|
Bốn trẻ đồng môn
Chẳng bao lâu thuyền cặp bến đảo Đào-hoa. Trong suốt cuộc hành trình,
Quách-Tỉnh nhờ Hoàng-Dung săn sóc nên thương tích thuyên giảm khá nhiều,
vả lại được một thời gian nghỉ ngơi sức lực chàng bình phục như xưa.
Vợ chồng Quách-Tỉnh không lúc nào quên nghĩ đến Âu-dương-Phong. Họ lấy
làm lạ chẳng biết tại sao đã mười năm qua ông lão anh hùng nầy vẫn còn
giữ được sức lực tài năng và phong độ tự thuở nào, mặc dù tuổi đã về
chiều. Thì ra con người kỳ dị ấy bất chấp cả thời gian.
Đó là vợ chồng Quách-Tỉnh chưa chứng kiến vụ phục thù của Kha-trấn-ác
đối với Âu-dương-Phong nơi cổ miếu. Nếu họ thấy trận phục thù đó họ còn
ngạc nhiên sức dẻo dai của Âu-dương-Phong hơn nữa. Sáng hôm ấy, sau khi
bàn bạc cùng nhau, Quách-Tỉnh và Hoàng-Dung gọi Dương-Qua vào cật vấn về
sự việc quá khứ. Dương-Qua đang cùng con bé Quách-Phù bắt dế, nghe kêu
nó đã đoán biết là nó sắp trả lời những câu hỏi khó khăn nên đã dự ý
trước.
Nguyễn Dương-Qua cùng người mẹ là Trần-nam-Ngân trước đây sống về nghề
bắt rắn nơi chân núi Trường-Lĩnh. Nghề bắt rắn vốn không phải là nghề
kiếm ăn dư giả, nhưng cũng nhàn hạ. Ban đêm họ chỉ vất vả mấy tiếng đồng
hồ lục lạo ở các ven rừng ở bờ bụi may ra cũng đủ độ nhật trong một ngày.
Đối với Trần Thị, nghề nghiệp và sinh kế không quan trọng bằng việc giáo
dục con. Ngày nào cũng như ngày nào, người mẹ kiên trinh ấy quyết tâm
rèn luyện cho con mình mong trở thành người lý tưởng.
Những lời giáo huấn môn phong trước đây đã vun đúc vào cho Dương-Qua một
tâm tánh phong nhã. Trần thị lại đem những ngón sở trường trong vũ thuật
mà bà đã góp nhặt trên bước phiêu lưu giang hồ để truyền lại cho Dương-Qua,
đứa con duy nhất của bà.
Từ khi Dương-Qua trí khôn mới bắt đầu thành hình đã tỏ ra thông minh đáo
để. Nó học đâu nhớ đó. Không một quyển sách nào, một lời giáo huấn nào
của từ mẫu răn dạy mà nó không thuộc làu. Đến như việc bắt rắn, nó chẳng
học tập gì cả, cứ hàng đêm xách đèn theo mẹ, ấy thế mà mới vừa lên tám
nó đã có nhiều kế hoạch bắt rắn thông thạo hơn người mẹ là khác.
Những lúc cùng nhau lặn lội dưới chân Trường-sơn để theo dấu vết những
con rắn, người mẹ thường kể cho Dương-Qua nghe là trên đời này chỉ có
một người, hay đúng hơn là một danh nhân lấy việc nuôi rắn để mưu đồ
việc lớn. Danh nhân ấy có thể sai khiến được rắn thành hàng ngũ, lập
thành trận thế và điều khiển theo binh pháp. Danh nhân ấy hiện trú ẩn
nơi Bạch-đà-Sơn.
Câu chuyện nầy làm cho Dương-Qua lưu ý và thích thú nhất. Có nhiều lúc
Dương-Qua mơ ước được thành danh nhân đó, nên nó tự mình bắt rắn huấn
luyện theo mơ tưởng.
Lần lần Dương-Qua nuôi được một đoàn rắn tinh khôn, biết nghe theo mệnh
lệnh của nó.
Tuy nhiên, nó vẫn chưa thỏa, ước mong sao một ngày nào đó nó gặp được vị
danh nhân để có thể sai khiến theo phép thuật danh truyền.
Mẹ con sống với nhau được mười năm thì một hôm người mẹ rủi ro bị rắn
độc cắn, trong người quên mang theo thuốc giải độc nên ngất lịm, nằm mê
mang dưới chân núi. Dương-Qua vội chạy về nhà lấy thuốc giải độc, nhưng
đến nơi, nọc độc đã thấm vào tim, người mẹ chỉ còn là một cái xác không
hồn.
Còn biết làm sao hơn, Dương-Qua khóc lóc một hồi rồi đành nuốt hờn chốt
cất người mẹ, trở về sống cô đơn nơi chân núi với túp lều tranh trên đồi,
nó chỉ còn một con chim hồng và đàn rắn làm bạn.
Song lẽ, đã mất mẹ, người mẹ yêu dấu kia, nó còn thiết gì căn lều ở chân
núi Trường Lĩnh nữa, một hôm nó bỏ nhà đem con chim nhỏ và đàn rắn đi
phiêu bạt đó đây, hi vọng hão huyền sẽ được gặp vị danh nhân Bạch-Đà-Sơn
để học thuật luyện rắn.
Chẳng ngờ bước phiêu lưu, tình cờ đã đưa đẩy nó gặp gỡ Lý-mạc-Thu để mất
cả chim hồng và đàn rắn khôn, và thân nó bây giờ chỉ trơ trọi một mình
không biết đâu nương tựa...
Bao nhiêu câu chuyện về dĩ vãng nó đem kể lại cho vợ chồng Quách-Tỉnh
nghe.
Nghe đến đây, Hoàng-Dung căm tức Lý-mạc-Thu đã sát hại con chim hồng mà
chính con chim ấy trước đây Hoàng-Dung đã từng nâng niu.
Tiếp đó, Hoàng-Dung lại cật vấn đến việc Dương-Qua ở đâu lúc
Vũ-tam-Thông và Âu-dương-Phong đấu nhau. Làm sao Dương-Qua lại quen biết
Âu-dương-Phong và Âu-dương-Phong là ai.
