| |
Mỗi
năm hoa Vô Ưu lại nở một lần, những người
con Phật sống dưới bất cứ phương trời nào,
dù ngôn ngữ bất đồng, nhưng muôn triệu con
tim cùng hòa chung một nhịp đập, hân hoan kỷ
niệm ngày Ðản sinh của đức Từ Phụ. Hình ảnh
của đức Thế Tôn là một bài ca bất tuyệt,
giáo pháp của Ngài là ánh hải đăng chiếu
sáng nghìn thu. Những pháp âm tại vườn Lộc
Uyển, núi Linh Thứu thuở nào dường như còn
vang vọng đâu đây. Pháp âm ấy tỏa khắp muôn
phương, thấm sâu vào tâm hồn của những chúng
sinh đang khát khao hạnh phúc và chân lý.
Ðức Phật đã xuất hiện trên thế gian này nhằm
mục đích đem lại hạnh phúc an lạc cho muôn
loại sinh linh, nhưng trước hết là cho nhân
loại. Ngài đã từ bỏ quốc thành, thê tử, xuất
gia tìm đạo là vì nỗi khổ sinh, già, bệnh,
chết của loài người, và những vô minh điên
đảo của nhân thế. Mà một trong những mê chấp
sai lầm gây ra biết bao thống khổ đối với
dân tộc Ấn Ðộ lúc bấy giờ chính là chủ
trương phân chia giai cấp một cách phi lý
của chủng tộc Bà-la-môn. Do đó, sau khi
thành đạo, đức Phật đã thuyết pháp chỉ rõ
tính chất bình đẳng giữa các giai cấp. Những
người Bà-la-môn chủ trương chỉ có Bà-la-môn
là chủng tộc tối thượng, các chủng tộc khác
là thấp hèn; chỉ có Bà-la-môn là giống da
trắng, các chủng tộc khác là giống da đen;
chỉ có Bà-la-môn là thanh tịnh, các chủng
tộc khác là ô uế. Các Bà-la-môn là con chính
thống của Phạm thiên, sinh ra từ miệng Phạm
thiên, là người thừa tự đích thực của Phạm
thiên. Ðức Phật đã dùng nhiều ví dụ chứng
minh, bác bỏ chủ trương ấy. Ngài nói: « Nếu
người Bà-la-môn làm những việc phi pháp như
ăn trộm hoặc giết người thì kẻ đó được gọi
là tên trộm cướp, quân sát nhân, và danh
xưng Bà-la-môn trước kia của y nay đã biến
mất. Trái lại, nếu một người Thủ-đà học
rộng, có phẩm chất đạo đức thì thiên hạ sẽ
gọi người đó là vị học giả, nhà đạo đức, và
danh xưng Thủ-đà trước kia của anh ta nay
không còn nữa ».
Ðức Phật không những chủ trương xóa bỏ giai
cấp mà Ngài cũng không chấp nhận chiến
tranh. Ngài không cho rằng dùng chiến tranh
có thể giải quyết được những mối tranh chấp.
Ngài nói: « Kẻ chiến thắng nuôi hận thù, kẻ
bại trận nhận lấy đau khổ ». Thế nên: « Dùng
hận thù thì không thể dập tắt được hận thù,
chỉ có dùng tình thương mới dập tắt được hận
thù ». Bởi vì, bạo động sẽ tạo ra bạo đông,
đó là quy luật nhân quả tất yếu. Ðể cảnh
tỉnh thái độ tự phụ, tự đắc của một vị tướng
lĩnh vừa thắng trận trở về, đức Phật nói: «
Một người có thể cướp đoạt của cải của người
khác.., nhưng khi bị cướp, người kia sẽ tìm
cách đoạt lại những gì mình đã mất, và cứ
như thế, cướp bóc, chiếm đoạt sẽ tái đi tái
lai không bao giờ chấm dứt. Ngày nào quả xấu
chưa đủ nhân duyên chín muồi thì kẻ ngông
cuồng sẽ nghĩ rằng: « Ðây là một dịp may,
thời cơ đã đến với ta. » Nhưng đến khi ác
quả đã chín thì kẻ ấy sẽ chịu khổ đau: Người
sát nhân sẽ bị trừng phạt, kẻ vô lễ sẽ bị
nhục mạ, người thích làm phiền sẽ bị phiền
nhiễu, kẻ cướp sẽ bị cướp đoạt, đúng theo
quy luật nhân quả trả vay ».
