Viên, Tào Khởi Ba Quân Mã Bộ
Quan, Trương Bắt Hai Tướng Vương, Lưu
Nhắc lại, Trần Ðăng hiến kế cho Huyền Ðức rằng:
- Tào Tháo chỉ sợ Viên Thiệu. Hiện Thiệu như
con hổ chiếm cứ bốn châu Tinh, U, Thanh, Ký.
Quân giáp sĩ có tới một trăm vạn, văn quan võ
tướng rất nhiều, thế lực rất mạnh. Sao Sứ quân
không sai người sang đó cầu cứu?
Huyền Ðức phân vân nói:
- Thuở nay ta không qua lại với người, phần ta
mới hại em người, có lý nào người lại chịu
giúp ta.
Trần Ðăng nói:
- Ỷ đây có một người thông gia với Viên Thiệu
đã ba đời rồi, nếu được bức thư của người ấy,
ắt Viên Thiệu không nỡ từ chối.
Huyền Ðức hỏi:
- Người nào thế?
Trần Ðăng đáp:
- Người này chính là người vẫn được Sứ quân
trọng đãi kính lễ hàng ngày đó.
Huyền Ðức chợt nhớ ra:
- Là Trịnh Khanh Thành tiên sinh phải không?
Trần Ðăng cười đáp:
- Chính phải.
Nguyên Trịnh Khanh Thành tức là Trịnh Huyền,
từ nhỏ có tài và hiếu học, từng thụ nghiệp Mã
Dung. Mỗi khi Mã Dung ngồi giảng bài thì buông
trướng đỏ. Phía ngoài học trò ngồi, phía trong
thì đoàn con hát hầu vui. Những cô hầu gái thì
đứng hai bên. Trịnh Huyền học với thầy suốt ba
năm mà luôn luôn nhìn thẳng, không bao giờ
nghiêng mắt liếc ngang một cái. Mã Dung lấy
làm lạ, lòng khen thầm. Khi thành tài, Huyền
xin nghỉ trở về. Mã Dung than rằng:
- Hết thẩy học trò của ta, chỉ có một mình
Trịnh Huyền lãnh hội được cái học bí truyền
của ta!
Trong nhà Trịnh Huyền, ai cũng biết chữ. Ðến
lũ đầy tớ gái cũng thông thuộc Kinh Thi. Một
hôm có con hầu ăn nói thất thố làm trái ý
Huyền, Huyền bắt quỳ dưới thềm rất lâu. Một
con khác đi qua trông thấy, hỏi đùa bớn rằng:
- Vì sao mà sa vào chỗ bùn lầy như vậy? (1)
Con hầu bị phạt đám ngay:
- Chợt khi lỡ lời, gặp phải lúc ông ấy đang
giận. (2)
Ấy, đại để nếp nhà phong nhã như thế. Ðời Hoàn
Ðế, Huyền làm quan đến chức Thượng Thư. Sau
gặp loạn Thập Thường Thị, Huyền bỏ quan, về
làm ruộng ở Từ Châu.
Khi Huyền Ðức còn ở Trác quận, đã có học với
Trịnh Huyền, đến khi làm quan Mục Từ châu vẫn
thường đến nhà thỉnh giáo và kính lễ rất hậu.
Bấy giờ Huyền Ðức nhớ ra, mừng lắm, bèn hiệp
với Trần Ðăng đến nhà Trịnh Huyền nhờ viết thư.
Trịnh Huyền khẳng khái nhận lời, viết một
phong thư giao cho Huyền Ðức. Huyền Ðức liền
sai Tôn Càn đi suốt đêm đem qua Hà Bắc.
Viên Thiệu xem thư xong, nghĩ thầm:
- Huyền Ðức đã hại em ta, lẽ nào ta lại giúp
hắn, ngặt vì có thư của Trịnh Thượng thư, nếu
không đi thì không được.
Viên Thiệu liền triệu tập hết các quan văn võ
để bàn việc hưng binh đánh Tào Tháo.
Mưu sĩ Ðiền Phong can rằng:
- Binh chinh chiến luôn mấy năm, bá tánh đều
khổ cực, kho đụn thiếu hụt rồi. Nay không thể
khởi đại binh được nữa. Chỉ nên trước sai
người về Kinh dâng tin thắng trận lên Thiên Tử.
Nếu không báo tiệp được thì hãy dâng biểu kể
tội Tào Tháo ngăn đường không cho ta phò Vua.
Rồi sau này đem binh ra đóng Lê Dương, tăng
thêm chiến thuyền dàn ở Hà Nội, sửa sang khí
giới, chia quân tinh nhuệ đi đóng chẹn các chỗ
biên giới. Như thế, trong vòng ba năm, việc
lớn ắt thành.
Mưu sĩ Thẩm Phối nói:
- Không được! Với tài thần võ của Minh công,
lại thêm đất Hà Bắc cường thịnh này thì hưng
binh đánh giặc Tào dễ như trở bàn tay. Việc gì
phải chờ đợi dềnh dang ngày này qua tháng khác?
Mưu sĩ Thư Thụ lại nói:
- Cái sách lược chế thắng không phải ở sự
cường thịnh. Vả lại Tào Tháo giỏi thi hành
pháp lệnh, quân sĩ tinh luyện, không như hạng
Công Tôn Toản ngồi một xó chịu khốn. Nay nếu
bỏ cái kế hay "báo tiệp tâu công" mà đi khởi
quân vô danh nghĩa, thiết nghĩ Minh công không
nên làm.
Nhưng mưu sĩ Quách Ðồ nói:
- Nói thế là sai! Ðem binh đánh Tào Tháo, sao
gọi là vô danh? Lúc này, Minh công nên kịp
thời mưu đại nghiệp. Xin thể theo lời Trịnh
Thượng thư, hợp cùng Lưu Bị, nêu cao đại nghĩa,
tiêu diệt giặc Tào, trên hợp ý trời, dưới hợp
lòng dân. Thực là cơ hội rất tốt.
Thế là bốn mưu sĩ tranh luận giằng co, Viên
Thiệu trù trừ chưa biết quyết định ra sao?
Bỗng lại có hai mưu sĩ Hứa Du, Tuân Thầm từ
bên ngoài bước vào. Thiệu nói:
- Hai người này có nhiều kiến thức đây. Thử
hỏi xem chủ trương thế nào?
Hai người vào thi lễ xong, Thiệu hỏi:
- Có Trịnh Thượng thư gửi thư đến đây, bảo ta
giúp Lưu Bị đánh Tào Tháo. Vậy nên khởi binh
hay không khởi binh?
Hai người đồng thanh thưa:
- Minh công lấy nhiều phục ít, lấy mạnh đánh
yếu, đánh giặc nhà Hán để phò nhà Hán. Nên
khởi binh lắm!
Viên Thiệu cười nói:
- Lời hai ngươi nói rất hợp ý ta!
Liền viết một phong thư phúc đáp, sai Tôn Càn
trở về trao cho Huyền Ðức, hẹn chuẩn bị sẵn
sàng tiếp ứng.
Sau đó, Viên Thiệu sai Thẩm Phối và Phùng Kỷ
làm Thống quân; Ðiền Phong, Tuân Thầm, Hứa Du
làm mưu sĩ, còn Nhan Lương và Văn Xú làm Tướng
quân, khởi mười lăm vạn mã quân, mười lăm vạn
bộ quân, cộng hết là ba mươi vạn tinh binh,
nhằm hướng Lê Dương tiến phát.
Thiệu phân phát xong rồi, Quách Ðồ tiến lên
nói:
- Nay Minh công lấy đại nghĩa mà đánh Tào Tháo.
Vậy phải làm hịch loan truyền trong nhân dân,
hài tội của Tháo, làm cho rõ cái lẽ khiến ta
khởi binh, để cho danh chánh ngôn thuận thì
mới có thêm uy lực.
Thiệu nghe lời, sai viên thư ký Trần Lâm thảo
tờ hịch.
Nguyên Trần Lâm tự Khổng Chương, tài văn nổi
tiếng. Thời Hoàn Ðế đã làm quan Chủ Bạ, vì can
ngăn Hà Tiến không được, rồi gặp loạn Ðổng
Trác, chạy loạn lên Ký Châu, được Viên Thiệu
dùng làm Ký Thất. Bấy giờ Trần Lâm vâng lệnh
cầm bút thảo ngay một bài hịch.
Hịch văn như sau:
Thường nghe rằng: bậc minh chúa gặp nguy mà
chế biến, kẻ trung thần lo nạn nước mà tùng
quyền. Cho nên, có người phi thường rồi sau
mới có việc phi thường. Có việc phi thường rồi
mới có công lao phi thường. Người phi thường
ấy không phải ai cũng có thể bắt chước làm nổi.
Xưa kia, nhà Tần mạnh gặp lúc vua yếu, Triệu
Cao nắm hết quyền bính, chuyên chế việc triều
đình, tự mình tác oai tác phúc. Thiên hạ nhiều
người oán hận nhưng không ai dám nói gì. Thế
mà rồi hắn cũng chết thảm ở cung Vọng Di, tổ
tông mang tiếng ô nhục, để tiếng xấu lưu muôn
đời.
Cho đến cuối đời bà Lã hậu, hai tên Sản, Lộc
chuyên chính, bên trong giữ cả hai quân, bên
ngoài thống chế hai nước Lương, Triệu, lạm
quyền quốc sự, quyết việc nơi Cấm đình, dưới
lăng loàn, trên suy yếu, bốn bể ai cũng đau
lòng. Vì thế Dáng Hầu (3) với Chu Hư Hầu (4)
mới hưng binh phẫn nộ, tru di quân nghịch bạo,
tôn lập đức Thái Tông (5) làm hưng thịnh lại
Vương đạo, bốn cõi quang minh rực rỡ. Ðó là
cái gương lớn: Ðại thần tùng quyền vậy.
Ngày nay có viên Tư Không Tào Tháo làm càn.
Ông nó tên Ðằng, làm Trung Thường Thị, đã từng
thông với bọn Tả Quản, Từ Hoàng làm điều yêu
nghiệt, tham tàn càn rỡ, tổn thương phong hóa,
tàn ngược nhân dân.
Cha nói tên Tung, vốn con nhà ăn mày được dắt
về nuôi, nhờ có của tiền mua lấy chức vị, xe
vàng khiêng ngọc đút lót chỗ quyền môn, trộm
cắp đỉnh tư, làm nghiêng đổ đồ quốc bảo.
Ðến nó tên Tháo, con thằng tôi tớ, cháu tên
quan hoạn, nên chẳng có nết na gì, tai quái
luông tuồng, ham loạn lạc, vui trong tai vạ
của nước non.
