|
VẬT LÝ PHÁ CHẤP-
VŨ TRỤ HOA NGHIÊM-
THỦY THIỀN DO THÁI
* * *
VẬT LÝ PHÁ CHẤP
Điều kiện cần yếu để phát minh
sáng tạo, theo A. Einstein, là
tâm tư ngoại lệ, không chấp
trước, không thành kiến, tự do
tưởng tượng, vô bờ, fantaisies,
chứ không phải kiến thức đầy đặc
thành khuôn nếp trong đầu, ông
từng nói : " I am enough of an
artist to draw freely upon my
imagination...the gift of
fantasy has meant more to me
than my talent for absorbing
positive knowledge ", không tự
do thì không có sáng tạo, không
phá chấp, thì không thể chuyển
hóa, cho nên giống như Phật pháp,
cần phá chấp, không biên kiến,
không bị kẹt vào có với không,
nhỏ với to, cao hay thấp, tất cả
chỉ là những danh từ, những kiến
chấp, rất tương đối.
Không có biên giới giữa các sinh
vật, con khỉ Ngộ được Không,
cũng thành Tôn sư đại thánh, cho
đến ma nữ yêu tinh...cũng chẳng
sai biệt, quốc độ của họ còn
nặng nghiệp, nhưng chẳng khác
nhau bao nhiêu, cho nên nếu tu
tập tinh tấn, chưa tới mức thiên
nhãn, thiên nhĩ như Bồ tát,
thiện nhân vẫn có thể "chiếu yêu
kính" nhìn ra chân tướng, nghe
được tiếng tạp giới chúng sinh...Cho
nên tác giả Liêu Trai Chí Dị xóa
hết bức tường chia cách: dạ xoa,
chồn, cáo...vẫn có thể biến hóa,
lấy người, yêu người, trong một
khoảnh khắc kiếp hồng nhan...bông
hoa, cánh bướm, thậm chí sâu bọ,
cũng mang Phật tính, vũ trụ phá
chấp, chúng sinh đồng nhất thể,
người trần mắt thịt, làm sao
biết cỏ cây sỏi đá vô giác vô
tri ?
A. Einstein đã đi vào lộ trình
phá chấp của Phật pháp, vạn pháp
duy tâm tạo, tất cả Tứ đại-đất,
nước, khí, lửa- vạn pháp giai
không cũng được, mà vạn pháp
giai hữu cũng được, " có thì có
tự mảy may, không thì cả thế
gian này cũng không" người bình
dân VN ai cũng thuộc lòng thấm
thía câu đó, hẳn nhà bác học Do
Thái kia cũng đốn ngộ bừng thấy
lý phổ quát tương đối trong vũ
trụ, chẳng có lực nào riêng rẽ,
cho nên, vật chất mới hóa thành
năng lượng, được vận tốc ánh
sáng bốc lên : E= MC 2, vũ trụ
tam thiên đại thiên thế giới này,
ống kính Hubbles thiên văn thấy
là đa vũ trụ, toàn pháp giới Vô
Lượng Quang tử, ánh sáng big
bang, ánh sáng cong, ánh sáng
xoáy vòng vào thiên ngục black
hole...Nam mô A di đà...Amitabha,
chỉ là cái tên cho nhân gian
hiểu, thật ra, trên bình diện vũ
trụ, nghĩa là quang tử, là
photon, là quantum...gì gì nữa,
vô lượng, vô khả luận...
Đã là vô lượng quang Amitabha,
thì làm gì có không gian giam
hãm, làm gì có thời gian non hay
già...không đến, không đi, không
còn, không mất, không nhơ, không
sạch...cho nên cả vũ trụ có thể
chứa trong một lỗ chân lông Bồ
tát, tất cả ba thế giới trên đầu
một hột cải...cái to trong cái
nhỏ, cái nhỏ trong cái to, lớp
lớp như những mảnh kính mảnh
gương soi chiếu muôn chiều vô
lượng...ánh sáng trong tâm cũng
là ánh sáng trong vũ trụ và ánh
sáng quanh mặt trời cũng chỉ thu
vào đồng tử một con mèo...vi
quang tử, photon, boson, vi tử
Hoa nghiêm, nở trùng trùng hun
hút vào chốn thiên thai, không
gian mấy chiều cũng được và thời
gian muôn ngả cũng vẫn đứng yên
vì chiếc thảm thần tiên bay cùng
vận tốc với cả giải ngân hà
trăng sao... tại sao loài người
thắc mắc về durée của đời sống,
khi cõi tâm có tốc độ nhanh bằng
hay hơn điện từ trường? nhảy một
bước, như Tôn Ngộ Không, nhảy
hai bước, từ thức, nhập cõi
thiên thai...