Dương-Qua cảm biết Hoàng-Dung là kẻ linh lợi, một kẽ hở nhỏ cũng đủ để
Hoàng-Dung thấu hiểu sự tình và khai thác hành tung nên nó một mực tỏ ra
rất thản nhiên, một mực tỏ ra thành khẩn để lập lại những điều mà nó đã
sắp đặt trước. Thỉnh thoảng nó kể những mẩu chuyện xen vào ăn khớp với
người nầy người kia để đánh trống lảng.
Nghe thằng bé kể lời lẽ tự nhiên, sự việc hợp tình hợp lý, lại tuổi tác
nó còn nhỏ bé. Hoàng-Dung thật khó lòng nghi ngờ. Tuy nhiên, nàng cũng
khó mà tin cậy trước cái vẻ tinh khôn của nó.
- Cháu ngoan lắm! Thôi cháu hãy ra ngoài chơi với anh em họ Vũ đi.
Dương-Qua ra khỏi phòng, Quách-Tỉnh và Hoàng-Dung tiếp tục bàn bạc.
Quách-Tỉnh nói:
- Này em Dung! Chắc em hiểu rõ lòng anh. Ngày nay anh gặp được cháu
Dương-Qua anh tưởng như cuộc hội ngộ trời cho thật lấy làm vui sướng.
Nguyên vì thuở trước ông thân sinh Quách-Tỉnh cùng ông nội Dương-Qua là
đôi bạn chí thiết. Bấy giờ nhân hai người vợ cùng có thai, đôi bạn thân
bèn uớc hẹn cùng nhau, hễ sanh đồng trai thì cho chúng làm anh em, đồng
sinh gái thì cho chúng làm chị em, nếu sanh một trai một gái thì cho
chúng làm vợ chồng. Sau đó mỗi người vợ đều sinh mỗi người một trai. Bởi
vậy Dương-Khang và Quách-Tỉnh theo lời nguyện ước của song thân kết làm
anh em, xem nhau như ruột thịt mặc dù khác họ.
Về sau Dương-Khang vì mạo nhận giặc cướp làm cho cha già bị chết thê
thảm ở miếu Thiết-Phương Gia-hưng-vương. Từ đó Quách-Tỉnh buồn bã thương
nhớ không nguôi. Nay tình cờ gặp đặng Dương-Qua, con của người anh em,
Quách-Tỉnh xiết bao mừng rỡ.
Hoàng-Dung tuy hiểu rõ tình ý của chồng, song không muốn chồng mình đem
tình cảm đối với Dương-Qua như thế, và ngại rằng với Dương-Qua như thế,
và ngại rằng với lời ước hẹn của phụ thân, Quách-Tỉnh sẽ buộc gả con bé
Quách-Phù cho Dương-Qua mà lòng nàng không thích.
Hoàng-Dung bảo:
- Như thế em không bằng lòng.
Quách-Tỉnh ngạc nhiên nhìn vợ, hỏi:
- Em không bằng lòng điều gì?
Hoàng-Dung đáp:
- Điều rất đơn giản là em không muốn gả Quách-Phù cho Dương-Qua, con một
tên tướng cướp.
Quách-Tỉnh nói:
- Dẫu em cho nó có thành tích bất hảo đi nữa cũng nên nghĩ đến lời thề
ước của tiều nhân. Vả lại Dương-Qua diện mạo khôi ngô, cử chỉ linh lợi,
tư cách thông minh. Nếu chúng ta gia công rèn luyện chắc chắn sau này
tương lai phải vẻ vang tươi sáng.
Hoàng-Dung lắc đầu, nói:
- Em chỉ ngại nó quá thông minh mà hỏng.
Quách-Tỉnh mỉm cười, nói:
- Thế sao em cũng thông minh và lanh lợi mà không hỏng. Có gì phải e
ngại?
Hoàng-Dung cũng mỉm cười:
- Nhưng em nhờ gặp được người chồng tuấn kiệt như anh.
Quách-Tỉnh nhún vai nói:
- Nhưng sao em chắc rằng Dương-Qua không phải là người chồng lý tưởng
của Quách-Phù? Biết đâu khi lớn lên Quách-Phù lặn lội đó đây mà không
sao tìm được người chồng thông minh tuấn kiệt như Dương-Qua.
Hoàng-Dung bỉm môi, nói:
- Chà quí quá!
Sau mấy câu trò đùa, Quách-Tỉnh nghiêm trang nói:
- Lúc sinh tiền thân phụ thường nhắc với anh rằng khi Dương-thúc-Tâm lâm
chung, thúc phụ tỏ ý hy vọng anh có thể giữ trọn lời thề. Nếu nay anh
không săn sóc Dương-Qua coi như con đẻ thì anh đã phụ lòng thân sinh, và
chữ hiếu anh không làm tròn, mà chữ nghĩa cũng chẳng đầy đủ.
Dứt lời, Quách-Tỉnh buông tiếng thở dài.
Tiếng thở dài đầy tình cảm và nhơn nghĩa đã làm cho tâm hồn lẫn lý trí
Hoàng-Dung phải dao động.
Hoàng-Dung hạ thấp giọng nói:
- Em nói thế chứ đôi trẻ còn nhỏ đã gấp gì định đoạt. Ngày sau, nếu
Dương-Qua quả là người tốt thì anh muốn thế nào em xin nghe theo thế ấy,
không có gì làm cho anh băn khoăn.
Quách-Tỉnh liền đứng dậy, hai tay chấp lại trịnh trọng nói:
- Đa tạ nương tử bằng lòng bỉ nhân vô cùng cảm kích.
Hoàng-Dung cũng thủ lễ, chấp tay bái chồng, trịnh trọng thưa:
- Thưa phu quân! Thiếp bằng lòng trong tương lai, nếu Dương-Qua là người
tốt.
Quách-Tỉnh nghiêm trang, nói với giọng cương quyết:
- Dương-Khang, cha của Dương-Qua sống trong Vương-phủ Kim-quốc có thể có
những điểm hư hỏng, nhưng Dương-Qua nếu đã được giáo dục trên đảo
Đào-hoa không có lý gì lại không trở nên một chàng trai tuấn kiệt! Điều
đó em khỏi lo!