Mạc phủ (6) đây, đổng thống quân ưng dương,
tảo trừ lũ hung nghịch. Gặp hồi Ðổng Trác cướp
quyền hại nước, đã vung gươm khua trống,
truyền lệnh ra Ðông Hạ, chiêu tập anh hùng,
không kể người xấu nết hèn, chỉ cốt dùng lấy
việc, nên mới để Tào Tháo được cùng mưu việc,
cho giữ một cánh quân, tưởng rằng chim ưng,
chó săn cũng có chút tài khả dụng.
Không ngờ Tháo là đứa ngu si dốt nát, tiến
liều lui bậy, làm tổn quân mã, mất cả nhuệ khí
ba quân. Mạc phủ lại phải rèn luyện lại quân
binh, sửa sang quân ngũ, rồi tâu xin cho nó
sang Ðông quận làm Thứ Sử Duyện châu. Thân dê
đội lốp cọp, nắm được quyền hành, những tưởng
rồi nó sẽ đem thân khuyển mã để báo được trận
thua khi trước như quân Tần báo thù Tấn.
Thế mà nó nhân được thể, dám làm trò lợn vượt
qua rào, hung hăng tàn bạo, chiếm cứ liên miên,
hại người hiền, giết người ngay. Quan cố Thái
Thú Cửu Giang Biên Nhượng là bậc anh tài tuấn
vĩ, thiên hạ đều biết tiếng, nhìn ngay nói
thẳng, không lời dua nịnh, mà cũng bị nó giết
hại, đầu bêu ngọn giáo, vợ con bị nạn diệt
vong. Từ đó khắp kẻ sĩ ai ai đều tức giận,
nhân dân chốn chốn càng xót xa căm hờn. Một
người vung cánh tay, trăm họ cùng hưởng ứng,
nên quân nó bị phá ở Từ Châu, đất nó mất về
tay Lữ Bố. Thân nó bơ vơ nơi cõi Ðông, không
biết nương tựa vào đâu?
Mạc phủ nghĩ đến nghĩa "cành mạnh nâng đỡ
nhánh mềm", vả cũng vốn không dung đảng giặc,
cho nên lại giương cờ, mặc giáp, gióng trống,
khua chiêng đem quân tới cứu nó và đánh quân
Lữ Bố tan vỡ, cứu cho nó khỏi cái nạn tử vong,
lại phục hồi cho nó cái địa vị phương bá. Thế
thì, Mạc phủ tuy không có công đức gì với trăm
họ Duyện Châu nhưng đã làm phúc lớn cho Tháo
lắm vậy.
Về sau, khi loan giá về Ðông Ðô, bị lũ giặc
theo cướp, bấy giờ Ký Châu đang có việc cảnh
cấp ở phía Bắc, Mạc phủ chưa thể rời ra được,
nên đã sai quan tùng sự Trung lang Từ Huân đến
truyền cho Tháo phải vào mà sửa sang chốn tôn
miếu, giúp đỡ ấu quân. Thế mà Tháo nó dám rông
rỡ làm càn, hiếp vua dời giá ra chỗ khác. Nó
khinh nhờn vương thất, làm bại hoại pháp chế,
rối loạn kỷ cương, ngồi khuynh loát cả Tam đài,
chuyên chế hết cả triều chính, muốn thưởng ai
mặc lòng, muốn giết ai cứ nói. Yêu ai thì làm
rạng tới ba đời, ghét ai thì giết cả ba họ. Ai
tụ tập luận bàn thì bị chém công khai. Ai bí
mật dị nghị thì bị giết thầm lén. Trăm quan
phải ngậm miệng, người đi đường chỉ đưa mắt
cho nhau, không ai dám nói tiếng nào. Chức
Thượng Thư chỉ còn biết ghi chép buổi triều
hội Công Khanh, ngồi đứng cho có vị. Như cố
Thái úy Dương Bưu, trải coi hai Ty, ở địa vị
nhất phẩm quốc gia, thì Tháo gườm mắt căm ghét,
vu oan tội tình, đánh đập thảm thương, tước
hết chức quyền, đuổi ra điền lý. Tháo đã tự ý
làm càn, không thèm coi hiến cương ra gì nữa.
Văn nghị lang Triệu Ngạn, lòng trung nói thẳng,
nghĩa ấy đáng khen, Thánh triều nghe hợp đạo,
long nhan vui tươi, gia thưởng tước lộc. Tháo
liền ganh tỵ, mê đoạt Thánh minh, chặn lắp
đường lối, không cho ai vào chầu Vua, rồi tự
tiện bắt Ðại thần, không tâu mà giết, Vua
chẳng biết gì.
Lại như Lương Hiếu Vương là anh em cùng mẹ với
Ðức Tiên Ðế, lăng tẩm tôn quý, dẫu đến cây dâu
cây tử, gốc bá cành tùng cũng đáng được kính
trọng thay, thế mà Tháo nó thân đem tướng sĩ
quân lính đến khai quan quật mộ, phơi thây
giữa trời, cướp lấy vàng bạc châu báu, đến nay
Thánh triều còn chưa ráo lệ, sĩ dân vẫn còn
đau lòng (7). Nó lại còn đặt ra chức Trung
lang tướng đào mả, chức Hiệu úy bại vàng, đi
đến đâu tàn hại đến đó, dẫu người chết nằm
dưới đáy mồ vẫn không tha, biết bao nhiêu hài
cốt bị bươi móc lồ lộ giữa trời.
Thân ở ngôi Tam công mà nó quen thói trộm cướp,
làm nhơ cả nước, làm nhục muôn dân, gây vạ độc
địa cho cả vong hồn người chết. Chính sự nó
thì tinh ranh thảm khắc, điều luật bầy ra trói
buộc khắp mặt, cạm bẫy chăng đầy đường khắp
lối, khiến ai nấy giơ tay đụng phải lưới, bước
chân mắc phải tròng. Cho nên dân vô tội hai xứ
Duyện, Dự đau khổ lầm than, tiếng rên la thấu
chốn Ðế Ðô rất là ai oán. Trải xem sử sách cổ
kim, những kẻ làm tôi tham tàn khốc liệt cũng
nhiều, nhưng không kẻ nào tai hại bằng tên
Tháo ngày nay nữa.
Mạc phủ đang bận hỏi tội đứa ngoại gian, chưa
kịp răn trách đến nó tức là còn nấn ná rộng
dung, tưởng nó sẽ sửa lầm, cải lỗi đi chăng?
Thế mà nó vẫn lòng lang dại sói, manh tâm gây
vạ, muốn đạp đổ rột rường, làm cho nhà Hán thế
cô sức yếu. Nó hãm hại người trung, chính là
nó muốn củng cố địa vị độc tài để được tự làm
ác như con cú độc vậy.
Trước đây, Mạc phủ gióng trống Bắc chinh, trừ
tên giặc dữ Công Tôn Toản, phải cầm vòng vây
một năm trời, Tháo nhân lúc quân giặc chưa
tan, dám ngầm mưu thông với giặc, đưa thư hẹn
họp, ngoài mặt giả cách giúp vua, trong lòng
rình toan đánh úp. May được kẻ đưa thư tiết lộ,
giặc Toản bị bêu đầu, và nọc độc của tên Tháo
phải rụt lại, chẳng mưu được điều bội nghĩa.
Ngỡ thế là yên, ngờ đâu nó lại dám đóng chẹn
Ngao thương, ngăn sông gây việc, toan đem đôi
càng con bọ ngựa để cản bánh Long xa!
Mạc phủ nay phụng oai linh nhà Hán đi dẹp bốn
phương. Quân có kích dài trăm vạn ngọn, ngựa
khỏe nghìn đàn, phấn khích tinh thần như tráng
sĩ, sức lực tựa Hoàng, Dục, Hoạch (8), vương
thế mạnh nỏ cứng, cung bền. Quân đội Tinh châu
vượt núi Thái hàng mà đi. Binh mã Thanh Châu
lội ngang sông Tế, Tháp mà tại (9). Ðại quân
băng qua sông Hoàng hà đánh mặt trước, quân
Kinh châu lại tiến vào đất Uyển, Diệp đánh mặt
sau. Thế mạnh như sấm ran cọp đuổi vào ổ giặc,
thì khác gì nổi lửa lớn mà đốt mớ cỏ khô, dốc
nước biển cả để tưới lò than nhỏ! Giặc Tháo
thế nào mà chẳng bị tiêu diệt?
Vả lại những quân sĩ của Tháo có thể đánh trận
được, đều là những người quê quán ở hai châu
U, Ký bị bắt buộc mà phải theo. Ai ai cũng có
bụng oán, muốn về quê hương, ứa nước mắt trông
về phương Bắc. Ngoài ra, những người Duyện, Dự
đều là những quân sĩ của Lữ Bố, Trương Dương
còn sót lại, vì bị ức hiếp, tạm thời đi theo,
cánh quân nọ thù ghét cánh quân kia, sẵn sàng
trở giáo. Nếu ta lên gò cao đánh trống, phất
cờ trắng để mở đường cho họ về hàng, tất họ sẽ
bỏ chỗ tối, tìm chỗ sáng. Chỉ một trận thì như
đất lở ngói tan, không cần phải đâm chém đổ
máu.
Hiện nay nhà Hán suy vi, cương duy lỏng lẻo,
Thánh triều không có một người nào giúp, tay
chân như bị trói, không thể nào vùng vẫy được.
Ỷ đất trực thuộc triều đình, những vị giản
luyện đều phải cúi đầu xếp cánh, không thể
trông cậy vào ai. Tuy có kẻ sĩ trung nghĩa,
nhưng bị loạn thần bạo ngược hiếp chế, thì còn
phát triển khí tiết của mình làm sao? Hơn nữa,
Tháo nó sai hơn bảy trăm tinh binh tay chân
ngày đêm vây kín cung khuyết, ngoài mặt giả
làm quân túc vệ, kỳ thực là giam cầm nhà Vua.
Mạc phủ sợ rằng cái mầm phản nghịch từ đó mỗi
lúc một nẩy nở thêm, lúc này là lúc kẻ trung
thần phải đem gan óc báo đền, là cơ hội để các
liệt sĩ lập công báo quốc. Há chẳng nên cùng
hết sức ru?
Tháo nó lại hay giả thác chiếu Vua, sai đi gọi
binh các nơi tiếp viện. Sợ rằng các châu quận
ở xa không rõ mưu gian, lại tưởng rằng lệnh
Thiên Tử thực mà giúp lầm kẻ nghịch, thì hóa
ra theo giặc phản Vua, mất hẳn danh nghĩa, để
tiếng cười cho thiên hạ sau này. Vậy mà những
bậc khôn ngoan ắt không làm như thế!