Nhà vật lý học như A. Einstein
thì không chịu chuyện " bất khả
tư nghị", ông muốn biết Tạo Hóa
nghĩ gì - I want to know God'
thoughts; the rest are details-
ông đi tìm Vũ trụ Thống nhất
trường- Unified Theory, quân
bằng phương trình, bó 4 lực lại
thành một bó: trọng lực, điện từ
lực, lực mạnh và lực yếu hạt
nhân (gravitational-,
electromagnetic- strong- weak-
nuclear forces), nghĩa là không
còn cách biệt giữa Không Thời
gian,...Năm ngàn năm trước, Phục
Hy cũng đã thống nhất hai lực Âm
Dương, một âm một dương, tứ
tượng, bát quái, rồi 64 quẻ...
thống nhất quy vào Thái cực,
nhưng trên Thái cực là gì ? là
Tạo hóa chăng? là ông Trời chăng
?...hệ thống suy tưởng Âm Dương
đã là cao, nhưng tới Thái cực
thì vẫn chưa hết gợn sóng ý niệm,
còn " Cực" dù là cực thái! Nhà
Phật, thấy cái ngõ cụt ấy, phá
hết biên kiến Vật- Tâm, quét
sạch vọng niệm, tới mức phi
tưởng, phi phi tưởng, tới mức
Thiền bậc bảy bậc tám bậc chín...quán,
tuệ.
Cuối đời, sau gần 30 năm mài
miệt suy tưởng về Vũ trụ Thống
nhất trường, Eisntein đã tâm sự
là chưa tìm ra luật phổ quát
nhất thống tất cả mọi lực trong
vũ trụ...vũ trụ bành trướng,
ngân hà ngày một văng ra xa,
không co rút và bành trướng như
suy luận, không có hằng số vũ
trụ (cosmological constant)
nhưng có thiên ngục black hole,
ba lực bó lại làm một dung thông
nhưng trọng lực thì vẫn nằm
ngoài v..v.. gần đây vật lý gia
Stephen Hawking, muốn nhất thống
quang lực quantum với trọng lực
trong một lý thuyết bao gồm tất
cả- a theory of everything, còn
Einstein thì không thích sự tình
cờ trong thuyết lý quantum, ông
nói " Tạo hóa không chơi xúc sắc
xúc sẻ " God does not play
dice...và ông muốn tìm kiếm xem
Tạo hóa nghĩ gì khi sáng tạo ra
vũ trụ, điều lý thú nhất, kỳ
diệu nhất, theo Einstein là tại
sao ta lại hiểu được những gì
tưởng là không thể hiểu! (...The
eternal mystery of the world is
its comprehensibility...). Nhưng
rồi giới hạn nhân sinh, Einstein
cũng phải buông bỏ, về chầu Tạo
hóa Tâm vũ, một cosmic God,
không phải là một Thượng đế ngồi
cao thưởng phạt loài người... Có
thể ông đã đọc thoáng qua kinh
Phật, từng đọc kinh sách cổ thư
Ấn độ, từng ngồi trò chuyện với
Tagore, nhưng nếu đi sâu hơn vào
kinh Phật, không chừng sẽ kiến
tánh đại ngộ, Vật lý chỉ là
phương tiện của dục giới, có tìm
hiểu đến đâu thì vẫn quanh quẩn
trong hình sắc vật thể, pháp hữu
vi chẳng thể dùng để đạt pháp vô
vi, tục đế làm sao vươn tới chân
đế... Vô sắc giới, cõi Tâm, tạm
gọi như là một Cõi, thực ra Tâm
không còn là Cõi, không còn hai
cái cột Không- Thời nữa, thì
không thể đóng khung vào một Cõi
nào, và như thế mới là thể tính,
là nền chung, là Thống nhất
trường, vừa sắc giới, vừa vô sắc
giới, vừa cõi này, vừa các cõi
kia, vừa nhân thiên địa, tam tài,
thông cả tam giới là Vương, một
vạch thẳng thông qua ba vạch
ngang, Dịch và Nho, Lão, đã là
cao, nhưng lý Hoa nghiêm còn cẩn
trọng hơn, thiên địa nhân, đúng,
nhưng Thiên là một ẩn số, đa
thiên vũ trụ, tam thiên đại
