển về
kinh tế, văn học, cương thổ,
quân sự. Ngài cũng là người con
rất có hiếu. Đại Việt Sử Ký Toàn
Thư ghi lại rằng : “ Trước đây,
hồi tháng 2, Hoàng thái hậu đi
lễ lăng về, không may bị bệnh
nặng, đến giờ Hợi, ngày 26 tháng
nhuận, băng ở chính tẩm điện
Thừa Hoa, thọ 76 tuổi. Khi Hoàng
thái hậu chưa băng, mùa đông,
vua cùng Hoàng thái tử ngày đêm
chăm sóc, không lúc nào rời bên
cạnh. Khi dâng thuốc thang hay
đồ ăn uống, vua nhất định tự
mình nếm trước; trong thì kêu
với tổ tiên, ngoài thì dốc lòng
cầu khẩn, không thần nào là
không khấn. Đến khi hấp hối cũng
tự kêu gào, Thái hậu còn nhếch
mép một chút, muốn nói để từ
giã. Mọi việc mặc áo, khâm liệm,
bỏ gạo vào miệng người chết, vua
đều tự làm lấy cả để tỏ lòng đau
xót.”33
Trịnh Kiểm với chuyện ăn cắp gà.
Cho đến nay, cuộc đời của nhũng
danh nhân lịch sử thường được tô
điểm bằng những câu chuyện gọi
là giai thoại Trịnh Kiểm là
người làng Sóc sơn, huyện Vĩnh
lại tỉnh Thanh hóa, có công
trong việc trung hưng nhà Lê vào
những năm giữa thế kỷ 16. Tương
truyền thuở nhỏ Kiểm đã có lần
ăn cắp con gà mái của hàng xóm
làm thịt cho mẹ ông ăn vì ông
vốn rất có hiếu với mẹ nhưng nhà
lại quá nghèo. Hàng xóm biết
được bắt mẹ ông thả xuống giếng
cho chết. Câu chuyện thực hư như
thế nào không biết nhưng cũng là
yếu tố góp công xây dựng một
chút huyền sử cho vị thái sư họ
Trịnh này.
Chuyện người giết cọp xứ Quảng.
Nguyễn Văn Danh, người Bình Sơn,
Quảng Ngãi, lúc đầu thi đỗ tú
tái. Cha đi thăm nương bị hổ vồ
mang đi. Danh đem người nhà đi
tìm thây cha, thấy vết hổ có một
dấu chân nhỏ, bèn đo và ghi lại.
Sau đó đặt bẫy, ngày đêm chỉ lo
việc bắt hổ. Sau bắt được một
con hổ chân sau hơi nhỏ, so với
kích thước đo thì khớp, lập tức
giết hổ lấy tim gan tế trước mộ
cha, ăn sống đến hết. Nhân đó
mắc bệnh, mỗi khi nói chuyện với
người, tiếng rống như hổ. Thiệu
Trị năm thứ sáu, được biểu
dương. 34
Lòng hiếu thảo của vua Tự Đức.
Vua Tự Đức (1847-1883) vốn là
người rất có hiếu với mẹ. Mẹ
ngài là bà Phạm Thị Hằng tức Đức
bà Từ Dũ, con của ông Phạm Đăng
Hưng là một vị khai quốc công
thần thời Gia Long. Vua Tự Đức
thường dành những ngày không
thiết triều để viếng thăm mẹ và
những điều mẹ ngài dạy ngài đều
ghi vào một cuốn sổ gọi là Từ
Huấn Lục. Sau đây là một câu
chuyện nói về lòng hiếu thảo của
nhà vua.
Một hôm vua Tự Đức đi săn ở rừng
Thuận trực ở phía thượng nguồn
sông Lợi Nông, cách kinh thành
Huế khoảng 15 cây số. Gặp lúc
trời mưa lụt nên nhà vua không
về được mà chỉ còn hai ngày nữa
là ngày kỵ của vua cha là Thiệu
Trị. Bà Từ Dũ bèn sai Nguyễn Tri
Phương đi tìm đón rước về. Dọc
đường hai bên gặp nhau nhưng vì
nước sông chảy mạnh quá nên
thuyền không thể đi nhanh được
mà tối đến mới về tới kinh
thành. Vua Tự Đức vội vã bất
chấp trời mưa đến trình diện mẹ
mình xin chịu tội. Bà Từ Dũ ngồi
quay mặt vào trong, im lặng
không nói gì. Vua Tự Đức bèn lấy
một cây roi mây dâng lên mẹ và
đặt nơi trường kỷ rồi lặng lẽ
nằm xuống khẩn khoản xin chịu
tội. Bà mẹ bấy giờ mới quay lại
lấy tay hất cây roi mây rồi nói:
“Thôi tha cho, đi chơi để cho
quan quân cực khổ thì phải ban
thưởng cho người ta.” 35
Câu chuyện hoàng tử Lý Long
Tường.
