|
T
ừ khi con người
sinh ra cho đến khi từ giả cõi
đời này, cuộc sống đầy dẫy khổ
đau, khổ như thật, khổ thiệt sự,
khổ vì phiền não tham sân si đầy
ắp thân tâm, khổ vì nay thương
mai ghét, nay thân mai thù, khổ
vì mọi người sống chung quanh
mình tư tưởng không đồng nhau,
khổ vì hoàn cảnh trái ngang lúc
thuận lúc nghịch, khổ vì cơm ăn
áo mặc vất vả gian nan, khổ vì
cầu khẩn van xin thì nhiều, nhận
được chẳng bao nhiêu, hoặc chẳng
được gì cả! Khổ ơi là khổ! Đời
là bể khổ! Cuộc sống con người
khổ nhiều hơn vui, bất như ý
nhiều hơn sự cát tường, dù ở
trong bất cứ hoàn cảnh hay địa
vị nào của xã hội.
Khi nhận đúng,
thấy đúng, biết đúng như thực,
đời là bể khổ, nhưng không vì
thế cảm thấy bi quan, chán đời,
sanh tâm mong cầu cõi sung sướng
hơn cho thỏa tâm tham, thì con
người mới thực sự gọi là phát
tâm chọn con đường chân chính tu
hành của đạo Phật. Nếu không
thấy đời sống khổ như thật, còn
thấy cuộc đời hạnh phúc, vui
sướng và hướng tâm mong cầu sanh
về cõi sung sướng hơn, sung
sướng cực điểm, thì đừng nên
chọn con đường tu hành của đạo
Phật. Chọn lựa như vậy là sai
lầm.
- Tại sao như vậy?
T
ại vì lòng tham
cõi sung sướng hơn như vậy sẽ
dẫn dắt người tu lạc vào tà đạo.
Con đường tu hành chân chính của
đạo Phật là con đường đi ngược
lại với tâm tham lam, sân hận,
si mê và mong cầu ỷ lại của
người đời.
Con đường tu hành
chân chính theo đạo Phật là phải
xả bỏ những tâm niệm đầy tham
lam, sân hận, si mê, trong kinh
sách gọi là tà niệm, tạp niệm
hay vọng niệm. Dù tại gia hay
xuất gia, người tu phải tự lực
rèn luyện tu tập, luôn giữ gìn
chánh niệm, luôn trau giồi thúc
liễm thân tâm, cố sức tránh xa
các ác pháp lợi mình hại người.
Con người phải
đầy đủ nghị lực, phải gan dạ,
kiên trì, chịu đựng và kham nhẫn,
để mạnh dạn dứt bỏ những thói hư,
tật xấu, chứ không phải chỉ biết
thường vào nơi điện Phật chỉ để
cúng kiến, lễ bái, cầu khấn, van
xin, nương nhờ tha lực chư Phật,
chư Bồ Tát gia hộ, tiếp độ, trợ
lực, cứu khổ cứu nạn, giải thoát
khổ đau, tai ương, bệnh tật, hay
phóng hào quang tiếp độ những
vong hồn người chết về cõi Tây
Phương Cực Lạc.
Con người phải
phát tâm tự lực học hiểu chánh
pháp, suy tư nghiền ngẫm những
lời dạy quí báu trong kinh sách,
để biết cách áp dụng, thực hành
trong đời sống thực tế hàng ngày.
Chứ không phải tu hành suông
bằng cách chỉ biết tụng kinh,
niệm Phật, trì chú, ngồi thiền,
hay chuyên luyện bùa, luyện phép
để có thần thông, hay huyễn
thuật, hoặc để khẩn cầu được
sinh về Cực Lạc, Niết Bàn bằng
những oai thần, tha lực của chư
Phật, chư Bồ Tát, ngoài ra không
còn gì hết, không biết gì hết !
Muốn chân chính
tu theo đạo Phật để giác ngộ
và giải thoát khỏi cảnh khổ
đau của muôn kiếp sanh tử luân
hồi, con người phải tích cực
dùng sức tự lực của chính mình,
chuyển hóa thân tâm, chuyển hóa
ba nghiệp chưa thanh tịnh thành
ba nghiệp thanh tịnh, chứ không
phải bằng sự mong cầu, trông chờ,
van xin, cầu khẩn tha lực của
người khác, dù cho thành tâm tha
thiết đến đâu, cũng như tín
ngưỡng ngoại đạo mà thôi.
Trong kinh sách,
đức Phật thường dạy tu hành một
cách tích cực bằng những pháp
môn tự lực, tịnh tông hay thiền
tông, không có bài pháp nào dạy
tu tập cầu tha lực một cách tiêu
cực, ỷ lại. Chẳng hạn như là
pháp môn: niệm Phật, niệm
Pháp, niệm Tăng, và
niệm Giới.