Ðối với luật pháp, đức Phật chủ trương rất
rõ ràng, Ngài không tán thành dùng hình phạt
để diệt trừ trộm cướp. Vì bọn cướp này bị
trừng trị thì bọn cướp khác lại nổi lên.
Muốn cải tạo xã hội, làm cho dân chúng no ấm
thì phải thay đổi chính sách kinh tế, tạo
công ăn việc làm cho mọi người, xóa bỏ nạn
thất nghiệp, giữ gìn an ninh trật tự xã hội.
Ðức Phật đã khuyên vua nước Ma-kiệt-đà áp
dụng những chính sách rất thực tế: « Này Ðại
vương, những người nào trong quốc độ của Ðại
vương mà chuyên tâm về canh nông và mục súc,
Ðại vương hãy cung cấp hạt giống và súc vật
để họ canh tác và chăn nuôi. Những người nào
chuyên tâm về thương nghiệp, Ðại vương hãy
cấp vốn để họ đầu tư. Những người nào chuyên
tâm về hành chánh, Ðại vương hãy cấp lương
bổng cho họ đầy đủ. Nhờ vậy, những người ấy
sẽ chuyên tâm vào công việc của mình, và do
đó, họ không làm rối loạn quốc độ của Ðại
vương. Bấy giờ, quân sĩ của Ðại vương sẽ
hùng mạnh, xã hội sẽ ổn định, dân chúng sẽ
hoan ca hạnh phúc trong một đất nước thanh
bình và thịnh vương »
Có những Du sĩ ngoại đạo thích tranh luận,
dùng ba tấc lưỡi trườn uốn như con lươn, bàn
về những vấn đề siêu hình viễn vong, họ đến
chất vấn đức Phật: « Thế giới là thường hay
vô thường? Hữu biên hay vô biên? »… Ðức Phật
đáp: « Ta không trả lời những câu hỏi ấy. Vì
chúng không có những giải đáp dứt khoát,
không nhắm đến mục đích giải thoát, không
liên hệ đến chánh pháp, không phải là căn
bản cho đời sống phạm hạnh, không đưa đến
xuất ly…, đạt đến thắng trí, giác ngộ. Trái
lại, chúng chỉ tạo ra hý luận, đưa đến tranh
chấp vô ích, gây nên phiền toái và ưu sầu. »
[Trung Bộ Kinh II, tr.486] . Và sau đây là
những gì đức Phật trả lời: « Dù thế giới này
là thường hay vô thường, hữu biên hay vô
biên v.v.thì cuộc đời này vẫn có sinh, già,
bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; mà pháp
Ta thuyết giảng là nhằm mục đích chấm dứt
khổ đau, giải thoát sanh tử, đạt đến an vui
vĩnh viễn. »
Tìm hiểu những vấn đề không thực tế, chú tâm
vào những biện thuyết suông không đi đến đâu
cả. Vì kẻ này chủ trương vấn đề này thì
người kia đề xuất vấn đề khác chống lại, rốt
cuộc, không ai chịu ai, chỉ đưa đến phân
hóa, xung đột và tiêu diệt lẫn nhau. Do đó,
đức Phật nói với các đệ tử: « Này các
Tỷ-kheo, những Bà-la-môn, Phạm chí này thuộc
về những đạo giáo khác, họ có những quan
điểm khác, chủ trương khác, niềm tin khác.
Họ không biết đâu là mục đích , đâu là phi
mục đích, những gì là chánh pháp và những gì
là phi pháp; vì vậy, họ luôn luôn tranh cãi
lẫn nhau. »
Mục đích trên hết mà người Phật tử chân
chính theo đuổi là diệt trừ khổ não, tháo gỡ
mọi xiềng xích trói buộc do tham ái si mê
tạo nên, trước cho bản thân, và sau cho
người khác. Công việc này phải thực hành
ngay trong hiện tại, phù hợp với trình độ và
khả năng của mỗi người - Từ trong cảnh vô
thường con người có thể tạo ra Niết-bàn
thường tại.
Ðức Phật ví mình như đóa hoa sen mọc ra từ
trong nước nhưng không dính nước. Ngài nói:
« Này các Tỷ-kheo, Ta không tranh chấp với
thế gian, chỉ có thế gian tranh chấp với Ta.