Nay mai quân Tinh, U, Thanh, Ký, bốn châu cùng
tiến (10). Thư đưa tới Kinh Châu mời cùng ra
binh với Kiến Trung tướng quân hợp làm thanh
thế (11). Các châu quận hãy chấn chỉnh nghĩa
binh, liên lạc với nhau nơi cảnh giới, thị vũ
dương uy, cùng khuông phò xã tắc, thế là cái
công phi thường đã rõ rồi vậy.
Ai lấy được thủ cấp Tào Tháo sẽ được phong Hầu
năm mươi vạn hộ, thưởng tiền năm mươi vạn.
Những Thiên, Tỳ, Tướng, Hiệu& ai đem quân đến
hàng, đều không bị hỏi han gì cả. Ta sẵn sàng
mở rộng đường ân tín, ban thưởng tuyên dương
cho ngay.
Nay làm tờ hịch này bố cáo khắp thiên hạ, để
bốn phương biết rằng Thánh triều đang bị cái
nạn câu thúc nguy cấp!
Viên Thiệu xem xong tờ hịch thì mừng lắm, liền
sai người đi đưa đến các châu quận, và yết thị
ở bến đò, treo dán khắp các cửa ải.
Tờ hịch truyền lan tới Hứa Ðô, bấy giờ Tào
Tháo đang bị cảm gió nhức đầu, nằm trên giường
dưỡng bệnh. Tả hữu đem vào trình, Tháo xem
xong, rợn tóc rùng mình, mồ hôi ra như tắm,
bất giắc thấy hết nhức đầu, ngồi phắt dậy,
nhảy xuống đất, quay hỏi Tào Hồng:
- Có biết ai làm bài hịch này không?
Hồng thưa:
- Nghe đâu Trần Lâm chủ bút.
Tháo cười bảo:
- Tài văn còn phải có võ lược đi kèm nữa chứ!
Văn Trần Lâm hay, nhưng võ Viên Thiệu kém thì
sao?
Nói rồi liền họp các mưu sĩ bàn việc nghênh
địch. Khổng Dung hay được việc ấy liền ra mắt
Tào Tháo mà can rằng:
- Viên Thiệu thế lực đang mạnh, không nên đánh
với hắn, xử hòa thì hay hơn.
Tuân Húc nói:
- Viên Thiệu là đồ vô dụng, hà tất phải dụng
hòa?
Dung nói:
- Viên Thiệu có đất rộng dân cường. Bộ hạ như
Hứa Du, Quách Ðồ, Thẩm Phối, Phùng Kỷ đều là
những kẻ sĩ trí mưu. Ðiền Phong, Thư Thụ là
những trung thần. Nhan Lương, Văn Xú đều là
những võ tướng dũng lược quán tam quân. Ngoài
ra bọn Cao Lâm, Trương Cáp, Thuần Vu Quỳnh đều
là những danh tướng đời nay. Sao bảo Thiệu là
kẻ vô dụng được?
Húc cười, nói:
- Quân Thiệu nhiều, nhưng không chỉnh. Ðiền
Phong tính cương mà hay phạm thượng. Hứa Du
tham lam mà không có trí. Thẩm Phối tự chuyên
mà vô mưu. Phùng Kỷ tính quả quyết nhưng vô
dụng. Mấy kẻ ấy không thể dung được nhau, ắt
sinh nội biến. Còn Nhan Lương, Văn Xú chỉ có
cái sức khỏe của kẻ thất phu, đánh một trận có
thể bắt được. Ngoài ra là những bọn lau nhau,
lúc nhúc, dẫu có trăm vạn đi nữa đáng kể làm
gì?
Khổng Dung lặng thinh không nói nữa. Tháo mừng
rỡ nói:
- Thật đúng như luận liệu Tuân Văn Nhược!
Liền lập tức sai Lưu Ðại làm Tiền quân, Vương
Trung làm Hậu quân dẫn năm vạn binh, kéo cờ
hiệu Thừa tướng, tiến ra Từ châu đánh Lưu
Huyền Ðức. Nguyên Lưu Ðại là Thứ sử Duyện châu,
sau Tháo kéo đến, Ðại xin hàng. Tháo phong cho
chức Thiên tướng. Nay cho lãnh binh cùng Vương
Trung.
Còn Tháo góp hết các tướng dẫn đại quân hơn
hai mươi vạn kéo đến Lê dương cự Viên Thiệu.
Trình Dục nói:
- Sợ e Lưu Ðại, Vương Trung làm không nên việc.
Tào Tháo nói:
- Ta cũng biết hai tướng ấy không phải là địch
thủ của Lưu Bị, nhưng hãy tạm hư trương thanh
thế như vậy. Rồi sau sẽ liệu.
Bèn dặn hai tướng:
- Không được khinh chiến. Phải đợi ta phá xong
Viên Thiệu thì sẽ quay binh về đánh Lưu Bị.
Lưu Ðại, Vương Trung vâng lệnh kéo đi.
Còn Tháo cũng kéo binh ra Lê dương. Ðến nơi,
quân hai bên đóng cách nhau chừng tám mươi dặm.
Bên nào cũng đào hầm đắp lũy đề phòng chớ
không chịu đánh.
Hai bên cầm cự như thế từ tháng tám đến tháng
mười. Về phía Hà bắc, vì Hứa Du thấy Thẩm Phối
được lãnh binh thì không thích. Thư Thụ cũng
giận Viên Thiệu không dùng kế của mình. Các
mưu sĩ bất hòa với nhau, nên chẳng buồn nghĩ
đến việc tiến thủ gì. Viên Thiệu nghi hoặc
trong lòng, cũng không buồn nghĩ tới tiến binh
nữa.
Tháo dò biết được, bèn gọi hàng tướng Tang Bá,
bộ hạ cũ của Lữ Bố, sai đóng giữ mặt Thanh, Từ;
sai Vu Cấm, Lý Ðiển đóng đồn trên sông, để Tào
Nhân tổng đốc đại quân đóng giữ Quan Ðộ. Tháo
tự mình dẫn một cánh quân về Hứa đô.
Nói về Lưu Ðại, Vương Trung dẫn năm vạn quân
ra đến Từ châu cách chừng một trăm dặm thì hạ
trại, hư trương cờ hiệu "Thừa tướng" nơi trung
quân, chưa dám tiến binh, chỉ sai quân đi nghe
ngón tin tức mặt trận Hà Bắc.
Huyền Ðức không rõ quân Tào Tháo hư thực thế
nào nên cũng không dám bạo động, chỉ cho người
đi Hà Bắc thám thính xem sao.
Bỗng Tháo sai người tới truyền cho Lưu Ðại,
Vương Trung tiến đánh. Hai người họp nhau
trong trại thương nghị.
Lưu Ðại nói:
- Thừa tướng thúc giục đánh thành như vậy ông
hãy tiến binh đi trước!
Vương Trung thoái thác:
- Thừa tướng sai ông đi trước, sao ông lại
nạnh tôi?
Lưu Ðại nói:
- Ta là chủ tướng, lẽ nào lại đi trước?
Vương Trung nói:
- Vậy tôi và ông cùng tiến một lượt vậy.
Lưu Ðại nói:
- Thôi, để ta với ngươi bắt thăm, hễ ai bắt
trúng thì đi trước.
Khi vò hai mảnh giấy rồi gắp, thì Vương Trung
bắt được thăm có chữ "tiên", Ðại được chữ
"hậu". Vương Trung đành dẫn lấy một nửa quân
mã tiến đánh Từ châu.
Huyền Ðức nghe binh mã Tào Tháo kéo đến, liền
thỉnh Trần Ðăng vào thương nghị:
- Viên Bản Sơ tuy đóng binh tại Lê Dương,
nhưng vì các mưu sĩ bất hòa nên không chịu ra
binh. Còn Tào Tháo lúc nầy không biết hắn ở
nơi đâu mà nơi Lê Dương không thấy dựng cờ
hiệu của hắn, còn nơi đây lại có, thế là làm
sao?
Trần Ðăng nói:
- Tào Tháo nó quỷ quyệt lắm. Thế nào hắn cũng
coi Hà Bắc là trọng, chắc thế nào hắn cũng có
mặt ở đó. Bởi thế, hắn cố ý kéo cờ hiệu ở đây
để hư trương thanh thế. Tôi chắc Tháo không có
ở đây đâu.
Huyền Ðức quay lại hỏi Quan, Trương:
- Hai em, ai dám ra đó thám thính tình hình
của giặc không?
Trương Phi liền bước ra nói:
- Em xin đi.
Huyền Ðức nói:
- Em tính nóng nẩy, e rằng làm hư việc của
anh.
Trương Phi nói:
- Dẫu có thằng Tào Tháo đến nữa, em cũng xin
bắt về đây!
Vân Trường lại bước ra nói:
- Xin để em đi xem động tĩnh thế nào?
Huyền Ðức nhận lời và nói:
- Vân Trường đi, anh mới an dạ.
Vân Trường liền dẫn ba ngàn quân kéo ra khỏi
thành. Bấy giờ tiết trời mới sang đông, mây
xám kéo u ám, hoa tuyết bay tơi bời. Người
ngựa dàn trận ngoài mưa tuyết xong, Vân Trường
cầm đao giục ngựa ra, lớn tiếng gọi Vương
Trung ra nói chuyện.
Trung thúc ngựa ra nói:
- Thừa Tướng đã tới đây, sao không hàng đi?
Vân Trường đáp:
- Hãy mời Thừa Tướng ra đây, ta có việc cần
đàm đạo.
Vương Trung nói:
- Thừa Tướng há đi hạ mình nói chuyện với một
đứa thất phu kia sao?
Vân Trường cả giận, vung đao tới chém. Vương
Trung múa giáo đón đánh. Hai ngựa giao kề,
đánh chừng vài hiệp, Vân Trường giả thua bỏ
chạy. Vương Trung rượt theo. Ðến chân núi, Vân
Trường hét lên một tiếng quay ngựa trở lại,
múa đao chém. Trung chống đỡ không nổi, vội
quay ngựa chạy trốn. Vân Trường bèn cắp ngược
đao ở tay trái, thúc ngựa đuổi sát rồi đưa tay
mặt nắm lấy thắc lưng, lôi xiết Trung khỏi yên
ngựa, bắt sống bỏ nằm ngang trên lưng ngựa mà
về trận. Quân Vương Trung bỏ chạy tán loạn.