Chúng ta nên biết:
Phật là tâm sáng suốt,
Pháp là tâm chân chánh,
Tăng là tâm thanh tịnh. Đó
là
Tự Tánh Tam Bảo.
Đức Phật dạy
niệm Phật là nhớ nghĩ đến
tâm sáng suốt, nghĩ đến Phật và
sống như Phật, chứ không phải
chỉ niệm suông danh hiệu Phật;
niệm Pháp là nhớ nghĩ đến
tâm chân chánh, nghĩ đến Pháp và
sống như Pháp, tu tập đúng như
pháp, nói năng như pháp, im lặng
như pháp, chứ không phải chỉ
tụng kinh suông; niệm Tăng
là nhớ nghĩ đến tâm thanh tịnh,
nghĩ đến tăng và sống như chúng
tăng hòa hợp, không chống trái
nhau, chứ không phải chỉ cúng
dường trai tăng, lễ lạy các vị
tăng để cầu phước báu; niệm
Giới là nhớ nghĩ đến phẩm
hạnh, giới đức và sống đúng giới
hạnh, không hề vi phạm giới luật,
dù chỉ phạm một lỗi nhỏ nhặt nào,
chứ không phải chỉ hằng tháng
vào ngày 30 ngày rằm cùng nhau
tụng giới suông, mà thôi.
Ở đây, Đức Phật
dạy niệm tức là tư duy
Phật, Pháp, Tăng và Giới, để
thấu triệt Phật, Pháp, Tăng và
Giới hàm nghĩa giải thoát như
thế nào, rồi noi theo đó mà thực
hiện nếp sống và tu tập như Phật,
như Pháp, như chúng Thánh Tăng
và như Giới luật đã dạy.
Có hiểu biết và
tu tập như vậy, thì mới có
giác ngộ và giải thoát thực
sự. Còn như chỉ biết niệm suông
danh hiệu Phật, tụng kinh suông,
cúng dường trai tăng và đảnh lễ
chư tăng và tụng Giới, dù có
niệm Phật, Pháp, Tăng, và Giới
như vậy cho đến muôn kiếp ngàn
đời, thì cũng chẳng có giác ngộ
và giải thoát được chút nào.
Tham sân si, cố chấp và ngã mạn,
nếu không tăng thì cũng còn y
nguyên. Những sự tu hành sai lạc
này khiến chẳng còn ai tu chứng.
Người tu hành mà hiểu Phật giáo
như vậy, tức là chẳng hiểu Phật
giáo gì cả.
Tương tự, trong
Kinh A Di Đà,
đức Phật có dạy: “Kỳ độ chúng
sinh, văn thị âm dĩ, giai tất
niệm Phật, niệm
Pháp, niệm Tăng”.
Hoặc: “Văn thị âm
giả, tự nhiên giai sinh, niệm
Phật, niệm Pháp, niệm Tăng chi
tâm”.
Nghĩa là:
Những diệu pháp ấy, chúng sinh
cõi này, khi nghe được rồi, hết
thảy đều niệm: niệm Phật, niệm
Pháp, niệm Tăng. Hoặc:
Ai nghe tiếng ấy, tự nhiên sinh
tâm: niệm Phật, niệm Pháp, niệm
Tăng.
Xưa nay, chỉ có
những người lười biếng, dối mình
gạt người, không chịu nghiên tầm
học hiểu giáo lý, không thấu rõ
lời dạy của chư Phật, chư Tổ, do
đó tin bừa, làm càn và rao giảng
những điều sai lầm, mê tín, mù
mờ. Số người mê tín tu mù này,
có cả tu sĩ và cư sĩ, đơn giản
hóa pháp tu tịnh độ đến mức tối
đa, khuyên người chỉ cần niệm:
Nam Mô A Di Đà Phật, thì chắc
chắn được vãng sanh, không cần
đọc tụng kinh điển, không cần
học hiểu giáo lý, sợ bị loạn tâm,
không vãng sanh.
Họ lập ra các ban
hộ niệm, tự phong cái quyền
quyết định dám tuyên bố người
này được vãng sanh, người kia
không vãng sanh, người này lưu
xá lợi, người kia không, mặc dù
người mới chết suốt đời không
biết chùa chiền, kinh kệ hay tu
tập gì ráo! Tiếc thay, số người
này thu hút được đám đông si mê,
cùng tần số cố chấp, lười tu tập
nhưng mong cầu và tin chắc được
vãng sanh cực lạc cho sướng cái
đã, rồi hẹn lên trên đó tu tiếp
sau, dễ dàng hơn nơi cõi ta bà
này.
Khi bước chân vào
đạo, ta thường được nghe dạy:
bài học tu tập tự lực đầu tiên
là phải dứt bỏ các nghề nghiệp
ác đang sanh sống hàng ngày,
nghĩa là người muốn tu hành theo
đạo Phật, thì phải ngưng nghề ác,
hành nghề thiện, ngưng việc ác,
làm việc thiện. Qua bài kinh dứt
các nghề ác, chúng ta thấy rõ sự
tự lực của đạo Phật ngay từ ban
đầu. Không làm các điều ác.