thiên, vô lượng, vậy thì hãy lấy
lý sự sự vô ngại, lý lý dung
thông, làm quy luật vũ trụ thống
nhất trường, có lẽ sát với tầm
vóc tề thiên hơn... Einstein nói
" Sự tương đối dạy ta tính dung
thông giữa các hình sắc dị biệt
của cùng một thực tướng-
Relativity teaches us the
connection between the different
descriptions of one and the same
reality. Những vi tử như proton,
neutron, pion...biến dạng luôn
luôn đến nỗi các vi tử có thể
xem như nối kết -combination-
với nhau chứ không riêng rẽ (In
the Flower Garland Sutra, each
part of physical reality is
contracted of all the other
parts- The Dance Wu Li Master-An
overview of the new Physics by
G.Zukav p.238).
LÝ SỰ HOA NGHIÊM
Nhà Phật tùy duyên phân ra Tam
giới : Dục giới bao gồm Người, A
tu la ( dưới người một cấp độ),
Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh- Sắc
giới gồm các vị trời, đã vượt
qua nhị biên nam nữ, hết dục
vọng, sống trong thiền định,
chính ở Sắc giới mà công phu
thiền định, từ sơ thiền đến nhị
thiền, tam thiền lên tứ thiền...thì
hào quang đã phát ra rực rỡ, đã
sinh hóa từ cõi dục vật thể sang
cõi vô lượng quang, cõi thanh
tịnh, tới Vô sắc giới, chẳng còn
hình sắc, chẳng còn nam nữ âm
dương, cảnh giới này thuần
nghiệp thức, thuần tâm, vô biên,
vô sở hữu, phi tưởng, phi phi
tưởng...là nhất thống trường mà
Einstein phải chăng đã cố tìm
kiếm ?
Tính dung thông phổ quát, vô
ngại, phá chấp...có thể giúp tìm
hiểu thuyết luân hồi rộng rãi
hơn: óc chấp trước duy khoa học
thì thấy mâu thuẫn khi con người
đã chết, đã tắt, thì còn cái gì
lăn lóc mấy ngả luân hồi nữa...Will
Durant viết " ..if there is no
soul, how can it pass into other
existences...He ( Buddha) took
the Wheel of Rebirth and the Law
of Karma for granted...Our
Oriental Heritage tr.435 )..Tuy
Will Durant biết nhà Phật chú
trọng tới việc chấm dứt luân hồi,
tới giải thoát, nhưng chưa thấu
lẽ sắc sắc không không, vô
thường, thiên biến vạn hóa của
chúng sinh...nên còn kẹt vào ý
niệm linh hồn -soul- bất biến
vật lý của tôn giáo thần linh;
nếu hiểu theo nghĩa linh động,
dị tướng mà đồng tướng hiện
tượng nhưng bản thể vẫn nhất như,
thì sẽ không còn thấy mâu thuẫn,
vì Luân Hồi chỉ là sự chuyển hóa-
the process of transformation
relative to one's karmic
account, tùy nghiệp tùy duyên,
của chủng tử, soi chiếu nhau như
ánh đèn trong vạn vạn tấm gương,
sang hình này dạng kia, sang cõi
này cõi khác, có khi, trở lại
cõi người tái sinh duyên, như
người phải đi học lại, học" đúp",
kiểu tú kép tú mền...nặng nợ
trần gian. Trong vòng luân hồi
samsara ngọn lửa chưa phụt tắt,
nó còn le lói, âm ỉ, cho tới khi
giải thoát rốt ráo, nhập Niết
bàn, mới gọi là tắt ngấm...không
còn chuyện còn hay hết nữa. Cũng
có thể ví như một bản đại hòa âm
vũ trụ, nốt nhạc này trầm xuống,
nốt nhạc kia nổi lên, nốt trầm
không hẳn là hết, vẫn là nhạc
biến hóa sang cung bậc khác mà
thôi. Cho nên súc sinh ngạ quỷ
chuyển hóa lên người, người hóa
thành quỷ, thành cậu chó, hổ
biến ra người, trâu bò gà lợn...