Không có người nào theo chánh pháp mà lại
tranh chấp với thế gian… Nhưng này các
Tỷ-kheo, có những chân lý ở ngay trong thế
gian đã được Như Lai thể nghiệm và chứng
đạt. Sau khi chứng đạt, Như Lai công bố,
giảng dạy, khai triển, phân tích làm cho
sáng tỏ…Này các Tỷ-kheo, cũng như bông sen
xanh, đỏ hay trắng, sanh ra trong nước, lớn
lên trong nuớc, nhưng vượt lên khỏi nước và
không bị nước dính ướt. Như Lai cũng sinh ra
trong thế gian, trưởng thành trong thế gian
mà không bị thế gian làm cho ô nhiễm. »
[Tương Ưng Bộ Kinh III, tr. 138-140; Tăng
Chi Bộ Kinh II, tr. 33-39]
Ðạo Phật tùy duyên nhưng bất biến, bất biến
mà vẫn tùy duyên. Phật giáo bao giờ cũng xem
con người là đối tượng cần được giáo hóa.
Nhờ tuệ giác đã chứng được, đức Phật thấy rõ
mọi nỗi khổ đau của con người cũng như các
nguyên nhân đưa đến tranh chấp đều do tham,
sân, chấp ngã mà ra. Vì vô minh che khuất,
con người đã xem thân năm uẩn gồm Sắc, Thọ,
Tưởng, Hành, Thức như là tự ngã kiên cố. Ðức
Phật dùng phương pháp phân tích vấn đáp dể
phá ngã chấp cho đệ tử. Ngài dạy: « Này các
Tỷ-kheo, bất cứ Sắc pháp nào, quá khứ, hiện
tại hay vị lai, trong hay ngoài, lớn hay
nhỏ, cao hay thấp, gần hay xa cần phải dùng
trí tuệ như thật quán sát: Cái này không
phải của ta, cái này không phải là ta, cái
này không phải tự ngã của ta. Ðối với Thọ,
Tưởng, Hành, Thức cũng làm như vậy. Khi chân
chính quán sát như thế, các ngươi sẽ nhàm
chán đối với Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Do
nhàm chán nên không tham ái; do không tham
ái nên được giải thoát. Trong khi giải
thoát, người ấy thấy rõ: Ta đã giải thoát.
Sinh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì
cần làm đã làm xong, hết đời này không còn
có đời sống nào khác nữa. Người này được gọi
là người đã dẹp bỏ các chướng ngại; đã lấp
đầy các thông hào; đã nhổ lên cột trụ; đã
tháo tung các xiềng xích; là bậc Thánh đã hạ
cây cờ xuống, đặt gánh nặng xuống đất, không
còn gì triền phược nữa. »
Rồi đức Phật cho ví dụ: Người nào đã đoạn
trừ vô minh, cắt tận gốc rễ như cây ta-la bị
chặt đứt ngọn không còn khả năng nảy mầm
trong tương lai, là người đã dẹp bỏ các
chướng ngại. Người nào đã đoạn trừ sự sinh
tử luân hồi, là người đã lấp đầy các thông
hào. Người nào đã đoạn tận khát ái, là người
đã nhổ lên cột trụ. Người nào đã diệt sạch
năm hạ phần kiết sử, là người đã tháo tung
các xiềng xích. Người nào đã đoạn trừ ngã
mạn, là người đã hạ cây cờ xuống, đặt gánh
nặng xuống đất, là bậc Thánh không còn gì
triền phược nữa. » [Trung Bộ Kinh I, Kinh Xà
Dụ, tr.130-142]
Ngã chấp vốn là căn bệnh thâm căn cố đế của
các giáo phái ngoại đạo lúc bấy giờ, thế mà
đức Phật lại nhắm vào yếu huyệt ấy phá trừ
một cách triệt để. Cũng vì vậy mà một số
Sa-môn, Bà-la-môn đã xuyên tạc Ngài một cách
bất chính, họ nói: « Sa-môn Gotama chủ
trương chủ nghĩa hư vô, đề cao đoạn diệt,
chủ trương tiêu diệt các loài hữu tình. » Ðể
trả lời cho những hạng người này, đức Phật
nói với các đệ tử: « Này các Tỷ-kheo, Ta chỉ
nói lên sự khổ và phương pháp diệt khổ, do
vậy, nếu có người hủy báng, nhục mạ làm cho
Như Lai tức giận, thì Như Lai không tức
giận, không bất mãn. Trái lại, nếu có người
cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Như
Lai, thì Như Lai không hoan hỷ, hãnh diện
hay thích thú. Vì Như Lai nghĩ rằng: Ðây là
điều xưa kia đã từng có, và đó là trách
nhiệm mà Ta phải thực hiện. » [Trung Bộ Kinh
I, KinhXà Dụ, tr. 140-141]
Ðức Phật là nhà giáo dục, những lới Ngài dạy
không dành riêng cho một hạng người nào mà