Vân Trường áp giải Vương Trung về Từ Châu nạp
cho Huyền Ðức. Huyền Ðức truyền kẻ tả hữu dẫn
vào và hỏi:
- Ngươi là ai? Làm chức gì mà dám mạo xưng là
Tào Thừa Tướng?
Vương Trung run lập cập nói:
- Tôi đâu dám man trá. Vì có lệnh Thừa Tướng
bắt phải hư trương thanh thế để làm nghi binh
như vậy. Quả thực Thừa Tướng không có ở đây.
Huyền Ðức cười thầm, rồi sai lấy áo xiêm cho
Vương Trung mặc, lấy cơm rượu cho ăn uống, và
rồi sai quân tạm giam lại, chờ bắt được Lưu
Ðại sẽ hay.
Vân Trường nói:
- Em biết ý anh muốn giải hòa, nên cố bắt sống
dẫn về.
Huyền Ðức nói:
- Ta e Dực Ðức nóng nảy giết mất Vương Trung
nên không dám sai đi. Cái hạng người như thế
giết làm chi vô ích, cứ để sống mà giảng hòa
hay hơn.
Trương Phi nghe qua, hăm hở nói:
- Nhị ca đã bắt được Vương Trung, vậy để em ra
bắt Lưu Ðại cho.
Huyền Ðức nói:
- Lưu Ðại trước kia đã từng làm Thứ Sử Duyện
Châu. Hồi đánh Ðổng Trác ở Hổ Lao quan, hắn
đường đường là một mặt chư hầu. Nay hắn lãnh
Tiền quân tới đây, không thể khinh địch.
Trương Phi nói:
- Cái đồ chuột nhắt ấy, kể làm gì? Em sẽ làm
như nhị ca: bắt sống nó về đây cho kỳ được.
Huyền Ðức nói:
- Chỉ sợ em hại mất mạng nó, làm lỡ việc lớn
thôi!
Trương Phi cam kết:
- Nếu em giết nó, em đền mạng em cho đại ca.
Buộc lòng, Huyền Ðức phát cho Trương Phi ba
ngàn quân. Trương Phi mừng rỡ, liền kéo binh
ra khỏi thành khiêu chiến. Lưu Ðại nghe tin
Vương Trung bị bắt, thì sợ hãi chỉ một mực
đóng cửa trại không ra.
Trương Phi ngày ngày đến trước trại chửi mắng,
khiêu khích. Nhưng Ðại nghe cái tên "Trương
Phi" với tiếng quát như sấm, thì càng sợ rúm
người lại, không dám ló đầu ra!
Qua ba ngày rồi mà Lưu Ðại vẫn cố thủ, Trương
Phi trong lòng buồn bực, liền nẩy ra một kế,
bèn truyền lệnh cho quân sĩ canh hai đêm nay
đi cướp trại địch. Ban ngày, Trương Phi vào
trướng uống rượu giả tảng say, tìm vạch tội
quân sĩ, rồi bắt một tên lính canh, đánh cho
một trận thật đau và trói ở trong dinh, lại
nói rằng:
- Ðợi đêm nay, khi cất quân, sẽ chém đầu nó tế
cờ!
Nhưng sau đó, lại bí mật bảo tả hữu thả ra.
Tên quân thoát được, trốn ra khỏi trại, chạy
ngay sang trại Lưu Ðại đầu hàng và báo:
- Trương Phi định đêm nay đến cướp trại Tướng
quân đó.
Lưu Ðại hay được tin, lại thấy tên quân bị
đánh đập tàn nhẫn, thương tích nặng nề, nên
tin lời ngay. Ðại bèn bỏ trại trống không, đem
hết quân ra phục bên ngoài, chờ Trương Phi đến
cướp trại thì vùng ra giết.
Ðêm ấy, Trương Phi chi quân ba đạo: một đạo
ước chừng ba mươi người vào thẳng trại Lưu Ðại
mà phóng hỏa, còn hai đạo kia lẻn ra phục sau
trại, cứ trông lửa hiệu cháy mà hai mặt giáp
công.
Ðến canh ba, Trương Phi tự dẫn tinh binh đi
chẹn hẳn lối sau của Lưu Ðại. Khi ba mươi
người xông thẳng vào trong trại đốt lửa, quân
phục của Lưu Ðại vừa toan đánh vào thì hai
cánh quân của Trương Phi đã đổ tới đánh ép
lại. Quân Lưu Ðại náo loạn, không rõ quân
Trương Phi nhiều ít thế nào, bỏ trốn tứ tán.
Ðại thấy nguy, bèn dẫn một đội quân cướp đường
mà chạy. Chạy thế nào lại đụng ngay phải
Trương Phi. Ðại toan quay ngựa, nhưng Phi đã
sấn tới, chỉ vung xà mâu có một hiệp là bắt
sống được Ðại. Quân Ðại xin hàng hết, Phi sai
người về Từ Châu trước báo tin thắng trận
Huyền Ðức hay được tin ấy, mừng rỡ bảo Vân
Trường rằng:
- Tam đệ bấy lâu nay tính tình nóng nảy, nay
lại có mưu lược như vậy thật ta hết lo rồi.
Nói rồi liền sai quân ra ngoài thành đón rước.
Khi điệu Lưu Ðại về, trông thấy Huyền Ðức,
Trương Phi đắc chí vểnh râu lên nói:
- Bấy lâu nay đại ca chê em lỗ mãng, nay thấy
thế nào?
Huyền Ðức cười đáp:
- Nếu anh không nói khích, em đâu chịu dùng
mưu!
Phi sung sướng cười ha hả, rồi sai dẫn Lưu Ðại
tới. Khi quân sĩ giải Lưu Ðại tới, Huyền Ðức
vội xuống ngựa, đến mở trói cho Lưu Ðại mà tạ
rằng:
- Tiểu đệ Trương Phi trót mạo phạm, xin Lưu
công tha tội cho!
Bèn mời vào thành, lại truyền thả Vương Trung
ra, cùng bày tiệc thết đãi cả hai tử tế.
Huyền Ðức lại nói với hai tướng ấy:
- Trước đây Xa Trụ vì mưu hại Bị này, nên
không thể không giết. Thừa tướng lại ngờ Bị
này bội phản nên cử hai Tướng quân đến đây vấn
tội. Bị đã chịu ơn lớn của Thừa Tướng, những
mong báo đáp, có đâu dám làm phản. Mong rằng
hai Tướng quân về Hứa Ðô, sẽ lựa lời phân biện
khéo léo giúp cho, thì may cho Bị lắm.
Lưu Ðại, Vương Trung cùng nói:
- Ðội ơn sâu Sứ quân không giết, vậy khi về
cửa Thừa Tướng chúng tôi xin hết sức tìm lời
phân biện. Xin Sứ quân cứ an dạ, chúng tôi
nguyện đem hết gia quyến ra bảo lãnh việc ấy.
Huyền Ðức tạ ơn. Hôm sau, Huyền Ðức đem hết
binh mã của hai tướng ra trao trả, rồi tiễn ra
khỏi thành.
Lưu Ðại và Vương Trung đi chưa quá mười dặm,
bỗng nghe một hồi trống nổi lên, Trương Phi
cầm xà mâu chặn ngang đường thét lớn:
- Anh ta sao lạ thế này? Ðã bắt được tướng
giặc sao lại thả?
Tiếng thét như sấm khiến Lưu Ðại, Vương Trung
ngồi trên ngựa run bắn người.
Trương Phi trợn mắt tròn xoe, cầm xà mâu sấn
tới, nhưng đã có người phi ngựa đến sau lưng
kêu lớn:
- Em không được vô lễ!
Thì ra là Quan Vân Trường. Vương, Lưu hai
tướng mới hết sợ. Vân Trường bảo Trương Phi:
- Huynh trưởng đã tha, sao em không tuân pháp
lệnh?
Trương Phi hỏi lại:
- Lần này tha cho, ngày khác chúng lại đến thì
sao?
Vân Trường đáp:
- Ðợi đến lần nữa thì sẽ giết cũng chưa muộn
mà!
Lưu, Vương luôn miệng nói:
- Phen này về Hứa Ðô, dù Thừa Tướng giết cả ba
họ, chúng tôi cũng đành chịu, quyết không đến
đây nữa! Xin Tướng quân tha cho.
Trương Phi trợn mắt nói lớn:
- Cho cả thằng Tào Tháo đem xác tới đây nữa,
ta cũng đánh cho không còn mảnh giáp. Thôi hãy
gửi tạm hai cái đầu các ngươi đó!
Lưu Ðại, Vương Trung ôm đầu lủi thủi thúc ngựa
chạy về.
Sau đó, Huyền Ðức đòi chư tướng đến nghị việc.
Vân Trường nói:
- Tào Tháo thế nào cũng đến đây.
Tôn Càn nói:
- Từ Châu là đất trống trải, không nên ở lâu.
Chi bằng chia binh ra đóng Tiểu Bái và giữ Hạ
Bì, làm thế ỷ dốc mới mong chống được binh
Tào.
Huyền Ðức nghe theo, liền sai Vân Trương ra
giữ Hạ Bì, đưa Cam, My hai vị phu nhân ra đó.
Nguyên Cam phu nhân vốn người Tiểu Bái, còn My
phu nhân là em gái My Trúc. Tôn Càn, Giản Ung,
My Trúc, My Phương thì giữ Từ Châu. Huyền Ðức
cùng Trương Phi ra đóng binh nơi Tiểu Bái.
Còn Lưu Ðại, Vương Trung về đến Hứa đô ra mắt
Tào Tháo, nói quyết rằng:
- Lưu Bị không có ý bội phản.
Tháo nổi giận liền mắng:
- Ðồ vô dụng, làm nhục quốc thể, còn để chúng
mày làm gì?
Mắng rồi, thét tả hữu lôi hai tướng ra chém.
Ðó là:
Chó, lợn dám tranh cùng hổ mạnh?
Cá, tôm sao chọi được rồng thiêng?
Chú thích::
Nguyên văn: "Hồ vi hồ nê trung?" (Kinh Thi)
Nguyên văn: "Bạc ngôn vãng tố, phùng bỉ chi
nộ!" (Kinh Thi)
Tức là Chu Bột
Tức là Lưu Chương
Tức là Hán Văn Ðế
"Mạc phủ" là lời Viên Thiệu tự xưng
Hồi Tào Tháo đi đánh Từ Châu báo thù cha, có
sai quân quật mồ mả bá tánh Từ Châu, trong số
này có cả lăng mộ Lương Hiếu Vương.