hóa kiếp thành đồ tể...nàng kiều
hết kiếp thành ni cô...v..v..trẻ
thơ chết non là hết nghiệp trần
gian chuyển qua kiếp khác...tất
cả như một tổng thể, những làn
sóng trên biển cả, sóng to sóng
nhỏ, lồng vào nhau, hóa hiện như
riêng mà vẫn chung đại hải.
Vũ trụ tại tâm, thiên lý tại
nhân tâm, dung thông giữa Phật,
Khổng, Lão, cũng là sự dung
thông giữa cảnh giới, người, vật,
tiên, trời, Bụt...hiểu chữ Bụt
như một luồng sáng phổ quát khắp
mọi vũ trụ, thì búp sen trong ao
bùn, hay vũ trụ hoa nghiêm cũng
giống nhau: kinh Hoa Nghiêm (hua
yen- avatamsaka flower garland
sutra) cho vũ trụ như lớp lớp
gió xoáy, tỷ tỷ như bụi đá núi
Tu Di đập nát ra, tựa đóa sen,
đài sen ở giữa cứng bền như kim
cương, hạt sen nằm trong những
lỗ đại dương diệu hương thơm
ngát, nhiều vô lượng, như những
nguyên tử atoms không thể mô tả
trong vô lượng Bụt trường (buddha
fields), cõi tịnh độ này, trong
cửu phẩm liên hoa, chín bậc cao
thấp, thượng thiên (1 tỷ cõi),
trung thiên (1 triệu cõi) , hạ
thiên (1 ngàn cõi), cũng là ngụ
ngôn về sinh thành vũ trụ , mỗi
cánh sen là một tỷ thế giới, tức
một Tam thiên đại thiên cõi (
Sutra of the perfect net -Kinh
Diệu võng) và cũng chỉ là một
hạt bụi quay vòng xoáy ốc trong
vô lượng đám bụi tinh thể khác.
Hiểu Bụt như một lực phổ quát sẽ
thấy chuyện Tề Thiên Đại Thánh
trong Tây Du Ký toan đi ra ngoài
vũ trụ mà rút cuộc vẫn nằm trong
bàn tay Bồ tát là hàm chứa thiền
quán Bụt trường thống nhất vậy.
Những thuyết vật lý mới, không
gian 4 chiều tới 11 chiều sợi
dây vi tử- như dây đàn- khi rung
lên sẽ tạo ra nốt nhạc tức là
những vi tử nhỏ hơn nguyên tử,
gần như không có trọng
lực-massless, rất giống với lời
dạy lân không, gần cận với không,
của Đức Phật, (string
theory-subatomic particles), các
sợi dây vi tử rung động-vibrate-
trong không gian và thời gian,
rung động làm cong không gian,
gravity & bending of space, và
dây đàn rung lên chính là quang
lực, vibrations & quantums...cố
gắng thống nhất trọng lực với
quang lực này lại càng củng cố
tư tưởng Hoa Nghiêm, sự sự dung
thông, lý lý vô ngại mà thôi.