nhằm đến tất cả mọi người. Những ai nỗ lực
thực hành theo những lời Ngài dạy chắc chắn
sẽ thâu thái được những kết quả tốt đẹp. Tuy
nhiên, biết chọn lựa và thực hành theo những
việc tốt không phải là chuyện dễ, nên Ngài
bảo rằng trên đời này có 20 việc khó:
1/ Nghèo hèn mà phát tâm bố thí là khó;
2/ Giàu sang mà học đạo là khó;
3/ Liều thân chết cho lẽ phải là khó;
4/ Thấy được kinh Phật là khó;
5/ Sinh nhằm đời có Phật là khó;
6/ Nhịn sắc, nhịn dục là khó;
7/ Thấy tốt không tham là khó;
8/ Bị nhục không tức giận là khó;
9/ Có quyền thế mà không hách dịch là khó;
10/ Gặp việc trái ý mà tâm tự tại là khó;
11/ Học rộng, nghiên cứu nhiều là khó;
12/ Trừ được ngã mạn là khó;
13/ Không khinh người ít học là khó;
14/ Thực hành tâm bình đẳng là khó;
15/ Chẳng nói sự phải trái là khó;
16/ Gặp được thiện tri thức là khó;
17/ Học đạo thấy được tâm tính là khó;
18/ Tùy duyên hóa độ người là khó;
19/ Thấy cảnh không động tâm là khó;
20/ Khéo biết phương tiện là khó.
[Kinh Tứ Thập Nhị Chương, bài 12]
Ðức Phật lưu tâm đến mọi hạng người trong xã
hội, Ngài ban cho họ những lời dạy thiết
thực, mong họ sống hòa thuận, an ổn và hạnh
phúc. Trước giờ phút Niết-bàn, bậc Ðạo Sư đã
dạy chúng Tăng 7 pháp bất thối:
1/ Phải giản dị ít việc, không rườm rà đa
sự;
2/ Cần yên lặng, không nên nói nhiều;
3/ Bớt ngủ nghỉ, không mê muội;
4/ Không kết phe đảng, nói việc vô ích;
5/ Không được khoe khoang, cần phải khiêm
tốn;
6/ Không làm bạn với những kẻ xấu;
7/ Nên ở những nơi nhàn tịnh để chiêm nghiệm
đạo lý.
[ Kinh Ðại Bát Niết-bàn, bản Nam Truyền]
Nguồn gốc của mọi tệ trạng xã hội, những tấn
thảm kịch, các cuộc tranh chấp bất tận đã
diễn ra từ ngàn xưa và có lẽ còn diễn tiến
mãi đến ngàn sau đều phát xuất từ vô minh
chấp ngã của con người. Thế nên, muốn cải
tạo xã hội, cải tạo cuộc đời mà không cải
tạo chính bản thân con người là một việc làm
có tính cách ảo tưởng. Ðức Phật đã nhìn thấu
triệt vấn đề, nên những lời giảng dạy của
Ngài dù đứng về phương diện nào cũng lấy
việc hoàn thiện con nười làm trung tâm điểm.
Mà muốn hoàn thiện con người hữu hiệu thì
phải có phương pháp khéo léo dẫn dắt từ dễ
đến khó. Ngài ví dụ người điều phục tâm mình
cũng như viên quản tượng huấn luyện con voi
từ rừng hoang mới đem về. Trước hết, người
ấy đem cỏ và nước đến cho voi, nói những lời
ngọt ngào, êm tai khiến cho voi nhận những
thứ ấy. Rồi ông bảo voi làm thêm một động
tác khác. Khi voi đã ngoan ngoãn vâng lời,
viên quản tượng lại khuyến khích nó làm
những động tác khó hơn. Ông cột cái khiên
bằng gỗ vào vòi voi, một người cầm gậy ngồi
trên lưng, những người khác cầm gươm giáo
đứng xung quanh, viên quản tượng cầm ngọn
giáo dài đứng trước mặt điều khiển voi thực
hành động tác bất động: không cử động chân
trước, chân sau, không cử động đầu, đuôi,
ngà, vòi và đôi tai. Khi con voi chúa này đã
chịu đựng được gươm giáo, cung tên; chịu
đựng được tiếng chiên trống thúc trận, bấy
giờ nó xứng đáng là một chiến tượng dũng cảm
để sử dụng trong khi lâm trận. » [Trung Bộ
Kinh III, tr. 296]
Một ngày kia, đức Phật hóa độ người đệ tử
xuất sắc nhất của Ni-kiền Tử tên Upàli. Sau
khi được cảm hóa, Upàli từ bỏ con đường sai
lầm, trở về với chánh pháp, ông quyết định
đoạn tuyệt giáo phái Ni-kiền Tử. Nhưng dức
Thế Tôn khuyên ông hãy tiếp tục ủng hộ
Ni-kiền Tử như trước. Cảm động trước cử chỉ
cao thượng,vô tư, đầy lòng nhân từ của đức
Phật, Upàli đọc kệ tán thán:
« (Thế Tôn thực là)
Bậc trí sáng suốt,
Ðoạn trừ si ám,
Chiến thắng địch quân.