Trung Hoàng, Hạ Dục, và Ô Hoạch là những đại
lực sĩ thời cổ
Cháu của Thiệu là Cao Cán làm Thứ Sử Tinh
Châu. Con trưởng của Thiệu là Viên Ðàm đóng
giữ Thanh Châu
Con thứ của Thiệu là Viên Hy đóng giữ U Châu
Kiến Trung tướng quân tức là Trương Tú Nhắc
lại, Trần Ðăng hiến kế cho Huyền Ðức rằng: -
Tào Tháo chỉ sợ Viên Thiệu. Hiện Thiệu như con
hổ chiếm cứ bốn châu Tinh, U, Thanh, Ký. Quân
giáp sĩ có tới một trăm vạn, văn quan võ tướng
rất nhiều, thế lực rất mạnh. Sao Sứ quân không
sai người sang đó cầu cứu? Huyền Ðức phân vân
nói: - Thuở nay ta không qua lại với người,
phần ta mới hại em người, có lý nào người lại
chịu giúp ta. Trần Ðăng nói: - Ỷ đây có một
người thông gia với Viên Thiệu đã ba đời rồi,
nếu được bức thư của người ấy, ắt Viên Thiệu
không nỡ từ chối. Huyền Ðức hỏi: - Người nào
thế? Trần Ðăng đáp: - Người này chính là người
vẫn được Sứ quân trọng đãi kính lễ hàng ngày
đó. Huyền Ðức chợt nhớ ra: - Là Trịnh Khanh
Thành tiên sinh phải không? Trần Ðăng cười
đáp: - Chính phải. Nguyên Trịnh Khanh Thành
tức là Trịnh Huyền, từ nhỏ có tài và hiếu học,
từng thụ nghiệp Mã Dung. Mỗi khi Mã Dung ngồi
giảng bài thì buông trướng đỏ. Phía ngoài học
trò ngồi, phía trong thì đoàn con hát hầu vui.
Những cô hầu gái thì đứng hai bên. Trịnh Huyền
học với thầy suốt ba năm mà luôn luôn nhìn
thẳng, không bao giờ nghiêng mắt liếc ngang
một cái. Mã Dung lấy làm lạ, lòng khen thầm.
Khi thành tài, Huyền xin nghỉ trở về. Mã Dung
than rằng: - Hết thẩy học trò của ta, chỉ có
một mình Trịnh Huyền lãnh hội được cái học bí
truyền của ta! Trong nhà Trịnh Huyền, ai cũng
biết chữ. Ðến lũ đầy tớ gái cũng thông thuộc
Kinh Thi. Một hôm có con hầu ăn nói thất thố
làm trái ý Huyền, Huyền bắt quỳ dưới thềm rất
lâu. Một con khác đi qua trông thấy, hỏi đùa
bớn rằng: - Vì sao mà sa vào chỗ bùn lầy như
vậy? (1) Con hầu bị phạt đám ngay: - Chợt khi
lỡ lời, gặp phải lúc ông ấy đang giận. (2) Ấy,
đại để nếp nhà phong nhã như thế. Ðời Hoàn Ðế,
Huyền làm quan đến chức Thượng Thư. Sau gặp
loạn Thập Thường Thị, Huyền bỏ quan, về làm
ruộng ở Từ Châu. Khi Huyền Ðức còn ở Trác
quận, đã có học với Trịnh Huyền, đến khi làm
quan Mục Từ châu vẫn thường đến nhà thỉnh giáo
và kính lễ rất hậu. Bấy giờ Huyền Ðức nhớ ra,
mừng lắm, bèn hiệp với Trần Ðăng đến nhà Trịnh
Huyền nhờ viết thư. Trịnh Huyền khẳng khái
nhận lời, viết một phong thư giao cho Huyền
Ðức. Huyền Ðức liền sai Tôn Càn đi suốt đêm
đem qua Hà Bắc. Viên Thiệu xem thư xong, nghĩ
thầm: - Huyền Ðức đã hại em ta, lẽ nào ta lại
giúp hắn, ngặt vì có thư của Trịnh Thượng thư,
nếu không đi thì không được. Viên Thiệu liền
triệu tập hết các quan văn võ để bàn việc hưng
binh đánh Tào Tháo. Mưu sĩ Ðiền Phong can
rằng: - Binh chinh chiến luôn mấy năm, bá tánh
đều khổ cực, kho đụn thiếu hụt rồi. Nay không
thể khởi đại binh được nữa. Chỉ nên trước sai
người về Kinh dâng tin thắng trận lên Thiên
Tử. Nếu không báo tiệp được thì hãy dâng biểu
kể tội Tào Tháo ngăn đường không cho ta phò
Vua. Rồi sau này đem binh ra đóng Lê Dương,
tăng thêm chiến thuyền dàn ở Hà Nội, sửa sang
khí giới, chia quân tinh nhuệ đi đóng chẹn các
chỗ biên giới. Như thế, trong vòng ba năm,
việc lớn ắt thành. Mưu sĩ Thẩm Phối nói: -
Không được! Với tài thần võ của Minh công, lại
thêm đất Hà Bắc cường thịnh này thì hưng binh
đánh giặc Tào dễ như trở bàn tay. Việc gì phải
chờ đợi dềnh dang ngày này qua tháng khác? Mưu
sĩ Thư Thụ lại nói: - Cái sách lược chế thắng
không phải ở sự cường thịnh. Vả lại Tào Tháo
giỏi thi hành pháp lệnh, quân sĩ tinh luyện,
không như hạng Công Tôn Toản ngồi một xó chịu
khốn. Nay nếu bỏ cái kế hay "báo tiệp tâu
công" mà đi khởi quân vô danh nghĩa, thiết
nghĩ Minh công không nên làm. Nhưng mưu sĩ
Quách Ðồ nói: - Nói thế là sai! Ðem binh đánh
Tào Tháo, sao gọi là vô danh? Lúc này, Minh
công nên kịp thời mưu đại nghiệp. Xin thể theo
lời Trịnh Thượng thư, hợp cùng Lưu Bị, nêu cao
đại nghĩa, tiêu diệt giặc Tào, trên hợp ý
trời, dưới hợp lòng dân. Thực là cơ hội rất
tốt. Thế là bốn mưu sĩ tranh luận giằng co,
Viên Thiệu trù trừ chưa biết quyết định ra
sao? Bỗng lại có hai mưu sĩ Hứa Du, Tuân Thầm
từ bên ngoài bước vào. Thiệu nói: - Hai người
này có nhiều kiến thức đây. Thử hỏi xem chủ
trương thế nào? Hai người vào thi lễ xong,
Thiệu hỏi: - Có Trịnh Thượng thư gửi thư đến
đây, bảo ta giúp Lưu Bị đánh Tào Tháo. Vậy nên
khởi binh hay không khởi binh? Hai người đồng
thanh thưa: - Minh công lấy nhiều phục ít, lấy
mạnh đánh yếu, đánh giặc nhà Hán để phò nhà
Hán. Nên khởi binh lắm! Viên Thiệu cười nói: -
Lời hai ngươi nói rất hợp ý ta! Liền viết một
phong thư phúc đáp, sai Tôn Càn trở về trao
cho Huyền Ðức, hẹn chuẩn bị sẵn sàng tiếp ứng.
Sau đó, Viên Thiệu sai Thẩm Phối và Phùng Kỷ
làm Thống quân; Ðiền Phong, Tuân Thầm, Hứa Du
làm mưu sĩ, còn Nhan Lương và Văn Xú làm Tướng
quân, khởi mười lăm vạn mã quân, mười lăm vạn
bộ quân, cộng hết là ba mươi vạn tinh binh,
nhằm hướng Lê Dương tiến phát. Thiệu phân phát
xong rồi, Quách Ðồ tiến lên nói: - Nay Minh
công lấy đại nghĩa mà đánh Tào Tháo. Vậy phải
làm hịch loan truyền trong nhân dân, hài tội
của Tháo, làm cho rõ cái lẽ khiến ta khởi
binh, để cho danh chánh ngôn thuận thì mới có
thêm uy lực. Thiệu nghe lời, sai viên thư ký
Trần Lâm thảo tờ hịch. Nguyên Trần Lâm tự
Khổng Chương, tài văn nổi tiếng. Thời Hoàn Ðế
đã làm quan Chủ Bạ, vì can ngăn Hà Tiến không
được, rồi gặp loạn Ðổng Trác, chạy loạn lên Ký
Châu, được Viên Thiệu dùng làm Ký Thất. Bấy
giờ Trần Lâm vâng lệnh cầm bút thảo ngay một
bài hịch. Hịch văn như sau: Thường nghe rằng:
bậc minh chúa gặp nguy mà chế biến, kẻ trung
thần lo nạn nước mà tùng quyền. Cho nên, có
người phi thường rồi sau mới có việc phi
thường. Có việc phi thường rồi mới có công lao
phi thường. Người phi thường ấy không phải ai
cũng có thể bắt chước làm nổi. Xưa kia, nhà
Tần mạnh gặp lúc vua yếu, Triệu Cao nắm hết
quyền bính, chuyên chế việc triều đình, tự
mình tác oai tác phúc. Thiên hạ nhiều người
oán hận nhưng không ai dám nói gì. Thế mà rồi
hắn cũng chết thảm ở cung Vọng Di, tổ tông
mang tiếng ô nhục, để tiếng xấu lưu muôn đời.
Cho đến cuối đời bà Lã hậu, hai tên Sản, Lộc
chuyên chính, bên trong giữ cả hai quân, bên
ngoài thống chế hai nước Lương, Triệu, lạm
quyền quốc sự, quyết việc nơi Cấm đình, dưới
lăng loàn, trên suy yếu, bốn bể ai cũng đau
lòng. Vì thế Dáng Hầu (3) với Chu Hư Hầu (4)
mới hưng binh phẫn nộ, tru di quân nghịch bạo,
tôn lập đức Thái Tông (5) làm hưng thịnh lại
Vương đạo, bốn cõi quang minh rực rỡ. Ðó là
cái gương lớn: Ðại thần tùng quyền vậy. Ngày
nay có viên Tư Không Tào Tháo làm càn. Ông nó
tên Ðằng, làm Trung Thường Thị, đã từng thông
với bọn Tả Quản, Từ Hoàng làm điều yêu nghiệt,
tham tàn càn rỡ, tổn thương phong hóa, tàn
ngược nhân dân. Cha nói tên Tung, vốn con nhà
ăn mày được dắt về nuôi, nhờ có của tiền mua
lấy chức vị, xe vàng khiêng ngọc đút lót chỗ
quyền môn, trộm cắp đỉnh tư, làm nghiêng đổ đồ
quốc bảo. Ðến nó tên Tháo, con thằng tôi tớ,
cháu tên quan hoạn, nên chẳng có nết na gì,
tai quái luông tuồng, ham loạn lạc, vui trong
tai vạ của nước non. Mạc phủ (6) đây, đổng
thống quân ưng dương, tảo trừ lũ hung nghịch.