Hoàng-Dung mỉm cười nói sang câu chuyện khác, không bàn luận đến việc
Dương-Qua nữa.
Tuy nhiên, chúng ta cũng nên xét qua đôi tâm hồn non trẻ của Dương-Qua
và Quách-Phù.
Ban đầu, lúc mới gặp nhau, cô bé Quách-Phù vốn có ác cảm với Dương-Qua,
không chịu làm bạn với nhau. Nhưng trẻ thơ dễ quên, chẳng bao lâu
Quách-Phù lại rủ Dương-Qua đi bắt dế ngoài khuê viên. Và bao nhiêu hiềm
khích đều quên hết.
Lúc Dương-Qua bị Hoàng-Dung gọi vào chất vấn. Quách-Phù ngồi đợi mãi một
lúc mới thấy Dương-Qua trở ra.
Dương-Qua nghe trong lùm cây có tiếng nói xì xào liền đưa mắt nhìn vào,
thấy anh em họ Vũ ra đấy tự bao giờ, và cũng đang cùng với Quách-Phù bắt
dế. Vũ-đôn-Nhu tay xách một chiếc lồng tre nhỏ, Quách-Phù bưng một cái
thẩu lớn, cả hai đang lum khum nhìn xuống một tảng đá, nơi đấy Tu-Văn
đang ra sức lật lên một vừng đất.
Vừng đất vừa lật lên, một con dế rất lớn nhảy phóc ra, Tu-Văn hối hả
đuổi theo chụp.
Quách-Phù mừng rỡ, reo lên:
- A! Dế lớn quá! Anh bắt cho em nhé!
Tu-Văn cẩn thận cầm con dế trao cho Quách-Phù, nói:
- Con dế này đẹp lắm, xin biếu cô nương.
Quách-Phù cầm lấy, mở nắp thần bỏ vào. Qua làn thủy tinh con dế quả có
một thân hình vô cùng đẹp đẽ. Màu vàng sẫm, đầu vuông, càng lớn, vế to,
chắc chắn nó là một cự tướng trong làng dế.
Vũ-tu-Văn nói:
- Dế này phải gọi là vô địch đại tướng quân.
Rồi Tu-Văn quay lại nói với Dương-Qua.
Nầy Dương huynh! Số dế của Dương huynh bắt được có con nào địch lại với
con nầy chăng. Nếu có, đem ra đấu một trận thư hùng cho biết sức.
Dương-Qua thấy Tu-Văn có vẻ khiêu khích, tỏ ý bất bình nhưng không nói
gì cả, lấy giỏ dế của mình ra, lựa một con lớn nhất, hùng dũng nhất thả
vào bồn đấu.
Con dế lớn màu vàng sẫm thấy bóng địch thủ liền gáy lên một tiếng,
giương hai càng múa râu lên trời trong dáng điệu rất dũng mãnh.
Qua một lúc, nó tung hai chiếc đùi đá lại vào con dế của Dương-Qua một
đòn làm cho con dế của Dương-Qua khiếp quá, quay đầu bỏ chạy.
Quách-Phù vỗ tay reo mừng với sự đắc thắng của con dế mình.
Dương-Qua bực tức, nói:
- Như thế dân đã thắng! Còn nhiều con dế khác nữa chứ!
Nói xong, Dương-Qua đưa ra một con dế khác thả vào bồn nhưng ba lần đều
bị thất bại. Lần nào dế của Dương-Qua cũng bị con dế màu sậm kia cắn đá
tơi bời sứt cánh, cong càng, bể bụng.
Dương-Qua bị chạm tự ái, nói lớn:
- Thôi, tôi chẳng thèm chơi dế nữa đâu.
Đoạn nó bỏ đi. Nhưng nó vừa bước được mấy bước. Tu-Văn lắng tai nghe
trong lùm cây có tiếng đổ rào, thanh âm nghe kỳ lạ. Vũ-đôn-Nhu vỗ tay
nói:
- Trong bụi nầy chắc còn có một con dế oai hùng không kém.
Rồi nó chạy đến phanh phui bụi cây để thu hồi, nhưng vừa vạch lùm cây,
nó bỗng kinh hãi la lớn nhảy ra đằng sau:
- Ôi chao! Con rắn!
Dương-Qua nghe là rắn liền nhảy đến thì quả nhiên đó là một con rắn độc,
thân mình điểm hoa mai có khoanh tròn dưới bụi cây, đầu ngóc cao và lưỡi
lè ra trông dáng điệu hung hăng lắm!
Như đã biết Dương-Qua vốn sống về nghề bắt rắn cho nên nó không hoảng
hốt như mấy đứa trẻ kia, bình tĩnh tiến sát vào một tay phe phẩy trước
đầu rắn, một tay đập dưới đất.
Con rắn hấp tấp mổ vào tay Dương-Qua chưa trúng đích thì đã bị bàn tay
kia của Dương-Qua tóm vào cổ quật xuống đất chết tươi.
Bọn trẻ khen tài Dương-Qua và đang xúm nhau nhìn xác con rắn thì bỗng
nghe có tiếng dế reo. Rồi một con dế nhỏ từ dưới xác con rắn bò ra, thân
mình nó xấu xí đến kỳ dị, màu đen như thân, đôi cánh chẳng có một đốm
hoa nào tô điểm.
Quách-Phù nhìn Dương-Qua cợt đùa nói:
- Kìa Dương huynh! Con dế của Dương huynh đó sao chẳng bắt.
Dương-Qua phật ý, song cũng đáp lời:
- Vâng! Thì tôi sửa soạn bắt nó đây.
Dứt lời, Dương-Qua cúi xuống bắt lấy con dế và thả vào chiếc bồn thủy
tinh của Quách-Phù:
Lạ thay, con dế lớn màu đỏ sậm, vừa trông thấy con dế đen liền nép mình
khiếp sợ. Dế đen tiến đến tới đâu là dế đỏ sậm thụt lui đến đó.