Câu chuyện sau đây có tính cách
thời sự và đặc biệt nối kết con
người hiện tại với quá khứ cách
đây hơn tám trăm năm.
Năm 1225, do âm mưu sắp đặt của
Trần Thủ Độ, ngai vàng họ Lý bị
chuyển sang tay họ Trần do việc
Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho
chồng là Trần Cảnh. Trần Thủ Độ
tiến hành việc tận diệt dòng dõi
nhà Lý, giết vua Lý Chiêu Tông,
cùng sát hại toàn bộ tôn thất
nhà Lý. Hoàng tử thứ hai là Lý
Long Tường, con vua Lý Anh tông
(1136-1175) và là em của Lý Long
Trát (tức Lý Cao Tông 1175-1210)
biết rõ nếu chần chừ trước sau
cũng bị hại về tay Trần Thủ Độ.
“Lý Long Tường đau xót trước sự
sụp đổ của vương triều Lý và lo
lắng tông miếu bị hủy bỏ, không
ai thờ cúng tổ tiên. Năm 1226,
ông đem theo đồ thờ của tổ tông,
chạy về phía đông dùng thuyền
vượt biển ra nước ngoài...thuyền
của ông cuối cùng đã vượt qua
biển cả mênh mông, đến sông Phú
Lương huyện Bồn Tân phía tây
nước Cao Ly và ông đã cư trú tại
Trấn Sơn phía nam phủ thành.”
36. Vua phát hiện ra hoàng tử An
nam bèn cấp đất lập cho thái ấp
tên Hoa Sơn. Tại đây hoàng tử Lý
Long Tường đã góp sức đánh bại
quân Nguyên bằng sức mạnh và mưu
trí trong rất nhiều trận chiến
khiến cho vua Cao ly rất cảm
phục. Dù xa quê nhưng Lý Long
Tường vẫn luôn nhớ về quê cũ nên
được vua Cao ly xây cho Vọng
quốc đàn trên đỉnh Hoa Sơn để
ngày ngày ông lên đó hướng về
phía nam mà lắng lòng trầm tư.
Vua Cao Ly ban quan tước, cấp
thêm 30 dăm vuông đất và nhân
khẩu 20 hộ cho ông làm thái ấp
để thờ cúng tổ tiên.
Sau chiến tranh, Hoàng tử Lý
Long Tường mở trường dạy học,
dựng đài bình văn, lập đền thờ
các bậc thánh hiền, học trò có
nhiều người đỗ đạt. Con cháu ông
dần dà sinh sôi nảy nở trên đất
CHDCND Triều Tiên và ở Hàn Quốc,
riêng ở đây có khoảng 200 hộ với
trên 600 người. Gia phả của dòng
họ gọi là Hoa Sơn Lý thị tộc phổ
ghi chép được 32 đời kể từ đời
vua Lý Thái tổ (Lý Công Uẩn).
Các di tích của dòng họ Lý tại
Hàn Quốc cho đến nay vẫn được
gìn giữ cẩn thận chẳng hạn như
ngôi mộ của Lý Long Tường dưới
chân núi Di Ất phía tây phủ
thành Bồn Tân 10 dặm, di tích
Thụ hàng môn và tấm bia Thụ hàng
môn kỷ tích bi, di tích thành
lũy và dinh quán cũa Hoa Sơn
Quân. Năm 1994, một người cháu
đời thứ 26 của hoàng tử Lý Long
Tường là Lý Xương Căn đã từ Hàn
Quốc tìm về cố hương là làng
Đình Bảng thăm viếng và hội ngộ
lại với tổ tiên, dòng tộc theo
lời căn dặn của tiền nhân.