Dường như tổ tiên Việt Nam,
những nhà sư đời Lý, ngàn năm
Thăng Long, cũng đã thấu lý Hoa
nghiêm vũ trụ. Xứ nghèo chẳng
kiến trúc vĩ đại như bên Nam
Dương Borobodur với vòng vòng
lớp lớp núi Tu di cánh sen đài
ngọc theo mô hình Mạn đà la...các
vị giản qui vào một cánh sen
nhất trụ kình thiên chùa Một Cột,
một cột đá nổi lên từ hồ sen đỡ
Liên Hoa đài (đời Lý Thái Tôn
1049), đài thờ Quan Âm..hình
dạng chùa phảng phất một Bụt
trường tâm vũ quán (cosmopsychoawakening)
trong Hoa nghiêm và Diệu Hoa
kinh. Công phu giản quy đó phản
ảnh sức nhất thiết chủng trí,
khả năng tập đại thành viên giác,
dẫn vào vũ trụ thống nhất trường,
nhẹ nhàng như làn gió trên mặt
hồ phảng phất hương sen. Tháp
Báo Thiên, với chóp tháp Đao Lợi
Thiên, nay đã mất, một trong Tứ
khí của đất nước, hẳn là cột trụ-axis
mundi- lên cõi Trời Đao Lợi, vòm
tháp stupa thường hình tròn như
quả trứng-anda -cosmic egg, nở
ra vũ trụ...cho đến Đế Thiên Đế
Thích...cũng biểu trưng vũ trụ
Bụt trường và có thể đã được
kiến trúc theo dạng đồ chòm sao
thất tinh giống như các Kim Tự
tháp ở Ai cập, ở Trung Mỹ
Maya...Biểu tượng OM (trong Om
mani padme hum, ngọc quý hoa sen)
và Màyà (màn vô minh che mờ
tuyệt đối Brahman) đều là những
lực vũ trụ... Phải chăng nhân
loại từ dăm ngàn năm trước đã có
một nền văn minh tổng hợp thiên,
địa, nhân giới ? Từ phù đồ stupa
chuyển sang Viễn đông thành chùa,
bảo tháp pagoda, gốc gác từ chữ
dagoba của Tích lan, tức nơi
chứa xá lợi và xá lợi chính là
ngọc quý- mani ?
Thế thì trong Bụt trường thống
nhất đó, cái gì là hoạt lực đưa
đẩy chúng sinh chuyển hóa từ cõi
này sang cõi kia, cái gì đẩy
toang cửa khiến mọi quốc độ dung
thông với nhau? Quốc độ- field
levels- tùy theo nghiệp nặng hay
nhẹ, nặng thì xuống Địa ngục,
nhẹ thì vào Cực lạc, 10 độ chính
" nhất tâm cụ thập pháp giới ":
Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh- A
tu la, NGƯỜI- Thiên, Thanh văn,
Duyên giác- Cực lạc-Niết Bàn,
kinh qua 9 cửa, cửa chuyển hóa
nhờ tu tập sám hối tỉnh ngộ,
nhân tốt, quả lành, nghiệp nhẹ,
giúp chúng sinh đang ở Địa ngục
được lên lớp cao hơn...không bị
kẹt mãi ở một quốc độ...hoạt lực
chuyển hóa chính là NGHIỆP, như
một lực phổ quát- universal
energy-chi phối nhất thống
trường. Điều quan trọng là
Nghiệp lực không là lực riêng rẽ
ở ngoài chúng sinh, ở ngoài pháp
tướng, nó chính là chủng tử nằm
cùng, tương tức tương tác với
chúng sinh mọi quốc độ, nó là
ngọn lửa nhỏ, Biệt nghiệp, cộng
với ngọn đuốc lớn, Cộng nghiệp,
tất cả, B+C= Bụt trường, tức bản
thể " thị chư pháp không tướng,
bất sinh bất diệt, bất cấu bất
tịnh, bất tăng bất giảm", đấy là
nhất thống trường, nghiệp trường
hiểu như dụng của Bụt trường bất
tăng bất giảm, tăng hay giảm, dơ
hay sạch...chỉ là ý niệm của
nhân thế. Cho nên Bụt trường P =
(B+C) nghiệp x K (kiếp) có thể
là diệu pháp thức cho pháp giới
vậy.
Einstein và các nhà vật lý học
còn kẹt vào tướng, nên không thể
thấy nhất thống trường vốn là
không tướng bất tăng bất giảm, "
nơi nào có tướng nơi đó còn có
sự lường gạt " (kinh Kim Cương),
tướng là hình sắc hóa hiện như
đom đóm mắt, dùng ngũ giác, dùng
ý niệm để nắm bắt thì chỉ nắm
bắt được cái bóng, như đứa trẻ
thơ ngỡ cái bóng trên tường là
bố nó trong nhà đêm khuya ánh
đèn dầu hắt lên, như người tù
trong ẩn dụ hang tối của Platon
(allégorie de la caverne) chưa
ra ánh sáng, chỉ nhìn thấy ảo
ảnh... vật lý gia dựa vào sắc mà
phát kiến, dựa vào thanh, hương,
vị, xúc, vào pháp mà phát ý,
trong khi tâm phải vô sở trụ,
không kẹt vào khái niệm, không
vướng vào khung cũi, mới "nhi
sinh kỳ tâm", mới quán chiếu
được, mới đạt tuệ giác sáng tạo,
mới nhập vũ trụ thống nhất
trường.