Đối với các con dế khác, dế lớn oai hùng, vểnh râu múa càng như thế mà
với con dế đen nhỏ nầy thì lại tỏ ra khiếp nhược chạy tròn theo hình bồn
thủy tinh.
Chưa đủ, để tỏ ra nhục nhã hơn nữa, con dế lớn muốn thoát ra ngoài bồn.
Nhưng đâu có được với con dế nhỏ. Nó búng mình nhảy theo cắn ngay vào
bụng, dùng hai càng bật mạnh. Chỉ một đòn thôi, con dế lớn đã vỡ bụng
chết ngay.
Thật ra cuộc đấu này không có gì kỳ lạ. Phàm loài dế có những loại sống
trong hang của các loài vật khác thường hay nhiễm lấy màu sắc và độc
tính của những loại đồng cư. Chẳng hạn như dế cùng sống với cóc người ta
gọi là dế cóc thì cánh có lốm đốm hoa: dế cùng sống với rắn thì gọi là
dế rắn. Dế này nhiễm độc, cắn vào vật nào thì vật ấy chết tươi. Nhưng
chỉ có giữa loài dế mới phân biệt được.
on dế Dương-Qua vừa bắt chính là loại dế rắn.
Quách-Phù thấy dế lớn chết, tỏ vẻ không vui, suy nghĩ một hồi rồi nói
với Dương-Qua:
- Anh cho em xin con dế "tiểu hắc quỉ" nầy nhé!
Tiểu hắc quỉ là Quách-Phù muốn ám chỉ con dế vừa nhỏ vừa đen nhưng độc
ác.
Dương-Qua được dịp kiêu hãnh đáp:
- Cô nương xin làm gì con vật xấu xí này! Sao cô nương lại nguyền rủa nó
là tiểu hắc quỉ?
Quách-Phù bị chạm tự ái bĩu môi nói:
- Không cho thì thôi! Coi bộ quí lắm đấy.
Dứt lời, Quách-Phù lật úp chiếc bồn xuống, trút con dế đen ra ngoài đất
rồi lấy chân chà nát.
Dương-Qua thấy thế nổi giận mặt đỏ phừng phừng, đưa tay tát vào con bé
một cái nên thân.
Bị cái tát bất ngờ, Quách-Phù xửng vững mặt mày. Cô ta đứng trân chưa
kịp suy xét xem có nên khóc hay nên không thì Vũ-tu-Văn đã tiến đến sừng
sộ:
- Đồ vũ phu! Sao lại đánh người ta.
Dứt lời Tu-Văn đấm vào bụng Dương-Qua một thôi.
Vũ-tu-Văn vốn được người mẹ cố công rèn luyện nên đánh rất đúng cách.
Dương-Qua bị đánh bất ngờ, đau quá đưa tay thoi lại. Nhưng Tu-Văn né kịp
sang bên rồi thuận để đánh tới.
Dương-Qua nhảy chồm lên, quyết cùng Tu-Văn một trận kịch chiến. Khốn
thay lúc đó Đôn-Nhu cũng chạy đến kịp đưa chân khoèo vào chân Dương-Qua
làm cho Dương-Qua té nhào dưới đất. Vũ-tu-Văn liền nhảy phóc vào người
Dương-Qua, gối lên bụng, hai đầu gối kẹp vào hông. Rồi hai anh em họ Vũ
thi nhau dùng cả bốn tay thoi Dương-Qua tới tấp.
Dương-Qua tuy lớn tuổi hơn anh em họ Vũ, song không thể một mình đương
cự cả hai. Phần thì võ nghệ Dương-Qua cũng chẳng luyện tập là bao lại ở
trong thế bị động nên không dư sức vận dụng nội công để chiụ những đòn
tán loạn đó.
Hai anh em họ Vũ thắng thế vừa cười vừa thói vào Dương-Qua bình bịch.
Nhưng tuyệt nhiên, chúng không dám động đến mặt mày sợ vợ chồng
Quách-Phù biết được thì khốn.
Quách-Phù thấy anh em họ Vũ đánh Dương-Qua ban đầu lấy làm đắc ý. Nhưng
sau thấy Dương-Qua đau đớn quá cũng động lòng và lo ngại.
Tuy nhiên, cô bé này rờ lên mặt cảm thấy dấu tay của Dương-Qua còn nóng
rát trên vừng má, tức giận nói với anh em Tu-Văn:
- Cứ đánh nữa đi! Đánh nữa đi!
Hai anh em họ Vũ nghe lời cổ võ của Quách-Phù lại càng hăng lên nữa,
ráng sức thoi thật mạnh vào người Dương-Qua.
Dương-Qua bị kẹt dưới sức nặng của Tu-Văn vê hai đầu gối đau đớn, không
thể nào vùng vẫy được, đành nằm im thiêm thiếp chịu đựng những quả đấm
liên hồi.
Đến lúc hắn nghe tiếng Quách-Phù cổ võ, bảo anh em Tu-Văn đánh nữa, hắn
lẩm bẩm:
- A! Con bé này độc ác thật. Rồi sau này mày sẽ biết tay tao.
Trong lúc đó hai anh em Vũ-tu-Văn thi nhau đánh vào người nó như đánh
vào một bị gạo. Dương-Qua quá đau đớn, co rút người lại, hai tay quờ
quạng dưới đất. Bỗng tay nó vướng phải một vật gì lạnh buốt. Thì ra đó
là xác con rắn chết lúc nãy.
Một ý kiến nảy nở trong óc, Dương-Qua nắm lấy đầu con rắn vung lên. Hai
anh em Vũ-tu-Văn thất kinh, ngỡ con rắn sống lại, vội bỏ Dương-Qua kéo
nhau chạy.
Thừa thế, Dương-Qua tung người dậy, đánh vào mũi Vũ-tu-Văn một đòn rất
hiểm độc, rồi bỏ chạy.
Vũ-tu-Văn bị trúng phải, máu mũi vọt ra lai láng. Hai anh em tức giận
băng mình đuổi theo Dương-Qua. Quách-Phù cũng hăng máu, chạy theo rất
gấp, miệng la lớn:
- Bắt nó cho được! Hãy bắt nó cho được!