Trong tác phẩm Đường Hy Vọng
biên soạn trong một hoàn cảnh
rất đổi khó khăn của tác giả,
Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn
Thuận (1928-2002) có viết : “Gia
đình là một “trung tâm ánh
sáng”, đem ngọn lửa hồng đốt
sáng nóng kẻ khác. Ngày nào mỗi
gia đình là “một trung tâm ánh
sáng”, thế giới này sẽ là một
đại gia đình, đầy ánh sáng, đầy
hy vọng”.37
Nhân mùa Vu Lan, thử suy tư về
một vài quan điểm tôn giáo bàn
về chữ hiếu với ước mong hiếu
đạo là căn bản vững chắc của mọi
sinh hoạt gia đình Việt Nam ở
hải ngoại cũng như trong nước
qua mọi thời đại và mọi người
đều có bổn phận giữ cho cái căn
bản đó (trung tâm ánh sáng) tồn
tại mãi mãi và soi sáng đến muôn
đời !
Nguyễn Đức Cung
New Jersey August, 10, 2008
CHÚ THÍCH:
1.- Dr. L. Wieger, S.J, Chinese
Characters, Paragon Book Reprint
Corp., New York Dover
Publications, Inc., New York,
trang 88.
2.- Nguyễn Đăng Duy, Văn hóa tâm
linh, Nhà xuất bản Hà Nội, 1998,
tr. 167.
3.- Thiều Chửu, Hán Việt tự
điển, Nhà xuất bản Đại Nam,
trang 137. Đào Duy Anh, Hán Việt
từ điển, Nhà xuất bản Tràng Thi,
Sài Gòn, 1957, trang 361.
4.- Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh
Phụng Vụ, Kinh Thánh Cựu Ứơc và
Tân Ước, Huấn Ca, Tòa Tổng Giám
Mục Thành Phố Hồ Chí Minh, 1998,
trang 1282.
5.- Nhóm Phiên Dịch, Sách đã
dẫn, tr. 1871.
6.- Nhóm Phiên Dịch, Sđd, tr.
2196.
7.- Nguyễn Phương, Cha Đắc-Lộ
với sự thành lập Giáo Hội Công
Giáo Việt Nam, Tạp chí Đại Học,
năm thứ tư, 1961, số 1 kỷ niệm
giáo sĩ Đắc Lộ, tr. 71. Phan
Phát Huồn, Việt Nam Giáo Sử, tập
I, Cứu Thế xuất bản, Sài Gòn
1965, bản in lần thứ hai, tr.
35.
8.- Ngô Nhân Dụng, bài Thực vi
văn hiến chi bang, Thế kỷ 21, số
161, September, 2002, tr. 10-11.
9.- Lê Ngọc Bích, Nhân Vật Giáo
Phận Huế, Tập I, 2000, tr. 347.
10.- Dương Quảng Hàm, Việt Nam
Văn Học Sử Yếu, Bộ Giáo Dục,
Trung Tâm Học Liệu Xuất Bản, in
lần 10, 1968, tr. 58.
11.- Nguyễn Đăng Thục, Lịch Sử
Tư Tưởng Việt Nam, Tập II, Nhà
xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh,
1998, tr. 117.
12.- Nguyễn Lang, Việt Nam Phật
Giáo Sử Luận, Tập I, Lá Bối xuất
bản, 1973, tr. 39.
13.- Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật
Giao Việt Nam, Nxb. Thành Phố
HCM, tập I, tr. 31
14.- Chu Văn Sơn, Angkor – những
đối cực của cái đẹp, Talawas,
ngày 5.1.2007.
15.- Stephen Oppenheimer, Eden
in the East, The Drơned
Continent of Southeast Asia,
Phoenix, 2001, tr. 91.
16.- Nguyễn Lang, Việt Nam Phật
Giáo Sử Luận, Tập II, Lá Bối
xuất bản, 1973, tr. 64.
17.- Hòa thượng Thích Thiện Hoa,
Phật Học Phổ Thông, quyển I,
Thành Hội Phật Giáo Thành Phố Hồ
Chí Minh ấn hành, 1992, tr. 231.
18.- Thích Thanh Kiểm, Lịch Sử
Phật Giáo Trung Quốc, Nhà xb.
Tôn Giáo, Hà Nội, 2001, tr. 139.
19.- Nguyễn Lang, Sđd, tập II,
tr. 79. Nguyễn Đăng Thục, Quan
Âm Thị Kính, Lịch Sử Tư Tưởng
Việt Nam, Tập I, Nhà xuất
bảnThành Phố Hố Chí Minh, 1998,
trang 374-391.
20.- Nguyễn Lang, Sđd, tập II,
tr. 83. Nguyễn Đăng Thục, Sự
Tích Phật Bà Chùa Hương Tích,
Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam, Tập
I, Nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí
Minh, 1998, trang 357-373.