Gặp hồi Ðổng Trác cướp quyền hại nước, đã vung
gươm khua trống, truyền lệnh ra Ðông Hạ, chiêu
tập anh hùng, không kể người xấu nết hèn, chỉ
cốt dùng lấy việc, nên mới để Tào Tháo được
cùng mưu việc, cho giữ một cánh quân, tưởng
rằng chim ưng, chó săn cũng có chút tài khả
dụng. Không ngờ Tháo là đứa ngu si dốt nát,
tiến liều lui bậy, làm tổn quân mã, mất cả
nhuệ khí ba quân. Mạc phủ lại phải rèn luyện
lại quân binh, sửa sang quân ngũ, rồi tâu xin
cho nó sang Ðông quận làm Thứ Sử Duyện châu.
Thân dê đội lốp cọp, nắm được quyền hành,
những tưởng rồi nó sẽ đem thân khuyển mã để
báo được trận thua khi trước như quân Tần báo
thù Tấn. Thế mà nó nhân được thể, dám làm trò
lợn vượt qua rào, hung hăng tàn bạo, chiếm cứ
liên miên, hại người hiền, giết người ngay.
Quan cố Thái Thú Cửu Giang Biên Nhượng là bậc
anh tài tuấn vĩ, thiên hạ đều biết tiếng, nhìn
ngay nói thẳng, không lời dua nịnh, mà cũng bị
nó giết hại, đầu bêu ngọn giáo, vợ con bị nạn
diệt vong. Từ đó khắp kẻ sĩ ai ai đều tức
giận, nhân dân chốn chốn càng xót xa căm hờn.
Một người vung cánh tay, trăm họ cùng hưởng
ứng, nên quân nó bị phá ở Từ Châu, đất nó mất
về tay Lữ Bố. Thân nó bơ vơ nơi cõi Ðông,
không biết nương tựa vào đâu? Mạc phủ nghĩ đến
nghĩa "cành mạnh nâng đỡ nhánh mềm", vả cũng
vốn không dung đảng giặc, cho nên lại giương
cờ, mặc giáp, gióng trống, khua chiêng đem
quân tới cứu nó và đánh quân Lữ Bố tan vỡ, cứu
cho nó khỏi cái nạn tử vong, lại phục hồi cho
nó cái địa vị phương bá. Thế thì, Mạc phủ tuy
không có công đức gì với trăm họ Duyện Châu
nhưng đã làm phúc lớn cho Tháo lắm vậy. Về
sau, khi loan giá về Ðông Ðô, bị lũ giặc theo
cướp, bấy giờ Ký Châu đang có việc cảnh cấp ở
phía Bắc, Mạc phủ chưa thể rời ra được, nên đã
sai quan tùng sự Trung lang Từ Huân đến truyền
cho Tháo phải vào mà sửa sang chốn tôn miếu,
giúp đỡ ấu quân. Thế mà Tháo nó dám rông rỡ
làm càn, hiếp vua dời giá ra chỗ khác. Nó
khinh nhờn vương thất, làm bại hoại pháp chế,
rối loạn kỷ cương, ngồi khuynh loát cả Tam
đài, chuyên chế hết cả triều chính, muốn
thưởng ai mặc lòng, muốn giết ai cứ nói. Yêu
ai thì làm rạng tới ba đời, ghét ai thì giết
cả ba họ. Ai tụ tập luận bàn thì bị chém công
khai. Ai bí mật dị nghị thì bị giết thầm lén.
Trăm quan phải ngậm miệng, người đi đường chỉ
đưa mắt cho nhau, không ai dám nói tiếng nào.
Chức Thượng Thư chỉ còn biết ghi chép buổi
triều hội Công Khanh, ngồi đứng cho có vị. Như
cố Thái úy Dương Bưu, trải coi hai Ty, ở địa
vị nhất phẩm quốc gia, thì Tháo gườm mắt căm
ghét, vu oan tội tình, đánh đập thảm thương,
tước hết chức quyền, đuổi ra điền lý. Tháo đã
tự ý làm càn, không thèm coi hiến cương ra gì
nữa. Văn nghị lang Triệu Ngạn, lòng trung nói
thẳng, nghĩa ấy đáng khen, Thánh triều nghe
hợp đạo, long nhan vui tươi, gia thưởng tước
lộc. Tháo liền ganh tỵ, mê đoạt Thánh minh,
chặn lắp đường lối, không cho ai vào chầu Vua,
rồi tự tiện bắt Ðại thần, không tâu mà giết,
Vua chẳng biết gì. Lại như Lương Hiếu Vương là
anh em cùng mẹ với Ðức Tiên Ðế, lăng tẩm tôn
quý, dẫu đến cây dâu cây tử, gốc bá cành tùng
cũng đáng được kính trọng thay, thế mà Tháo nó
thân đem tướng sĩ quân lính đến khai quan quật
mộ, phơi thây giữa trời, cướp lấy vàng bạc
châu báu, đến nay Thánh triều còn chưa ráo lệ,
sĩ dân vẫn còn đau lòng (7). Nó lại còn đặt ra
chức Trung lang tướng đào mả, chức Hiệu úy bại
vàng, đi đến đâu tàn hại đến đó, dẫu người
chết nằm dưới đáy mồ vẫn không tha, biết bao
nhiêu hài cốt bị bươi móc lồ lộ giữa trời.
Thân ở ngôi Tam công mà nó quen thói trộm
cướp, làm nhơ cả nước, làm nhục muôn dân, gây
vạ độc địa cho cả vong hồn người chết. Chính
sự nó thì tinh ranh thảm khắc, điều luật bầy
ra trói buộc khắp mặt, cạm bẫy chăng đầy đường
khắp lối, khiến ai nấy giơ tay đụng phải lưới,
bước chân mắc phải tròng. Cho nên dân vô tội
hai xứ Duyện, Dự đau khổ lầm than, tiếng rên
la thấu chốn Ðế Ðô rất là ai oán. Trải xem sử
sách cổ kim, những kẻ làm tôi tham tàn khốc
liệt cũng nhiều, nhưng không kẻ nào tai hại
bằng tên Tháo ngày nay nữa. Mạc phủ đang bận
hỏi tội đứa ngoại gian, chưa kịp răn trách đến
nó tức là còn nấn ná rộng dung, tưởng nó sẽ
sửa lầm, cải lỗi đi chăng? Thế mà nó vẫn lòng
lang dại sói, manh tâm gây vạ, muốn đạp đổ rột
rường, làm cho nhà Hán thế cô sức yếu. Nó hãm
hại người trung, chính là nó muốn củng cố địa
vị độc tài để được tự làm ác như con cú độc
vậy. Trước đây, Mạc phủ gióng trống Bắc chinh,
trừ tên giặc dữ Công Tôn Toản, phải cầm vòng
vây một năm trời, Tháo nhân lúc quân giặc chưa
tan, dám ngầm mưu thông với giặc, đưa thư hẹn
họp, ngoài mặt giả cách giúp vua, trong lòng
rình toan đánh úp. May được kẻ đưa thư tiết
lộ, giặc Toản bị bêu đầu, và nọc độc của tên
Tháo phải rụt lại, chẳng mưu được điều bội
nghĩa. Ngỡ thế là yên, ngờ đâu nó lại dám đóng
chẹn Ngao thương, ngăn sông gây việc, toan đem
đôi càng con bọ ngựa để cản bánh Long xa! Mạc
phủ nay phụng oai linh nhà Hán đi dẹp bốn
phương. Quân có kích dài trăm vạn ngọn, ngựa
khỏe nghìn đàn, phấn khích tinh thần như tráng
sĩ, sức lực tựa Hoàng, Dục, Hoạch (8), vương
thế mạnh nỏ cứng, cung bền. Quân đội Tinh châu
vượt núi Thái hàng mà đi. Binh mã Thanh Châu
lội ngang sông Tế, Tháp mà tại (9). Ðại quân
băng qua sông Hoàng hà đánh mặt trước, quân
Kinh châu lại tiến vào đất Uyển, Diệp đánh mặt
sau. Thế mạnh như sấm ran cọp đuổi vào ổ giặc,
thì khác gì nổi lửa lớn mà đốt mớ cỏ khô, dốc
nước biển cả để tưới lò than nhỏ! Giặc Tháo
thế nào mà chẳng bị tiêu diệt? Vả lại những
quân sĩ của Tháo có thể đánh trận được, đều là
những người quê quán ở hai châu U, Ký bị bắt
buộc mà phải theo. Ai ai cũng có bụng oán,
muốn về quê hương, ứa nước mắt trông về phương
Bắc. Ngoài ra, những người Duyện, Dự đều là
những quân sĩ của Lữ Bố, Trương Dương còn sót
lại, vì bị ức hiếp, tạm thời đi theo, cánh
quân nọ thù ghét cánh quân kia, sẵn sàng trở
giáo. Nếu ta lên gò cao đánh trống, phất cờ
trắng để mở đường cho họ về hàng, tất họ sẽ bỏ
chỗ tối, tìm chỗ sáng. Chỉ một trận thì như
đất lở ngói tan, không cần phải đâm chém đổ
máu. Hiện nay nhà Hán suy vi, cương duy lỏng
lẻo, Thánh triều không có một người nào giúp,
tay chân như bị trói, không thể nào vùng vẫy
được. Ỷ đất trực thuộc triều đình, những vị
giản luyện đều phải cúi đầu xếp cánh, không
thể trông cậy vào ai. Tuy có kẻ sĩ trung
nghĩa, nhưng bị loạn thần bạo ngược hiếp chế,
thì còn phát triển khí tiết của mình làm sao?
Hơn nữa, Tháo nó sai hơn bảy trăm tinh binh
tay chân ngày đêm vây kín cung khuyết, ngoài
mặt giả làm quân túc vệ, kỳ thực là giam cầm
nhà Vua. Mạc phủ sợ rằng cái mầm phản nghịch
từ đó mỗi lúc một nẩy nở thêm, lúc này là lúc
kẻ trung thần phải đem gan óc báo đền, là cơ
hội để các liệt sĩ lập công báo quốc. Há chẳng
nên cùng hết sức ru? Tháo nó lại hay giả thác
chiếu Vua, sai đi gọi binh các nơi tiếp viện.