Dương-Qua chạy một hồi quay đầu lại thấy Tu-Văn mặt mày quần áo đều
nhuộm máu. Biết rằng nếu anh em họ Vũ đuổi kịp ắt nó không thoát được
hiểm nghèo. Nó liền nhắm hướng về phía đồi núi chạy một mạch.
Vũ-tu-Văn tay bị đánh trúng mãi song thương tích không lấy gì làm nhục.
Nó chỉ tức giận Dương-Qua đã làm nhục nó trước mặt Quách-Phù mà thôi.
Thấy bị đuổi quá gấp, Dương-Qua liền leo lên đồi núi. Vốn quen sống với
đồi núi, Dương-Qua trèo núi rất nhanh. Chẳng mấy chốc nó leo lên tận
đỉnh.
ác hại thay, đỉnh núi ấy phía bên kia dốc đứng thẳng, nếu vượt qua sẽ bị
lăn nhào xuống nát thây.
Tình trạng ấy khiến Dương-Qua bối rối quay đầu nhìn anh em họ Vũ đang
lần mò đuổi đến.
Nó chỉ vào đỉnh núi la lớn:
- Nầy nầy! Nếu chúng mày tiến lên một bước nữa ta nhảy qua bên kia đấy!
Anh em Vũ-tu-Văn nhìn thấy dốc núi ghê sợ, hoang mang không biết có nên
đuổi theo nó nữa chăng.
Qua một hồi suy tính, Vũ-tu-Văn cương quyết nói lớn:
- Mày muốn nát xương thì nhảy qua đó. Chúng tao đâu thèm quan tâm đến
sinh mạng mày.
Dứt lời hai anh em họ Vũ ra sức đuổi nó.
Thấy không thể hăm dọa được anh em Tu-Văn. Dương-Qua phân vân không biết
xử trí cách nào, thì chợt nó trông thấy gần đấy có một tảng đá lắc lư
bên sườn núi tựa hồ như chỉ dựa vào một điểm tựa mong manh.
Dương-Qua chạy đến định núp mình vào tảng đá. Nhưng tay nó vừa mò tới
thì tảng đá bỗng sụt xuống lăn theo sườn núi phát ra những tiếng ầm ầm
như sấm, đất bụi tung lên mịt mù, trông rất khủng khiếp.
Tảng đá lăn xuống đúng vào chỗ anh em họ Vũ.
Vũ-tu-Văn và Vũ-đôn-Nhu hồn vía không còn, mặt mày xanh nhợt không còn
biết tránh đi đâu, chỉ chờ tảng đá lăn xuống nghiền nát mà thôi.
Trong lúc nguy hiểm, bỗng hai anh em Tu-Văn cảm thấy như mình bay lơ
lửng trên không và thoát dần ra khỏi đám bụi mờ.
Thì ra, hai con thần ưng chẳng biết từ đâu đến cứu đứa bé thoát cơn nguy
khốn. Hai con thần ưng đưa hai đứa bé thẳng ra bể khơi.
Hoàng-Dung đang ngồi trong nhà bỗng nghe một tiếng ầm kinh dị, rồi tiếp
đến tiếng kêu của thần ưng. Nàng đoán có việc chẳng lành, liền vụt chạy
ra ngoài, thấy cát bụi bay mịt trời ở nơi sườn núi. Lại thấy Quách-Phù
đang ẩn mình trong hốc đá. Nàng hốt hoảng chạy đến ôm chầm lấy con, đưa
ra khỏi chỗ hiểm nghèo.
Hai con thần ưng thấy Hoàng-Dung liền hạ xuống bỏ hai anh em họ Vũ trên
đất và thốt ra những tiếng kêu như muốn tường trình công việc vừa xảy ra.
Hoàng-Dung ôm lấy đứa con gái hỏi:
- Việc gì như thế?
Quách-Phù ngả đầu vào lòng mẹ, sụt sùi kể lại câu chuyện nào Dương-Qua
tát vào mặt nó, nào Dương-Qua thoi vào người Tu-Văn vọt máu, nào Dương-Qua
xô đá định giết anh em họ Vũ. Con bé đề cao việc anh em họ Vũ, bênh vực
nó, tuyệt nhiên không hề nói đến lỗi lầm của anh em họ Vũ đối với Dương-Qua.
Nghe kể, Hoàng-Dung sửng sốt không nói nên lời.
Bấy giờ Quách-Tỉnh cũng chạy đến xem thấy cơ sự trước mắt lấy làm kinh
ngạc, lo ngại vì sợ Dương-Qua trốn mất nên chạy đi tìm.
Quách-Tỉnh đi lùng một hồi lâu trong chân núi chẳng thấy bóng Dương-Qua
đâu, liền đưa tay lên miệng làm loa, rống lên một tiếng như sấm động.
- Dương-Qua ơi! Dương-Qua ơi!
Tiếng kêu dội ra hàng chục dặm, nhưng rồi dư âm cũng chìm đắm trong tĩnh
mịch của núi rừng, không có một lời hồi đáp.
Ngỡ là Dương-Qua có thể vượt biển bơi vào đất liền, nên Quách-Tỉnh dùng
thuyền bơi quanh đảo. Nhưng rồi cũng vô hiệu. Trời tối dần, màn đêm bao
phủ cảnh vật, Quách-Tỉnh phải trở về với một mối buồn man mác.
Nguyên lúc Dương-Qua vừa đụng vào tảng đá, tảng đá vừa lăn xuống thì nó
cũng mất thăng bằng rơi xuống một cái hốc lớn. Kế đó nó thấy đôi thần
ưng cắp anh em họ Vũ, rồi đến Hoàng-Dung xuất hiện, nó ái ngại trong
lòng, nghĩ rằng nếu nó trở về thế nào việc chẳng lành cũng xảy ra. Nó
liền tìm một khe đá kín đáo hơn lẩn trốn.
Bỗng nó nghe tiếng Quách-Tỉnh gọi, nhưng nó chẳng đáp lại, nép mình nằm
im thin thít đến nỗi dẫu Quách-Tỉnh có đến gần cũng không thể nào trông
thấy.