21.- Nguyễn Hữu-Tiến và Nguyễn
Đôn-Phục dịch Luận Ngữ (Thiên Vi
chính, Chương V-VIII, trích
trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu
của Dương Quảng Hàm, Bô Giáo
Dục, Trung Tâm Học Liệu Xuất
Bản, bản in lần 10, 1968, tr.
42.
22.- Trần Trọng Kim, Nho Giáo,
quyển thượng, Bộ Giáo Dục, Trung
Tâm Học Liệu Xuất Bản, 1971, tr.
106.
23.- Trần Trọng Kim, Sđd, tr.
107.
24.- Trần Trọng Kim, Sđd, tr.
107.
25.- Hồ Thích, Trung Quốc Triết
Học Sử, bản dịch Huỳnh Minh Đức,
Khai Trí xuất bản, 1970, tr.
261-262.
25.- Dương Quảng Hàm, Sđd, tr.
270.
27.- Nguyễn Huyền Anh, Việt Nam
Danh Nhân Từ Điển, Cơ sở xuất
bản Zieleks, tr. 176.
28.- Tuyển Tập Cao Xuân Dục, Tập
1, Người Đời Nên Biết (Nhân Thế
Tu Tri), Trần Lê Sáng, Phạm Kỳ
Nam dịch, Nhà xuất bản Văn Học,
2001, tr. 7-8.
Muốn hiểu thêm về tác phẩm Người
Đời Nên Biết tức Nhân Thế Tu Tri
của Cao Xuân Dục xin đọc thêm
Nguyễn Đức Cung, Diên Lộc Quận
Công Nguyễn Thân, Nhà xuất bản
Nhật Lệ, Philadelphia, Hoa Kỳ
2002, tr. 394-408.
29.- Phạm Bá Nha, Đọc tác phẩm “
Sách thuật lại ít nhiều ca vè”,
bài trích trong Trần Lục do một
Ban Biên Tập ấn hành tại Canada,
1996, tr. 143.
30.- Phạm Bá Nha, Bài đã dẫn,
tr. 146.
31.- Phạm Bá Nha, Bài đã dẫn,
tr. 151.
32.- Phạm Xuân Thu, Tìm hiểu
“Hiếu Tự Ca” của Cha Sáu Trần
Lục (1825-1899), bài trích trong
Trần Lục do một Ban Biên Tập ấn
hành tại Canada, 1996, tr. 179.
33.- Đại Việt Sử Ký Toàn Thư,
Bản kỷ thực lục, quyển XIII, kỷ
nhà Lê, Viện Khoa Học Xã Hội,
Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà
Nội, 1998, tr. 514.
34.- Tuyển Tập Cao Xuân Dục,
Sách đã dẫn, tr. 245.
35.- Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử
Lược, bản in lần VI, Tân Việt,
Sài Gòn, tr. 471.
36.- Phan Huy Lê, Họ Lý Hoa Sơn,
một họ Lý gốc Việt ở Hàn Quốc,
bài trích trong Tìm Về Cội
Nguồn, Tập II, Nhà xuất bản Thế
Giới, Hà Nội, 1999, trang
432-440. Một số báo xuân trong
nước như Tuổi Trẻ, Thanh Niên
trước đây cũng có vài bài tường
thuật về sự kiện lịch sử này.
37.- Hồng Y Phanxicô Xavie
Nguyễn Văn Thuận, Đường Hy Vọng,
Kinh Đô ấn quán, Houston, (không
đề năm in), tr.116.
=====Xem thêm:
Câu Chuyện
Của Người Mẹ và Nỗi Lòng Người
Con
Uyên Hạnh
Có một người mẹ rời quê hương ra
đi đã lâu. Cô rời quê hương cùng
chồng và đứa con gái đầu lòng
đến sinh sống một nơi cách quê
nhà khá xa. Cuộc sống thường
nhật dần dà được ổn định, nhờ
hai vơ chồng cô chịu khó làm ăn.
Tháng năm qua, hai vợ chồng làm
ăn khá giả và họ sinh thêm được
một đứa con trai. Hai đứa trẻ
đều thông minh, đời sống lại đầy
đủ nên học hành rất chăm chỉ, và
cả hai được xem là học trò giỏi
của lớp và của trường.
Đời sống của họ trôi qua trong
bình thường với cuộc sống thường
nhật của những khó khăn cũng như
niềm vui có được. Thời gian đi
mau và các con của họ lớn dần.