Sợ rằng các châu quận ở xa không rõ mưu gian,
lại tưởng rằng lệnh Thiên Tử thực mà giúp lầm
kẻ nghịch, thì hóa ra theo giặc phản Vua, mất
hẳn danh nghĩa, để tiếng cười cho thiên hạ sau
này. Vậy mà những bậc khôn ngoan ắt không làm
như thế! Nay mai quân Tinh, U, Thanh, Ký, bốn
châu cùng tiến (10). Thư đưa tới Kinh Châu mời
cùng ra binh với Kiến Trung tướng quân hợp làm
thanh thế (11). Các châu quận hãy chấn chỉnh
nghĩa binh, liên lạc với nhau nơi cảnh giới,
thị vũ dương uy, cùng khuông phò xã tắc, thế
là cái công phi thường đã rõ rồi vậy. Ai lấy
được thủ cấp Tào Tháo sẽ được phong Hầu năm
mươi vạn hộ, thưởng tiền năm mươi vạn. Những
Thiên, Tỳ, Tướng, Hiệu& ai đem quân đến hàng,
đều không bị hỏi han gì cả. Ta sẵn sàng mở
rộng đường ân tín, ban thưởng tuyên dương cho
ngay. Nay làm tờ hịch này bố cáo khắp thiên
hạ, để bốn phương biết rằng Thánh triều đang
bị cái nạn câu thúc nguy cấp! Viên Thiệu xem
xong tờ hịch thì mừng lắm, liền sai người đi
đưa đến các châu quận, và yết thị ở bến đò,
treo dán khắp các cửa ải. Tờ hịch truyền lan
tới Hứa Ðô, bấy giờ Tào Tháo đang bị cảm gió
nhức đầu, nằm trên giường dưỡng bệnh. Tả hữu
đem vào trình, Tháo xem xong, rợn tóc rùng
mình, mồ hôi ra như tắm, bất giắc thấy hết
nhức đầu, ngồi phắt dậy, nhảy xuống đất, quay
hỏi Tào Hồng: - Có biết ai làm bài hịch này
không? Hồng thưa: - Nghe đâu Trần Lâm chủ bút.
Tháo cười bảo: - Tài văn còn phải có võ lược
đi kèm nữa chứ! Văn Trần Lâm hay, nhưng võ
Viên Thiệu kém thì sao? Nói rồi liền họp các
mưu sĩ bàn việc nghênh địch. Khổng Dung hay
được việc ấy liền ra mắt Tào Tháo mà can rằng:
- Viên Thiệu thế lực đang mạnh, không nên đánh
với hắn, xử hòa thì hay hơn. Tuân Húc nói: -
Viên Thiệu là đồ vô dụng, hà tất phải dụng
hòa? Dung nói: - Viên Thiệu có đất rộng dân
cường. Bộ hạ như Hứa Du, Quách Ðồ, Thẩm Phối,
Phùng Kỷ đều là những kẻ sĩ trí mưu. Ðiền
Phong, Thư Thụ là những trung thần. Nhan
Lương, Văn Xú đều là những võ tướng dũng lược
quán tam quân. Ngoài ra bọn Cao Lâm, Trương
Cáp, Thuần Vu Quỳnh đều là những danh tướng
đời nay. Sao bảo Thiệu là kẻ vô dụng được? Húc
cười, nói: - Quân Thiệu nhiều, nhưng không
chỉnh. Ðiền Phong tính cương mà hay phạm
thượng. Hứa Du tham lam mà không có trí. Thẩm
Phối tự chuyên mà vô mưu. Phùng Kỷ tính quả
quyết nhưng vô dụng. Mấy kẻ ấy không thể dung
được nhau, ắt sinh nội biến. Còn Nhan Lương,
Văn Xú chỉ có cái sức khỏe của kẻ thất phu,
đánh một trận có thể bắt được. Ngoài ra là
những bọn lau nhau, lúc nhúc, dẫu có trăm vạn
đi nữa đáng kể làm gì? Khổng Dung lặng thinh
không nói nữa. Tháo mừng rỡ nói: - Thật đúng
như luận liệu Tuân Văn Nhược! Liền lập tức sai
Lưu Ðại làm Tiền quân, Vương Trung làm Hậu
quân dẫn năm vạn binh, kéo cờ hiệu Thừa tướng,
tiến ra Từ châu đánh Lưu Huyền Ðức. Nguyên Lưu
Ðại là Thứ sử Duyện châu, sau Tháo kéo đến,
Ðại xin hàng. Tháo phong cho chức Thiên tướng.
Nay cho lãnh binh cùng Vương Trung. Còn Tháo
góp hết các tướng dẫn đại quân hơn hai mươi
vạn kéo đến Lê dương cự Viên Thiệu. Trình Dục
nói: - Sợ e Lưu Ðại, Vương Trung làm không nên
việc. Tào Tháo nói: - Ta cũng biết hai tướng
ấy không phải là địch thủ của Lưu Bị, nhưng
hãy tạm hư trương thanh thế như vậy. Rồi sau
sẽ liệu. Bèn dặn hai tướng: - Không được khinh
chiến. Phải đợi ta phá xong Viên Thiệu thì sẽ
quay binh về đánh Lưu Bị. Lưu Ðại, Vương Trung
vâng lệnh kéo đi. Còn Tháo cũng kéo binh ra Lê
dương. Ðến nơi, quân hai bên đóng cách nhau
chừng tám mươi dặm. Bên nào cũng đào hầm đắp
lũy đề phòng chớ không chịu đánh. Hai bên cầm
cự như thế từ tháng tám đến tháng mười. Về
phía Hà bắc, vì Hứa Du thấy Thẩm Phối được
lãnh binh thì không thích. Thư Thụ cũng giận
Viên Thiệu không dùng kế của mình. Các mưu sĩ
bất hòa với nhau, nên chẳng buồn nghĩ đến việc
tiến thủ gì. Viên Thiệu nghi hoặc trong lòng,
cũng không buồn nghĩ tới tiến binh nữa. Tháo
dò biết được, bèn gọi hàng tướng Tang Bá, bộ
hạ cũ của Lữ Bố, sai đóng giữ mặt Thanh, Từ;
sai Vu Cấm, Lý Ðiển đóng đồn trên sông, để Tào
Nhân tổng đốc đại quân đóng giữ Quan Ðộ. Tháo
tự mình dẫn một cánh quân về Hứa đô. Nói về
Lưu Ðại, Vương Trung dẫn năm vạn quân ra đến
Từ châu cách chừng một trăm dặm thì hạ trại,
hư trương cờ hiệu "Thừa tướng" nơi trung quân,
chưa dám tiến binh, chỉ sai quân đi nghe ngón
tin tức mặt trận Hà Bắc. Huyền Ðức không rõ
quân Tào Tháo hư thực thế nào nên cũng không
dám bạo động, chỉ cho người đi Hà Bắc thám
thính xem sao. Bỗng Tháo sai người tới truyền
cho Lưu Ðại, Vương Trung tiến đánh. Hai người
họp nhau trong trại thương nghị. Lưu Ðại nói:
- Thừa tướng thúc giục đánh thành như vậy ông
hãy tiến binh đi trước! Vương Trung thoái
thác: - Thừa tướng sai ông đi trước, sao ông
lại nạnh tôi? Lưu Ðại nói: - Ta là chủ tướng,
lẽ nào lại đi trước? Vương Trung nói: - Vậy
tôi và ông cùng tiến một lượt vậy. Lưu Ðại
nói: - Thôi, để ta với ngươi bắt thăm, hễ ai
bắt trúng thì đi trước. Khi vò hai mảnh giấy
rồi gắp, thì Vương Trung bắt được thăm có chữ
"tiên", Ðại được chữ "hậu". Vương Trung đành
dẫn lấy một nửa quân mã tiến đánh Từ châu.
Huyền Ðức nghe binh mã Tào Tháo kéo đến, liền
thỉnh Trần Ðăng vào thương nghị: - Viên Bản Sơ
tuy đóng binh tại Lê Dương, nhưng vì các mưu
sĩ bất hòa nên không chịu ra binh. Còn Tào
Tháo lúc nầy không biết hắn ở nơi đâu mà nơi
Lê Dương không thấy dựng cờ hiệu của hắn, còn
nơi đây lại có, thế là làm sao? Trần Ðăng nói:
- Tào Tháo nó quỷ quyệt lắm. Thế nào hắn cũng
coi Hà Bắc là trọng, chắc thế nào hắn cũng có
mặt ở đó. Bởi thế, hắn cố ý kéo cờ hiệu ở đây
để hư trương thanh thế. Tôi chắc Tháo không có
ở đây đâu. Huyền Ðức quay lại hỏi Quan,
Trương: - Hai em, ai dám ra đó thám thính tình
hình của giặc không? Trương Phi liền bước ra
nói: - Em xin đi. Huyền Ðức nói: - Em tính
nóng nẩy, e rằng làm hư việc của anh. Trương
Phi nói: - Dẫu có thằng Tào Tháo đến nữa, em
cũng xin bắt về đây! Vân Trường lại bước ra
nói: - Xin để em đi xem động tĩnh thế nào?
Huyền Ðức nhận lời và nói: - Vân Trường đi,
anh mới an dạ. Vân Trường liền dẫn ba ngàn
quân kéo ra khỏi thành. Bấy giờ tiết trời mới
sang đông, mây xám kéo u ám, hoa tuyết bay tơi
bời. Người ngựa dàn trận ngoài mưa tuyết xong,
Vân Trường cầm đao giục ngựa ra, lớn tiếng gọi
Vương Trung ra nói chuyện. Trung thúc ngựa ra
nói: - Thừa Tướng đã tới đây, sao không hàng
đi? Vân Trường đáp: - Hãy mời Thừa Tướng ra
đây, ta có việc cần đàm đạo. Vương Trung nói:
- Thừa Tướng há đi hạ mình nói chuyện với một
đứa thất phu kia sao? Vân Trường cả giận, vung
đao tới chém. Vương Trung múa giáo đón đánh.
Hai ngựa giao kề, đánh chừng vài hiệp, Vân
Trường giả thua bỏ chạy. Vương Trung rượt
theo. Ðến chân núi, Vân Trường hét lên một
tiếng quay ngựa trở lại, múa đao chém. Trung
chống đỡ không nổi, vội quay ngựa chạy trốn.
Vân Trường bèn cắp ngược đao ở tay trái, thúc
ngựa đuổi sát rồi đưa tay mặt nắm lấy thắc
lưng, lôi xiết Trung khỏi yên ngựa, bắt sống
bỏ nằm ngang trên lưng ngựa mà về trận. Quân
Vương Trung bỏ chạy tán loạn. Vân Trường áp
giải Vương Trung về Từ Châu nạp cho Huyền Ðức.