THỦY THIỀN DO THÁI
Einstein và nhiều vật lý gia
nguyên tử Do thái, xẻ được hạt
nhân, nối được hạt nhân, làm nảy
ra lực kinh động không gian, ra
bom A, bom H, có lẽ từ khoa
huyền bí học Kabbalah chăng? cổ
phái Do thái này cũng hình dung
vũ trụ như một cái cây, một cái
cột, nhất trụ dựng từ đất lên
Trời (one pillar extends from
earth to heaven), thiện nhân thế
gian giữ cột vững, dù chỉ một
người...Tạo hóa xẻ một phần ánh
sáng cho nhân thế, giữ lại 6
phần kia, chỉ có người quán
chiếu diệu quang diệu hương ấy,
mới đạt đạo ( Light is sown for
the righteous, then the worlds
will be fragrant, and all will
be one. But until the world that
is coming arrives, it is stored
and hidden away.), nhất thể Ein
Sof hiểu như là Thượng đế thăng
hoa- transcendence of God, là
nhất thống, unified oneness,
each of us emerges from Ein Sof
and is included in it...tạo ra
vũ trụ, muôn vàn sắc thái, từ
luồng sáng vi diệu kia tung tué
khắp nơi như thể từ những cái lu
vỡ bể ra (sparks of holiness are
scattered throughout the cosmos,
as a result of the primordial
catastrophe of the breaking of
the vessels), xem ra, chẳng khác
big bang nổ tung phát khởi đa vũ
trụ, mà tinh thần Hoa nghiêm, óc
Đông phương, được mang vào bí
pháp kinh truyền Kabbalah qua
đạo sư thi bá Rumi, tông Sufi
Hồi giáo quay lộn luân tinh chầu
nhật, trong những vần diệu âm :
Trong mỗi thiên hà, ta thấy một
hạt nhân
trong mỗi hạt nhân, lại ẩn một
thiên thần
dans chaque sphère céleste, je
vois une prunelle
dans chaque prunelle je vois un
ange
Chốn ta vô trụ không tên
đất trời là một, nhị biên ta từ
my place is the placeless, my
trace is traceless
I have put duality away, I have
seen that the two are one (1)
Những câu thơ trên của thi hào
Rumi chẳng khác nghĩa vi tế
tương dung trong Ngộ Đạo Ca của
Thiền sư Khánh Hỷ đời Lý:
càn khôn tận thị mao đầu thượng,
nhật nguyệt bao hàm giới tử
trung
tạm dịch :
càn khôn treo tận đầu lông
trời trăng chứa hạt cải mòng
cũng nên
Tông Sufi bắt nguồn ở miền
Afghanistan mang dấu ấn Phật
pháp, có lần tràng hạt, có du sĩ...và
lạ thay lại đi vào khuynh hướng
kỳ bí Kabbalah của Do thái, nếu
Phật pháp trong kinh Vô lượng
thọ có quán tưởng nước (thủy
quán) và quán ao nước (bảo trì
quán), thì Kabbalah cũng có phép
thủy thiền- ngắm nước mà quán
chiếu (Gazing at water
developped into a kabbalistic
technique of meditation), một
phương pháp tập trung tư tưởng,
thiền nước, mà Nostradamus, một
truyền nhân Do thái tiên tri, đã
dùng để viết ra Sấm ký, thế kỷ
XVI : Nostradamus thường ngồi
trước thau nước, im lặng hàng
giờ, quán chiếu thế sự thăng
trầm hung cát mà viết ra sấm .