Người con gái của họ vào năm 18
tuổi, đã tốt nghiệp Trung học
với bằng tốt nghiệp có số điểm
rất cao, tương lai và hy vọng
tràn trề. Ghi danh vào một Đại
học tiếng tăm theo ý cha mẹ, cô
con gái sẽ đi qua một học trình
5 năm, sau đó theo dự định của
mẹ, cô sẽ thực hiện ước mơ của
mẹ mình, tiếp tục học để lấy
bằng cao học. Nhưng rồi một hôm
bỗng dưng cô gái nỗi cơn điên
lọan! Kể từ đó, cô gái bỏ cả học
hành, khóc khóc cười cười bất
thường. Gia đình của họ đi vào
khúc rẽ của đời mình. Họ bước
vào một hành trình gian truân từ
đó.
Thời gian nầy khổ đau nhất là
người mẹ. Bà ta là người năng
động và có tham vọng rất lớn,
nên không chấp nhận những cái gì
bình thường, thế nên trong tình
huống nầy bà ta nhìn đứa con gái
mình mang nặng đẻ đau dứt ruột
sinh ra với một thất vọng dữ dội
và một bất lực to lớn. Vì thất
vọng vì sợ mất mặt với đời nên
bà đã gặp lắm nỗi gian truân từ
những lăn lóc trong cơn đau nỗi
khổ liên tục đêm ngày của hành
trình tư tưởng xây dựng trên
vọng tưởng của mình. Ngay cả
trong giấc mơ bà ta cũng thấy
mình đang sống trong sợ hãi và
niềm tuyệt vọng. Hai vợ chồng bà
thấy rõ cuộc đời của họ đi vào
ngỏ cụt không lối thóat. Cuộc
sống thường nhật của họ kể từ đó
mất niềm vui, chỉ còn thấy khổ
đau. Hai vợ chồng và các con họ
quay cuồng cuốn hút vào vòng
xóay của giận của thương và của
sợ hãi. Khi cái lực vô hình của
khổ đau đang mãnh liệt chi phối,
con người bỗng trở nên yếu đi,
mất hết tự chủ, hai vợ chồng họ
chỉ biết rơi nước mắt, cằn nhằn,
than thân trách phận.
Khổ hay không cũng phải tiếp tục
việc làm để kiếm sống. Hai vợ
chồng vẫn ngày hai buổi đi làm,
người con gái ở nhà vì đã bị
đuổi học. Cô con gái sống trong
thế giới nửa tỉnh nửa mê, nhưng
vẫn tự lo được những việc bình
thường như ăn uống, nói chuyện
với nhau trong nhà. Người mẹ
không chấp nhận con gái mình đã
thật sự điên lọan, bởi vì bà
không thấy được nguyên nhân của
những cơn điên nầy, nên bà ta hy
vọng đây chỉ là một cơn khủng
hỏang của tuổi mới lớn, rồi sẽ
qua đi. Bệnh viện không ”giam
lỏng” một bệnh nhân như thế, vì
vậy cô gái vẫn ở nhà với bố mẹ.
Hằng ngày trước khi đi làm người
mẹ dặn dò cô con gái đủ điều,
vừa dạy con cẩn thận vừa hăm dọa
để cho con sợ mà không làm bậy.
Ở nhà buồn quá, cô gái đi ra
ngòai và đi lang thang trong
tình trạng khi tình khi say, ngơ
ngơ ngẩn ngẩn, khóc khóc cười
cười. Không chủ động được tư
tưởng và hành động của mình, cô
gái đã làm nhiều việc đáng tiếc,
là đề tài cho sự vật vả và khổ
đau ngày càng lớn của người mẹ.
Mỗi buổi chiều xong việc hai vợ
chồng vội vã về nhà và người mẹ
mong được gặp con gái đang bình
yên ở nhà, nhưng cô gái bỏ đi
chơi nguyên ngày và thâu đêm
suốt sáng, là sự kiện trước đây
cô hòan tòan bị ngăn cấm. Nhiều
đêm bà mẹ không ngủ ngồi chờ con
đi chơi về với sự sợ hãi và nỗi
lo âu tràn ngập lòng bà. Đứa con
gái đi suốt đêm, và tìm đến
những nơi đông người như phòng
nhảy với âm nhạc kích động ồn ào
để hò hét nhảy nhót cho thỏa
thích. Cô uống bia, uống rượu và
dùng những lọai thuốc kích thích
như Ecstasy khi đến phòng nhảy.