Rồi nó ngủ thiếp đi từ lúc nào không biết. Đến khi thức dậy, nó thấy bốn
bề quạnh vắng, màn đêm bao phủ mịt mùng, chỉ còn nghe tiếng côn trùng rỉ
rả trong canh khuya.
Nó cảm thấy bụng nó đói như cào, nó lần bước ra ngoài khe đá. Gió lạnh
lùa vào mặt, ánh sao vàng nhấp nhánh đầy nỗi cô đơn.
Nhìn xuống chân núi về phía trang trại, nó thấy ánh đèn còn leo lét qua
các khe cửa. Một vài bóng đen thấp thoáng trong sân, nó tưởng tượng đến
một khung cảnh ấm êm trong gia đình với Quách.
Vừa đói cơm vừa khát nước, vừa thèm thuồng cái cảnh đoàn viên, nó muốn
quay về sống chung với họ Quách, nhưng nó lại sợ. Hoàng-Dung, một con
người lanh lợi thông minh không có một điều gì có thể qua mắt được. Nó
trù trừ suy tính mãi. Nhưng rồi cuối cùng nó thích cảnh tự do, không
muốn đem vào người nó một ràng buộc nào.
Nó trở lại khe đá đánh một giấc ngon lành cho đến sáng.
Ngày hôm sau, nó vẫn nằm trong khe đá, không dám ló mặt ra ngoài, vì nó
biết Quách-Tỉnh thế nào cũng đang đi tìm kiếm.
Rồi đến lúc chiều tối, nó lại lần ra ngoài, nhìn cảnh tấp nập vui vẻ của
trang trại như muốn khêu gợi lòng khát khao của nó. Tuy nhiên, nó hình
dung nét mặt nghi ngờ của Hoàng-Dung và dáng điệu nham hiểm của
Quách-Phù, nhất định nó không trở về.
Sống trong tình trạng đó hai ngày thì người nó lả đi vì đói khát, nó
nhất định phải tìm phương sống. Nó liền trèo qua bên kia đỉnh núi mò đến
một con suối bắt nhái ở hai bên bờ cỏ đánh lửa nướng ăn.
Nhưng khi đánh lửa nó lại sợ vô tình chỉ nơi trú ẩn mình cho Quách-Tỉnh,
nên nó rất cẩn thận. Trước khi mẹ nó thường nói những lúc cần thiết phải
thổi lửa mà không muốn lên khói thì phải dùng những que củi thật khô,
bóc hết vỏ. Trường hợp nó xét thấy cần cẩn thận hơn, nó chỉ dùng hai lõm
cây khô để tránh khói.
Đang ăn mấy con nhái nướng ngon lanh, bỗng nó nghe bên sườn núi có tiếng
rắn kêu. Nó rón rén bước ra xem, thì ra một con rắn đang oanh hùng với
một con cóc. Con rắn hổ phóng cổ lên bằng nắm tay, đầu dựng đứng toan áp
đảo con cóc vàng.
Cóc ta lấm la lấm lét, chú mục nhìn theo đầu rắn, hai chân trước ghì
xuống đất, hai chân sau tọa lạc trong thế sẵn sàng tung bắn.
Bỗng con rắn hổ đâm vào thân cóc. Nhưng cóc không nao núng ngẩng cao đầu
lên để nghênh địch. Và khi rắn xông vào thì cóc đã phì một đám bọt trắng
làm cho rắn tối mặt mày. Rắn liền cuộn tròn thân hình trong thế thủ,
nhưng hình như độc cóc nơi bọt trắng bắt đầu thấm dần vào mồm mép của
rắn, nên rắn dần dần cảm thấy suy yếu, cuối cùng tự xét mình không đủ
sức đương cự, liền bỏ cóc lẩn tránh vào bụi cây.
Đắc thắng, cóc kêu lên mấy tiếng giống như là tiếng kêu của Tây-độc
Âu-dương-Phong lúc đánh thế võ "hàm mổ công" vậy. (Hàm mổ có nghĩa là
con cóc, con nhái).
Dương-Qua kinh ngạc, tự hỏi:
- Phải chăng Tây-độc Âu-dương-Phong đã quan sát lối tấn công kỳ dị của
loài cóc để sáng tạo ra thế võ "hàm mổ công".
Đang suy nghĩ, bỗng từ sườn đồi có tiếng gọi của Quách-Tỉnh, tiếng gọi
nghe thiết tha và cảm mến. Tuy nhiên, Dương-Qua tự nghĩ rằng Quách-Tỉnh
là người thù của nghĩa phụ nó, nếu nó trở về với Quách-Tỉnh không khỏi
bị đánh tan xương.
Nghĩ thế nó trở vào khe đá trốn. Nó vật mình nằm xuống phiến đá, bỗng nó
thấy từ bên ngoài, Âu-dương-Phong rón rén bước vào, vỗ nhẹ vào đầu nó,
nói:
- Cha trở lại tìm con! Từ nay không còn gì ngăn cách cha con ta nữa. Cha
tiếp tục dạy con võ nghệ để sau này lớn lên con sẽ là một hiệp sĩ vô
địch trong thiên hạ.
Nói xong, Âu-dương-Phong dựng nó đứng dậy, và hai cha con moi người thủ
thế trên phiến đá như hai võ sĩ đang hờm đấu với nhau.
Lạ thay, Dương-Qua nhận thấy lần này Âu-dương-Phong không có một lời chỉ
dẫn về mỗi động tác của chân tay, mà cứ nhìn nó với cặp mắt đầy sát khí
rồi liên hồi tấn công vào nó như đang tấn công một địch thủ chân chính.
Nó có cảm giác như nó đang đương đầu với một địch thủ và nó thầm bảo có
lẽ lần này nghĩa phụ nó đã áp dụng một phương pháp giáo dục thực tiễn
hơn chăng.
Bỗng lão già hô lên những tiếng "ngoạp, ngoạp" chấn động cả khe núi
khiến cho nó nhớ lại cuộc đấu hồi nãy giữa cóc và rắn.