Nhà Phật cũng nói tới nguyên tử,
cũng nói tới vật thể nhỏ nhất,
nhỏ tới mức gần như hư không-lân
không- trong duy thức học, thế
thì ngay trong cảnh giới hữu vi
sang vô vi cũng chẳng có biên
giới rõ ràng chi phối bởi " vật
lý", từ vật chất bốc lên thành
photon, boson, quang tử có còn
là "vật" nữa đâu...chẳng có công
thức hữu vi nào đuổi bắt được tề
thiên, chẳng có luật tắc hữu
hình nào gói được những cơn gió
đáy vũ trụ biến ra 32 biến như
Quan Âm, cho rằng đầu óc người
cũng là một phần đầu óc tạo hóa
đi chăng nữa, thì cũng phải nhận
rằng ta là ngọn đèn dầu lạc, le
lói 1/7 ánh sáng của Bụt trường
mà thôi ! nhà Phật không nói tới
một Thượng đế sáng tạo ra vũ trụ,
mà nói tới vô lượng Bụt trong vũ
trụ, hàm chứa trong vạn vật,
pantheistic hơn là monotheistic
(Buddhist Cosmo. tr.127), điều
này A. Eisntein cũng nói thoáng
qua về vô hạn trong hữu hạn :
the infinitely superior spirit
that reveals itself in the
little that we, with our weak
and transitory understanding,
can comprehend of reality.
*
Những dòng lạm bàn trên chỉ là
sự mò mẫm trong biển học. Đạo
giáo không nhất thiết dựa vào
khoa học vật lý hiện đại để củng
cố đạo, làm như thế chẳng khác
gì mang phân tích ánh sáng đom
đóm để chứng minh ánh sáng mặt
trời. Nhưng mò mẫm dẫn khởi lòng
tin trong sáng: không có gì ra
khỏi bàn tay Hoa nghiêm Bồ tát,
dù vi tử hay tinh đẩu, dù vật lý
hay tâm lý, dù vô thức hay siêu
thức, dù sống hay chết, dù hữu
thần hay vô thần...đấy chính là
diệu pháp rốt ráo vậy.
***
Tham Khảo chính :
Buddhist Cosmology- Akira
Sadakata- Kòsei, Tokyo- 1997
Nhập Pháp Giới- Nghiêm Xuân Hồng-
Xuân Thu- 1996
Khái luận Triết lý Kinh Hoa
nghiêm - Đức Nhuận- Viện Triết
lý VN & Triết học Thế giới-
2000.
Our Oriental Heritage- The Story
of Civilization- Will Durant -
MJF Books 1935
Einstein and Buddha-The Parallel
Sayings by Thomas J. McFarlane-Seaston
2002
The Dancing Wu Li Master-An
overview of the New Physics by
Gary Zukav- Bantam 1979.
The Essential Kabbalah- Daniel
C. Matt -Castle Books 1995
Le moine et le philosophe- Le
bouddhisme aujourd’hui par J.F.
Revel et M. Ricard- Nil ed.1997
* Các sách và Websites về
Stephen Hawking : Brief History
of Time, The Big Bang, Origin of
the Universe ...
* Các websites về Relativity và
Unified theory của A.Einstein
như của Leiwen Wu, Encarta
Encyclopedia...
(1)Xem Hoa Cát Nóng, dẫn nhập Cổ
thi Ả Rập của cùng tác giả, xb
2-2003. Các bản dịch kinh Hoa
Nghiêm do các nhà sư từ Ấn và từ
xứ A Phú Hãn (như Prajna xứ
Kaboul đời Đường) dịch sang Hán
văn. A Phú Hãn có nhiều cổ tích
Phật (như tượng Phật bị rợ
Taliban phá) và là phần đất Ba
Tư cổ xưa, cho nên rất có thể
các thi nhân Ả Rập, Ba Tư, như
Rumi, Hafiz... đã chịu ảnh hưởng
Phật giáo.
* Để trình bày, chúng tôi tạm
đặt ra một số từ ngữ như :
Bụt trường (Buddha field)
Hoạt lực nghiệp chuyển hóa trong
các quốc độ (karma as the
universal energy for
transformation in Buddha field
levels)
Tâm Vũ Quán (cosmopsychoawakening)
Diệu pháp thức (B+C) x K, lấy
tuệ pháp Phật tri kiến thay cho
các tri kiến vật lý như E=MC 2-
Tùy nghi ngôn ngữ phương tiện.
|