Ảnh hưởng của những thứ nầy tạo
kết quả cho hành động thác lọan
”khát sống” không kềm chế, và cô
gái đã làm những việc mà mẹ cô
trước đây đã ngăn cấm, đã dặn dò
không cho làm hoặc dữ dội răn đe
cô. Sự ngăn cấm hăm dọa trước
đây được tác động bởi sự bất mãn
trong cô, chất chứa ẩn tàng đầy
ắp trong tiềm thức của cô gái,
đến hôm nay ”cựa mình sống dậy”
làm cô gái sống lọan, sống ”bất
cần đời” không kể đến người khác
và ngay cả bản thân mình.
Khi vừa mới lớn và bắt đầu có
nhận thức về mình và về người,
cô gái đã nuôi dưỡng một nỗi uất
ức. Những gì cần dạy dỗ con, bà
mẹ đã dạy qua lời cằn nhằn, và
bằng sự khống chế. Bà không đặt
tình thương của mình đúng chỗ để
có được sự cảm thông, sự hiểu
biết, nói lời giải thích hoặc để
tôn trọng con mình bằng việc
nghe ý kiến và nhận xét của con.
Sống trong sự đặt để như thế cô
gái khổ sở cố gắng kềm chế sự
bất mãn trước những cằn nhằn
hoặc giận dữ của mẹ mình, đôi
khi cả sự dữ tợn của người cha
qua hành vi trừng phạt không
đúng dựa vào những giận dữ vô cớ
của người mẹ. Trong đầu óc người
mẹ đã phát họa một lối sống cứng
ngắt và cũ xưa, bắt con gái phải
sống như ý mình, không giải
thích không bàn luận, và bất kể
là con có đồng ý hay không. Bà
mẹ chỉ thấy được mình mà không
thấy được con của bà. Ăn ngủ,
học hành, giao tiếp với bạn bè
phải theo đúng ý của bà, nếu
không cô gái sẽ bị gọi là đứa
con hư hỏng chỉ bỏ phí cuộc đời
mình và là đứa con đại bất hiếu.
Chữ HIẾU được bà mẹ triệt để áp
dụng trong những lần ”dạy dỗ”
con qua cái nhìn và lối suy nghĩ
của riêng bà. Cái thấy của bà
không thông suốt được cái xã hội
văn hóa học đường trong đó không
có người mẹ chỉ có bạn bè và cô
gái. Bà mẹ thiếu tinh thần bình
đẳng dân chủ tôn trọng kẻ khác,
đặc biệt đối với con mình. Bà
quên rằng nó là một người trẻ
tuổi biết suy nghĩ và hiểu biết.
Những quyết định của riêng bà,
đặt căn bản trên cái nhìn như
thế, thường trở thành một sự ép
buộc một sự đặt để, và do đó có
sự chống đối, là dịp bà mẹ cằn
nhằn ngày nầy qua ngày khác.
Suốt những tháng năm bị đặt để
dưới sự hà khắc của người mẹ, cô
gái nuôi dưỡng trong lòng niềm
phẫn uất ngày một lớn. Nỗi phẫn
uất đó dần dần biến thành nội
kết trong tâm tư cô gái và đã ăn
sâu mọc rễ. Khi nội kết đã theo
năm tháng đâm rễ nằm sâu trong
lòng sẽ không thể chuyển đổi
được nữa. Đến khi sức chịu đựng
đã không còn, niềm phẩn uất nổ
bùng tạo lọan động trí óc của cô
gái, và từ đó cô gái khóc cười,
say rồi tỉnh, tỉnh rồi say.
Nhiều năm trôi qua, cô gái vẫn
trong trạng thái điên lọan.
Người mẹ vẫn khổ đau vật vả than
trời trách đất và gia đình rối
bời theo từng cơn điên lọan của
cô con gái. Mỗi đầu ngày là
những lời cằn nhằn và dạy dỗ của
người mẹ với con gái. Mỗi buổi
chiều bên mâm cơm gia đình là
những lời than thân trách phận
của bà mẹ. Khi đêm về là lúc
người cha nếm mùi căng thẳng sợ
hãi của người mẹ, bởi vì bà mẹ
vừa khổ đau vừa giận dữ đợi con
về đã để tư tưởng mình tự do vẽ
những hình ảnh làm bà càng thêm
khủng hỏang rối trí. Lời cằn
nhằn của bà vẫn đều đặn rót vào
tai chồng trên giường ngủ, lào
rào suốt đêm, nên cả hai vợ
chồng đã nhiều đêm mất ngủ. Ngày
đi làm mệt nhọc, đêm về không
được nghỉ ngơi đầy đủ, hai vợ
chồng sau nhiều năm trở nên khá
tiều tụy, sức lực mỏi mòn.