Huyền Ðức truyền kẻ tả hữu dẫn vào và hỏi: -
Ngươi là ai? Làm chức gì mà dám mạo xưng là
Tào Thừa Tướng? Vương Trung run lập cập nói: -
Tôi đâu dám man trá. Vì có lệnh Thừa Tướng bắt
phải hư trương thanh thế để làm nghi binh như
vậy. Quả thực Thừa Tướng không có ở đây. Huyền
Ðức cười thầm, rồi sai lấy áo xiêm cho Vương
Trung mặc, lấy cơm rượu cho ăn uống, và rồi
sai quân tạm giam lại, chờ bắt được Lưu Ðại sẽ
hay. Vân Trường nói: - Em biết ý anh muốn giải
hòa, nên cố bắt sống dẫn về. Huyền Ðức nói: -
Ta e Dực Ðức nóng nảy giết mất Vương Trung nên
không dám sai đi. Cái hạng người như thế giết
làm chi vô ích, cứ để sống mà giảng hòa hay
hơn. Trương Phi nghe qua, hăm hở nói: - Nhị ca
đã bắt được Vương Trung, vậy để em ra bắt Lưu
Ðại cho. Huyền Ðức nói: - Lưu Ðại trước kia đã
từng làm Thứ Sử Duyện Châu. Hồi đánh Ðổng Trác
ở Hổ Lao quan, hắn đường đường là một mặt chư
hầu. Nay hắn lãnh Tiền quân tới đây, không thể
khinh địch. Trương Phi nói: - Cái đồ chuột
nhắt ấy, kể làm gì? Em sẽ làm như nhị ca: bắt
sống nó về đây cho kỳ được. Huyền Ðức nói: -
Chỉ sợ em hại mất mạng nó, làm lỡ việc lớn
thôi! Trương Phi cam kết: - Nếu em giết nó, em
đền mạng em cho đại ca. Buộc lòng, Huyền Ðức
phát cho Trương Phi ba ngàn quân. Trương Phi
mừng rỡ, liền kéo binh ra khỏi thành khiêu
chiến. Lưu Ðại nghe tin Vương Trung bị bắt,
thì sợ hãi chỉ một mực đóng cửa trại không ra.
Trương Phi ngày ngày đến trước trại chửi mắng,
khiêu khích. Nhưng Ðại nghe cái tên "Trương
Phi" với tiếng quát như sấm, thì càng sợ rúm
người lại, không dám ló đầu ra! Qua ba ngày
rồi mà Lưu Ðại vẫn cố thủ, Trương Phi trong
lòng buồn bực, liền nẩy ra một kế, bèn truyền
lệnh cho quân sĩ canh hai đêm nay đi cướp trại
địch. Ban ngày, Trương Phi vào trướng uống
rượu giả tảng say, tìm vạch tội quân sĩ, rồi
bắt một tên lính canh, đánh cho một trận thật
đau và trói ở trong dinh, lại nói rằng: - Ðợi
đêm nay, khi cất quân, sẽ chém đầu nó tế cờ!
Nhưng sau đó, lại bí mật bảo tả hữu thả ra.
Tên quân thoát được, trốn ra khỏi trại, chạy
ngay sang trại Lưu Ðại đầu hàng và báo: -
Trương Phi định đêm nay đến cướp trại Tướng
quân đó. Lưu Ðại hay được tin, lại thấy tên
quân bị đánh đập tàn nhẫn, thương tích nặng
nề, nên tin lời ngay. Ðại bèn bỏ trại trống
không, đem hết quân ra phục bên ngoài, chờ
Trương Phi đến cướp trại thì vùng ra giết. Ðêm
ấy, Trương Phi chi quân ba đạo: một đạo ước
chừng ba mươi người vào thẳng trại Lưu Ðại mà
phóng hỏa, còn hai đạo kia lẻn ra phục sau
trại, cứ trông lửa hiệu cháy mà hai mặt giáp
công. Ðến canh ba, Trương Phi tự dẫn tinh binh
đi chẹn hẳn lối sau của Lưu Ðại. Khi ba mươi
người xông thẳng vào trong trại đốt lửa, quân
phục của Lưu Ðại vừa toan đánh vào thì hai
cánh quân của Trương Phi đã đổ tới đánh ép
lại. Quân Lưu Ðại náo loạn, không rõ quân
Trương Phi nhiều ít thế nào, bỏ trốn tứ tán.
Ðại thấy nguy, bèn dẫn một đội quân cướp đường
mà chạy. Chạy thế nào lại đụng ngay phải
Trương Phi. Ðại toan quay ngựa, nhưng Phi đã
sấn tới, chỉ vung xà mâu có một hiệp là bắt
sống được Ðại. Quân Ðại xin hàng hết, Phi sai
người về Từ Châu trước báo tin thắng trận
Huyền Ðức hay được tin ấy, mừng rỡ bảo Vân
Trường rằng: - Tam đệ bấy lâu nay tính tình
nóng nảy, nay lại có mưu lược như vậy thật ta
hết lo rồi. Nói rồi liền sai quân ra ngoài
thành đón rước. Khi điệu Lưu Ðại về, trông
thấy Huyền Ðức, Trương Phi đắc chí vểnh râu
lên nói: - Bấy lâu nay đại ca chê em lỗ mãng,
nay thấy thế nào? Huyền Ðức cười đáp: - Nếu
anh không nói khích, em đâu chịu dùng mưu! Phi
sung sướng cười ha hả, rồi sai dẫn Lưu Ðại
tới. Khi quân sĩ giải Lưu Ðại tới, Huyền Ðức
vội xuống ngựa, đến mở trói cho Lưu Ðại mà tạ
rằng: - Tiểu đệ Trương Phi trót mạo phạm, xin
Lưu công tha tội cho! Bèn mời vào thành, lại
truyền thả Vương Trung ra, cùng bày tiệc thết
đãi cả hai tử tế. Huyền Ðức lại nói với hai
tướng ấy: - Trước đây Xa Trụ vì mưu hại Bị
này, nên không thể không giết. Thừa tướng lại
ngờ Bị này bội phản nên cử hai Tướng quân đến
đây vấn tội. Bị đã chịu ơn lớn của Thừa Tướng,
những mong báo đáp, có đâu dám làm phản. Mong
rằng hai Tướng quân về Hứa Ðô, sẽ lựa lời phân
biện khéo léo giúp cho, thì may cho Bị lắm.
Lưu Ðại, Vương Trung cùng nói: - Ðội ơn sâu Sứ
quân không giết, vậy khi về cửa Thừa Tướng
chúng tôi xin hết sức tìm lời phân biện. Xin
Sứ quân cứ an dạ, chúng tôi nguyện đem hết gia
quyến ra bảo lãnh việc ấy. Huyền Ðức tạ ơn.
Hôm sau, Huyền Ðức đem hết binh mã của hai
tướng ra trao trả, rồi tiễn ra khỏi thành. Lưu
Ðại và Vương Trung đi chưa quá mười dặm, bỗng
nghe một hồi trống nổi lên, Trương Phi cầm xà
mâu chặn ngang đường thét lớn: - Anh ta sao lạ
thế này? Ðã bắt được tướng giặc sao lại thả?
Tiếng thét như sấm khiến Lưu Ðại, Vương Trung
ngồi trên ngựa run bắn người. Trương Phi trợn
mắt tròn xoe, cầm xà mâu sấn tới, nhưng đã có
người phi ngựa đến sau lưng kêu lớn: - Em
không được vô lễ! Thì ra là Quan Vân Trường.
Vương, Lưu hai tướng mới hết sợ. Vân Trường
bảo Trương Phi: - Huynh trưởng đã tha, sao em
không tuân pháp lệnh? Trương Phi hỏi lại: -
Lần này tha cho, ngày khác chúng lại đến thì
sao? Vân Trường đáp: - Ðợi đến lần nữa thì sẽ
giết cũng chưa muộn mà! Lưu, Vương luôn miệng
nói: - Phen này về Hứa Ðô, dù Thừa Tướng giết
cả ba họ, chúng tôi cũng đành chịu, quyết
không đến đây nữa! Xin Tướng quân tha cho.
Trương Phi trợn mắt nói lớn: - Cho cả thằng
Tào Tháo đem xác tới đây nữa, ta cũng đánh cho
không còn mảnh giáp. Thôi hãy gửi tạm hai cái
đầu các ngươi đó! Lưu Ðại, Vương Trung ôm đầu
lủi thủi thúc ngựa chạy về. Sau đó, Huyền Ðức
đòi chư tướng đến nghị việc. Vân Trường nói: -
Tào Tháo thế nào cũng đến đây. Tôn Càn nói: -
Từ Châu là đất trống trải, không nên ở lâu.
Chi bằng chia binh ra đóng Tiểu Bái và giữ Hạ
Bì, làm thế ỷ dốc mới mong chống được binh
Tào. Huyền Ðức nghe theo, liền sai Vân Trương
ra giữ Hạ Bì, đưa Cam, My hai vị phu nhân ra
đó. Nguyên Cam phu nhân vốn người Tiểu Bái,
còn My phu nhân là em gái My Trúc. Tôn Càn,
Giản Ung, My Trúc, My Phương thì giữ Từ Châu.
Huyền Ðức cùng Trương Phi ra đóng binh nơi
Tiểu Bái. Còn Lưu Ðại, Vương Trung về đến Hứa
đô ra mắt Tào Tháo, nói quyết rằng: - Lưu Bị
không có ý bội phản. Tháo nổi giận liền mắng:
- Ðồ vô dụng, làm nhục quốc thể, còn để chúng
mày làm gì? Mắng rồi, thét tả hữu lôi hai
tướng ra chém. Ðó là: Chó, lợn dám tranh cùng
hổ mạnh? Cá, tôm sao chọi được rồng thiêng?
Chú thích:: Nguyên văn: "Hồ vi hồ nê trung?"
(Kinh Thi) Nguyên văn: "Bạc ngôn vãng tố,
phùng bỉ chi nộ!" (Kinh Thi) Tức là Chu Bột
Tức là Lưu Chương Tức là Hán Văn Ðế "Mạc phủ"
là lời Viên Thiệu tự xưng Hồi Tào Tháo đi đánh
Từ Châu báo thù cha, có sai quân quật mồ mả bá
tánh Từ Châu, trong số này có cả lăng mộ Lương
Hiếu Vương. Trung Hoàng, Hạ Dục, và Ô Hoạch là
những đại lực sĩ thời cổ Cháu của Thiệu là Cao
Cán làm Thứ Sử Tinh Châu. Con trưởng của Thiệu
là Viên Ðàm đóng giữ Thanh Châu Con thứ của
Thiệu là Viên Hy đóng giữ U Châu Kiến Trung
tướng quân tức là Trương Tú .
(còn tiếp)