Vì đãng trí nên thiếu đề phòng nó bị một quả chưởng thôi sơn của
Âu-dương-Phong đánh trúng làm cho nó bật ngửa trên phiến đá đau điếng cả
người. Nó lấy tay ôm mặt suýt xoa, nhưng vừa ôm mặt thì bỗng nó tỉnh
dậy, đưa mắt nhìn bốn phía, không thấy Âu-dương-Phong đâu cả. Nó mỉm
cười biết rằng nó vừa qua một giấc mộng.
Nó bước ra khỏi khe đá, leo xuống núi để tìm thức ăn thì bắt đầu từ
trong một lùm cây tiếng rống của Quách-Tỉnh vang lên:
Dương-Qua! Dương-Qua!
Nó bối rối định vụt chạy, nhưng không còn kịp nữa, chân nó lính quýnh
vấp vào một tảng đá ngã xuống và Quách-Tỉnh nhảy đến ôm chầm nó vào
mình.
Dương-Qua nhắm mắt lại, tưởng rằng Quách-Tỉnh sẽ nổi giận đánh cho nó
một trận nên thân.
Nhưng không, Quách-Tỉnh vẫn thiết tha, dịu giọng nói:
- Cháu Qua! Sao cháu dại dột muốn bỏ chú mà đi?
Lại thấy nó lả người đi vì đói, Quách-Tỉnh liền vác nó lên đem về trang
trại.
Mọi người thấy Dương-Qua trong tình trạng hôn mê liền ra công săn sóc,
nào thuốc men, nào hoa quả. Tuyệt nhiên không một ai đả động đến những
sự việc vừa qua.
Chẳng mấy bữa, Dương-Qua được bình phục sức lực như xưa.
Vào một bữa ngày lành tháng tốt. Quách-Tỉnh cho thiết lập hương án ở
sảnh đường, thỉnh bài vị của Lục-quái Giang-nam, mời sư phụ Kha-trấn-ác
đứng làm chủ lễ và tập họp cả gia đình lẫn gia nhân chứng kiến.
Quách-Tỉnh và Hoàng-Dung mỗi người trịnh trọng đứng vào hai bên bàn án,
còn bên trẻ Quách-Phù, Vũ-tu-Văn. Vũ-đôn-Nhu và Dương-Qua gọn gàng trong
bốn bộ y phục hiệp sĩ quỳ sát trước hương án Lục-quái Giang-Nam.
Giữa bầu không khí trang nghiêm của sảnh đường, tiếng chiêng trống nổi
lên vang dội. Mọi người im phăng phắc.
Chiêng trống vừa dứt, Quách-Tỉnh bước ra, hướng về bức di-họa của
Lục-quái bái mấy bái rồi thưa với Kha-trấn-ác:
- Thưa sư phụ, hôm nay con là Quách-Tỉnh, xin phép sư phụ được nhận bốn
trẻ môn đệ của võ phái Giang-Nam chúng ta. Tre già măng mọc là lẽ đương
nhiên của tạo hoá. Song trong vườn võ nghệ, măng non cần phải được uốn
nắn để lúc thành tre mới hữu dụng.
Đoạn, Quách-Tỉnh quay về phía bốn môn đệ nói:
- Quách-Phù, Vũ-tu-Văn, Vũ-đôn-Nhu, Dương-Qua, các con hãy bái lạy
di-họa của Lục-quái Giang-nam đi. Trước linh hồn của sáu vị anh hùng quá
cố, và trước sự chứng kiến của sư phụ ta, các con hãy thề trở nên những
môn đồ xứng đáng, và hãy xem nhau như ruột thịt.
Lời nói nghiêm trang, đầy thiện chí của Quách-Tỉnh vừa dứt thì bốn trẻ
cùng một lúc cung kính lạy trước hương án, rồi lần lượt xá Kha-trấn-ác,
Quách-Tỉnh rồi đến Hoàng-Dung.
Cuộc lễ xong, Quách-Phù níu áo mẹ nũng nịu:
- Lúc nãy trước bàn thờ vì trang nghiêm quá con không dám nói chứ bắt
con kết nghĩa với Dương-Qua con không bằng lòng đâu.
Hoàng-Dung đang suy nghĩ lời nói của con, chưa kịp trả lời thì
Quách-Tỉnh đã quắc mắt nói:
- Con không được tỏ ra bội ước như vậy! Phàm trong môn phái nhà ta, lời
thề là trọng. Tính mạng có thể mất chứ danh dự nhất định không thể để mờ
phai. Nhất là lời thề trước Thất-quái Giang-nam, sáu chết một còn, lại
càng quan trọng lắm. Ta nay còn phải trọng lời thề mà khắc cốt ghi lòng.
Đoạn hướng về mọi người, Quách-Tỉnh nói tiếp:
- Tính tôi, công phu vũ nghệ học hỏi cũng có thể gọi là khá nhiều, ngoài
căn bản do Thất hiệp truyền thụ, tôi đã từng thao luyện vũ pháp nội công
của phái đoàn Toàn-Chân và của Tâm-Đại-Tông Đông-Nam-Bắc. Nhưng để bắt
đầu, tôi xin truyền dạy cho môn đệ những ngón vỡ lòng mà Kha-sư-phụ đã
truyền giáo cho tôi.
Trong lúc Quách-Tỉnh nói, Hoàng Dung để ý vẻ mặt trầm ngâm của
Dương-Qua, và nhớ lại hành tung khả nghi của đứa bé nầy, bụng bảo dạ:
- Cha thằng bé nầy thực ra không phải ta giết, nhưng việc đó ngoài ta ra
có ai biết được. Ai cũng nghĩ rằng ta đã sát hại cha nó. Mà nếu mọi
người đều nói như vậy thì nó không thể nghĩ khác đi được. Nay Quách-Tỉnh
lại đem những bí quyết của môn phái mà truyền dạy tất sau này đi học.
Chi bằng...
Nghĩ đến đây, Hoàng-Dung liền nói với chồng:
- Anh ạ! Em nghĩ rằng một mình anh phụ giáo cho cả thì sẽ quá vất vả.
Xin anh giao Dương-Qua để em thay anh giáo dục.
Quách-Tỉnh chưa kịp đáp lời vợ, Kha-trấn-ác tán thành nói:
- Như vậy, rất phải! Thế thì hai con đua nhau dạy bảo để ta xem đồ đệ
nào mau tiến bộ hơn.