Cuối cùng họ chấp nhận cho con
gái điều trị tại bệnh viện tâm
thần. Khi tình trạng gia đình
vẫn không thay đổi thì cho dù
được trị liệu bằng thuốc men sau
nhiều tháng nhiều năm, vẫn không
đưa cô gái trở về sự bình an của
tâm hồn. Những người quen khuyên
họ tìm đến chùa để nghe kinh lễ
Phật tìm thanh thản tâm hồn và
để cầu nguyện cho con gái họ hết
cơn điên lọan.
Kể từ đó bà mẹ thường đến chùa
tụng kinh niệm Phật. Hằng năm
đến Mùa Vu Lan, người mẹ ăn chay
suốt một tháng bầy để cầu nguyện
cho con gái của mình được thóat
khỏi cảnh điên lọan, trở về đời
sống bình thường như xưa. Người
mẹ hy vọng rằng với sự phù hộ
của chư Phật, một ngày nào đó
con gái của bà sẽ bình thường
trở lại, và cô sẽ lập gia đình
với người cô thương, sinh con đẻ
cái, săn sóc giáo dục con nên
người.
Mùa Vu Lan năm nay, năm 2008, bà
mẹ tiếp tục cầu nguyện và ăn
chay suốt Tháng Bẩy. Người con
gái của bà ta vẫn khóc khóc cười
cười, vẫn lang thang trên đường
phố, nhìn người qua lại với đôi
mắt ngây dại. Bây giờ cô đã được
32 tuổi.
Biết đến bao giờ cô gái nầy sẽ
thóat khỏi cảnh sống trong hư hư
thực thực, khi tỉnh khi mơ. Biết
đến bao giờ người mẹ có được sự
bình an trong những giây phút
sống. Lời kinh bà tụng vẫn ngân
vang câu:
Nguyện trú kiết tường dạ kiết
tường
Trú dạ lục thời hằng kiết tường
Nhất thiết thời trung kiết tường
giả
Nguyện chư Tam Bảo ai nhiếp thọ
(Dịch ý: Xin nguyện cầu ngày và
đêm sáu thời, tất cả các thời
thường được an lành. Nguyện cầu
Chư Phật từ bi gia hộ)
Nhiều người đã phát tâm tu hành
và sùng Đạo khi còn trẻ. Có
người khi già cả mới tìm đến
chùa tụng kinh nghe Pháp. Cũng
có người bôn ba bận rộn không
nghĩ đến Đạo, đến khi gặp một
khúc mắc hay vấn đề tạo chấn
động mãnh liệt trong tâm, người
ta mới nghĩ đến chùa và tìm về
chùa để cầu chư Phật gia hộ cho
khổ đau giảm bớt và an lành đến
với đời sống. Người Phật tử sùng
Đạo hay đến chùa lễ bái hương
hoa cúng Phật vào Ngày Rằm và
Mồng Một. Một số lớn Phật tử
thường năm chỉ đến dự hai lễ lớn
là Lễ Phật Đản (佛誕 - Vaisakha)
và Lễ Vu Lan (盂蘭 – Ullambana).
Chùa là nơi thanh tịnh. Vào đến
sân chùa chúng ta thấy tượng lộ
thiên của Ngài Quán Thế Âm, vị
Bồ Tát với hạnh biêt lắng nghe
để hiểu để yêu thương. Trước
chánh điện chúng ta gặp Ông
Thiện Ông Ác, như một cảnh tỉnh
một nhắc nhở về những hành động
thiện ác ta đã làm và sẽ làm.
Vào trong chánh điện điển hình
chúng ta ngắm được nụ cười vi
diệu của Đức Bổn sư Thích Ca, vị
Phật với hạnh tinh tấn, dạy cho
ta không biếng lười buông xuôi.
Hình ảnh Phật A Di Đà với bàn
tay phóng quang, là sự diễn bày
hạnh tế độ, cứu vớt để đưa về
cõi thanh tịnh giải thóat. Tam
Thế Chư Phật với Đức Bổn Sư, A
Di Đà và Di Lặc là biểu tượng
của Hiện tại, Quá khứ và Tương
lai. Tam Thế Chư Tôn gồm tượng
Phật A Di Đà ở giữa, tượng Bồ
Tát Quán Thế Âm ở bên trái, Bồ
Tát Đại Thế Chí ở bên phải là
hạnh Thanh Tịnh, Từ Bi và Trí
Tuệ... Tất cả đều mang đầy đủ ý
nghĩa đẹp để ta thấy được và
hiểu rõ ý nghĩa của giải thoát
và ràng buộc vướng mắc. Bằng
thành tâm thành ý ta biết đưa
những hình ảnh nầy vào cuộc sống
của chúng ta, để đời sống chúng
ta an lạc. Đó là sự phù hộ có
được từ Chư Phật Chư Bồ Tát.