Ðau khổ đoạn tuyệt,
Nội tâm tịch tĩnh,
Giới đức trang nghiêm,
Trí tuệ viên mãn,
Phiền não gột sạch,
Xa trần ly cấu.
… Siêu đẳng giải thoát,
Tham ái đoạn tận,
Ðiều ngự nhiếp phục,
Hý luận dứt sạch.
Con thực chính là,
Ðệ tử Thế Tôn »
[Trung Bộ Kinh II, kinh Ưu-ba-ly, tr.
385b-386a]
Qua những lời tán thán được thốt ra từ đáy
lòng của Upàli, một đệ tử của phái khổ hạnh
mới hướng về chánh pháp, chắc chắn đức Thế
Tôn phải có thân tướng oai nghiêm, lòng từ
cao cả như thế nào đó mới đủ sức cảm hóa ông
ta nhanh chóng như vậy.
Thế nhưng, không phải chỉ có những nhân sĩ
chân thành cầu đạo như Upàli mới ca ngợi đức
Phật mà ngay cả các vị Giáo trưởng của các
đạo giáo khác cũng ngợi ca Ngài bằng những
lời lẽ hết sức chân thành như lời phát biểu
của Bà-la-môn Sonadanda sau đây: « Thực vậy,
này các hiền giả, Sa-môn Gotama đã từ bỏ đại
gia đình quyến thuộc, xuất gia trong lúc
tuổi thanh xuân. Sa-môn Gotama có 32 tướng
của bậc Ðại nhân, màu da thù thắng, dáng
điệu tao nhã, cử chỉ khả ái làm vui lòng mọi
người. Sa-môn Gotama có đức hạnh thanh
khiết, giữ giới của bậc Thánh, là bậc Tôn sư
của các hàng Tôn sư, đã diệt sạch tham dục,
nội tâm tịch tĩnh, hàng nghìn thiên nhân đã
đến quy y với Ngài. »
[Trường Bộ Kinh II, kinh Sonadanda, tr.114]
Nhìn khái quát mấy nét đã minh họa, chúng ta
có thể xem đức Phật như là nhà cải cách xã
hội, vì Ngài đã cực lực phản đối chủ trương
phân chia giai cấp của Giáo sĩ Bà-la-môn, và
cho rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng.
Ðức Phật đề nghị phương thức giải quyết
những mối tranh chấp bằng giải pháp hòa
bình. Ngài cho biết các nhà cầm quyền muốn
nước giàu dân mạnh cần hiểu rõ những yêu cầu
thiết thực của dân chúng, và đáp ứng những
yêu cầu bức xúc của họ. Vì thế, những lời
dạy của đức Phật rất thực tế, ít bàn đến vấn
đề siêu hình và không có tính giáo điều. Ðức
Phật đã dành cả cuộc đời để giáo hóa chúng
sinh, những lời Ngài dạy vừa thâm trầm, vừa
tha thiết, đôi khi dịu dàng nhưng cũng có
lúc mãnh liệt, tác động sâu xa đến những kẻ
hữu duyên đối với Phật pháp. Do vậy, chúng
ta thấy đủ mọi hạng người tán thán Thế Tôn
bằng những lời lẽ hết sức chân thành. Về
phần chúng ta, để kỷ niệm ngày Ðản sinh của
đức Từ Phụ, chúng ta phải nỗ lực thực hành
những lời dạy đầy trí tuệ và bi mẫn của Ðấng
Giác Ngộ hầu đem lại hạnh phúc cho bản thân,
an vui cho mọi loài; thiết nghĩ, đó là cách
cúng dường ngày Phật Ðản một cách có ý nghĩa
nhất.
====
Xem :
LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT
































Nguyện
đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật Đạo
(Theo
PhatPhap.Wordpress.com)
|
|