Siêng làm các việc thiện. Giữ
tâm ý thanh tịnh. Đó là chư Phật
giáo.
Khi bước chân vào
đạo, ta thường được nghe dạy:
“Thông suốt những gì cần phải
thông suốt, dứt bỏ những gì cần
phải dứt bỏ, tu tập những gì cần
phải tu tập, trau giồi những gì
cần phải trau giồi”. Những việc
làm này là những hành động tự
lực.
Trong Kinh Pháp
Cú, đức Phật có dạy:
Tự mình điều ác
nhiểm ô.
Tự mình thanh
tịnh chính mình.
Tự mình phân minh
thiện ác
Không ai giúp ai
thanh tịnh.
Đạo Phật là một
tôn giáo xây dựng trên nền tảng
thiện pháp, mọi ác pháp cần phải
loại trừ dứt bỏ. Nhờ có loại trừ
ác pháp, tăng trưởng thiện pháp,
cuộc sống mới có sự giải thoát
an vui, hạnh phúc cho mình, cho
người. Không có con đường nào
khác hơn.
Loại trừ ác pháp,
chỉ có tự lực, không thể có tha
lực. Những điều làm ác phải tự
mình dứt bỏ chứ không thể cầu
cạnh người khác giúp mình được.
Ví như nhờ người khác giúp mình
đừng ăn cắp, ăn trộm có được
không?
Không có thể được,
phải tự mình biết đó là một việc
làm xấu ác, khiến người ta sầu
khổ thì mình nên tự lực dứt bỏ,
cũng như tự lực dứt bỏ các nghề
nghiệp ác, chứ không thể cầu chư
Phật giúp mình được.
Đạo Phật nhìn
cuộc đời với đôi mắt nhân quả,
chỉ có tự lực dứt bỏ được nghiệp
nhân nghiệp quả mà thôi, dù cho
có một đấng vạn năng nào đó cũng
không giúp con người việc này
được. Đã gieo nghiệp nhân, thì
con người chạy đàng trời cũng
không tránh thoát nghiệp quả.
Thâm tín chánh lý nhân quả là
pháp tu tự lực của đạo Phật.
Thời đức Phật còn
tại thế, khi nghiệp quả đến với
các vị đại đệ tử do nghiệp nhân
đã tạo từ nhiều kiếp trước, kiếp
này dù đã chứng đắc, các ngài
vẫn phải đền trả, chứ không có
chuyện còn nghiệp mà được vãng
sanh, đức Phật còn không can
thiệp, cứu giúp gì được cả. Con
người nên nhớ việc này để làm
gương, cố gắng hết sức, tự lực
tu tập, tinh tiến không ngừng,
không lười mỏi. Ðó mới là chánh
kiến và chánh tín của người phát
tâm tu theo Phật.
Trong Kinh Pháp
Cú, đức Phật có dạy:
Lên non xuống
biển vào hang
Nghiệp nhân quả
báo đã mang
Không ai tránh
được thoát được
Như hình với bóng
theo mình.
Đạo Phật qua hình
thức, nghi lễ của một tôn giáo
nhằm phát triển, mang ánh sáng
từ bi và trí tuệ tới
quảng đại quần chúng, độ tận
chúng sanh, nhưng cốt tủy cao
siêu của đạo Phật là phi tôn
giáo.
Nghĩa là: Đạo
Phật là tôn giáo duy nhất chủ
trương không tôn thờ một đấng
thiêng liêng vạn năng có quyền
lực tối cao hay ban phước giáng
họa trên sinh mệnh con người.
Đạo Phật là một tôn giáo bi trí
dũng, xây dựng con người tự giác,
tự lực, tự độ, tự cứu mình thoát
ra khỏi cảnh khổ, nên còn gọi là
“Độc Cư, Độc Bộ, Độc Hành”.
T
óm lại,
Khi mê lầm, chúng
con khổ, nguyện xin cứu khổ.
Khi giác ngộ,
chúng con khổ, nguyện xin tự độ.
Nhờ thế, con
người mới biết đạo Phật là
đạo tự
lực,
tự lực mới thực là tu,
chính là nghĩa đó vậy. Con người
phải tự thắp đuốc lên mà đi.
Thắp lên với chánh pháp. Kinh
sách tha lực không phải là kinh
sách liễu nghĩa của đạo Phật. Y
liễu nghĩa, bất y bất liễu nghĩa.
Đạo Phật có nền
đạo đức nhân bản – chánh lý
nhân quả:
sống
không làm khổ
mình,
không làm khổ
người,
không làm khổ
chúng sanh.
Thích-Chân-Tuệ
|