Những tượng đất tượng đồng trong
chùa không có khả năng cho ta an
lạc, nếu ta qùy gối van xin ban
phước lành theo nghĩa đen của sự
kiện. Nếu hiểu rõ sự hiện hữu
qua hình tướng của chư Phật
trong Chùa là ta đã thấy để có
thế biết mà lập tâm tu hành sửa
đổi đời sống của chúng ta cho
gia đình bớt nặng nề khổ đau.
Qùy gối trước tượng Phật trong
Chùa là hành động dừng hành
động. Tạm thời trong khỏanh khắc
nầy không phải bôn ba cái thân,
không phải động não suy nghĩ lo
lắng, mà qùy gối yên lặng trước
bàn thờ để niệm hồng danh chư
Phật, đưa thân và tâm về một
mối, gọi là tạo thanh tịnh thân
tâm. Hướng lên bàn thờ chấp tay
là thái độ sùng kính tri ân nên
thành tâm học hỏi. Sùng kính Đức
Phật với đời sống thanh tịnh tu
hành đạt đạo giải thóat, không
còn bị phiền não khuyấy động như
chúng sanh ở cõi Ta bà. Từ sự
sùng kính ngưỡng mộ cho ta phút
giây dừng lại và nhìn sâu vào
lòng mình để tu sửa. Thấy được
cái vướng mắc của tâm mình đang
nằm ở đâu mới có giải pháp để
tháo gỡ được cái khúc mắc. Đó là
ý thức nằm trong cái lạy trước
hình tượng chư Phật chư Bồ Tát.
Nhiếp tâm trong chánh niệm làm
ta dẹp được cái vọng đưa ta trở
về cái thực. Cũng nhờ cái thấy
mà ta hiểu được tình thương chân
thật là tình thương ở đó ta thấy
được người ta thương. Nói rằng
thương người mà chỉ thấy mình là
tình thương ảo giác tạo vọng
động khổ đau. Người mẹ trong câu
chuyện kể trên đây nếu thấy được
con mình và nếu người con thấy
được mẹ mình trong những sinh
họat thường nhật của họ sẽ làm
cho cả hai hiểu được nhau hơn
thì lời nói và hành động đã có
mặt của sự qúy mến và tôn trọng
nhau.
Khi đã thực sự biết thương là đã
có sự cảm thông, thì những bước
chân ta đi trong cuộc đời mình
và cuộc đời người sẽ là bước
chân an lạc. Chính những bước
chân an lạc tạo thành con đường
an lạc. Chư Phật không xuất hiện
như một phép lạ dùng thần thông
lập nên con đường đó cho ta đi.
Mùa Vu Lan là Mùa Báo Hiếu. Báo
hiếu Cha Mẹ không gì bằng tích
cực sống.. Biết chia sẻ và yêu
thương người nghèo khó khốn khổ
là báo đáp sự dạy dỗ về chữ
THƯƠNG của Mẹ. Phấn đấu với cuộc
sống không buông xuôi là đáp chữ
NGHĨA của Cha. Sống mà tạo lợi
ích cho bản thân, gia đình và xã
hội là giữ được chữ HIẾU đẹp
nhất, vì tạo niềm vui cho Cha
Mẹ. Xã hội có một người sống
hạnh phúc thì phẩm chất đời sống
của xã hội được nâng cao thêm.
Tự thân ta, ta đã đem hãnh diện
về cho Cha Mẹ.
Những ai còn mẹ phải biết mình
là người hạnh phúc và nên qúy
trọng giữ gìn hạnh phúc đó. Mẹ
không ở mãi với ta, tuy lòng ta
rất mong muốn. Hãy nghe lời ca
khi người con mất mẹ:
Nếu mai này Mẹ hiền có mất đi
như đóa hoa không mặt trời
như trẻ thơ không nụ cười
ngỡ đời mình không lớn khôn thêm
như bầu trời thiếu ánh sao
đêm...
”Tu tức là nhìn tất cả những gì
đã và đang xảy ra trong đời mình
bằng con mắt quán chiếu”
UYÊN HẠNH
Vu Lan 2008
|
|