Quách-Tỉnh vẫn thường công nhận vợ thông minh lanh lợi hơn mình, nếu
Dương-Qua được vợ chỉ giáo thì thấy không trở ngại, liền nói:
- Tốt lắm! Em sẽ giúp anh trong việc đào tạo chúng nó.
Hoàng-Dung nói:
- Phàm trong nguyên tắc dạy dỗ điều cầu yếu là phải liên tục và duy
nhất. Vậy thiết tưởng chúng ta phải qui định một nhiệm vụ hẳn hoi. Người
nào phụ trách môn đồ nào phải chịu trách nhiệm môn đồ ấy. Anh không cần
lo cho Dương-Qua, ngược lại em cũng không cần để ý đến ba đứa trẻ kia.
Mỗi đứa bé có một khả năng, tâm trạng và hoàn cảnh đặc biệt. Thế thì
việc giáo dục không thể đem áp dụng một phương pháp giống nhau.
Quách-Tỉnh vô tâm, không hiểu được dụng ý của vợ, trả lời:
- Điều đó có gì mà phải phân trần.
Hoàng-Dung liền gọi Dương-Qua lại bảo:
- Qua nhi! Hãy theo ta vào đây.
Dương-Qua tuy còn nhỏ tuổi song đã có đủ thông minh để suy luận. Nó hiểu
phần nào dụng tâm của Hoàng-Dung song nó vẫn có ác cảm với ba đứa trẻ
kia, không muốn cùng chung tập luyện, nó hoan hỉ được một mình một
trường theo thọ giáo với Hoàng-Dung.
Hoàng-Dung bắt nó vào thư phòng, đặt nó ngồi trước một án thư, rồi lấy
ra mấy quyển sách cũ kỹ, giảng:
- Từ nay mặc dù theo cuộc lễ chính thức vừa qua, thân phụ của con là
Quách-Tỉnh, song ta được ủy thác để chăm sóc giáo dục con, con phải vâng
lời ta dạy bảo. Điều trước tiên con phải biết dưới sư phụ của con lại có
bảy sư phụ danh truyền là Thất-quái Giang-nam, Kha-Công là đại-sư, còn
nhị sư là Châu-Thông có văn tài đặc biệt. Vậy ta giảng cho con nghe
những tuyệt tài trong văn chương của Châu-Công.
Dứt lời, nàng giở quyển thư cổ ra đọc:
- Vở viết: học nhi thời tập chi, bất diệt diệt hồ? Thư bảng tự viễn
phương lai, bất diệt lạc hồ.
Đó là hai câu rút trong Luân ngữ.
Dương-Qua nghe đọc lấy làm kỳ quái, nó thầm bảo:
- Tại sao bảo nó thọ giáo vũ nghiệp mà lại đem mang văn chương ra giảng
dạy?
Tuy nhiên, nó chẳng dám nói gì cả cứ cắm đầu suy nghĩ.
Suốt mấy ngày liền, Hoàng-Dung cứ đem sách ra giảng tuyệt nhiên không đả
động gì đến võ nghệ, hết sách này đến sách khác.
Một hôm, sau buổi học, Dương Qua lững thững dạo gót ra ngoài. Cảnh trí
núi rừng trùng trùng điệp điệp, hồ rộng mênh mang nó chạnh lòng nhớ đến
nghĩa phụ, người độc nhất đã cứu vãn tâm hồn nó một mối cảm giác thân
yêu.
Để giải buồn, nó đảo thân qua lại, dùng hai tay cắm đầu xuống đất, chổng
chân ngược lên trời, bắt chước theo lối đi của Âu-dương-Phong thuở nọ.
Rồi nó ôn lại ngón võ "Hàm-mô Công" mà Âu-dương-Phong đã truyền dạy lỡ
dở từ dạo nào. Nó cũng chua chân, chong tay, cong mình, y hệt điệu bộ
của Tây-độc Âu-dương-Phong. Nó vận dụng các bắp thịt rồi cũng tung người
lên với những tiếng kêu "ngoạp, ngoạp".
Mồ hôi nó toát ra như tắm, và cảm thấy trong người thanh sảng, nhẹ
nhàng. Nó có cảm giác như đã tìm ra bí quyết của ngón võ đó.
Thế là ngay từ lúc hôm ấy, cứ mỗi chiều lúc mãn học, nó ra ven đồi, giữa
cảnh rừng nước bao la, ôn luyện võ nghệ, vừa bồi dưỡng thể chất vừa giải
thoát linh hồn.
Ngày tháng êm đềm trôi trên đảo Đào-hoa, Hoàng-Dung cứ một mực dạy cho
nó về kinh nghĩa. Hết Luận-ngữ đến Manh-tư rồi đến Trung-dung. Thằng bé
tỏ ra thông minh đáo để, nó nhớ làu làu bất kỳ kinh sách nào đã dạy.
Thật ra Hoàng-Dung vốn có thành kiến với văn nghiệp cho nên nàng quan
niệm rằng văn chương chẳng qua là món để đầu độc tư tưởng con người. Dẫu
có thông minh trí tuệ đến đâu cũng chẳng làm được điều gì gọi là anh
hùng trong thiên hạ.
Với quan niệm đó, Hoàng-Dung đem áp dụng để ngăn cản bước tiến về võ
nghệ của Dương-Qua. Khi dạy đến Tứ-thư. Ngũ kinh, Hoàng Dung đã sửa soạn
cho thằng bé một tương lai nhìn vũ trụ qua những câu "Tứ viết".
Tuy nhiên, với sức thông minh của nó, Hoàng Dung cũng đã nhiều lần kinh
ngạc, tự bảo:
- Nếu trau dồi nó trong vũ nghiệp, thằng bé sau này hẳn trở nên bậc phi
thường.
Còn Dương-Qua, lại có quan niệm khác. Nó bất chấp phân biệt quan niệm
văn chương hay vũ thuật, nó chỉ ước lượng việc cần thiết đối với nó là
phải đối phó với Hoàng-Dung. Nó nghĩ ngợi phương pháp giáo dục của
Hoàng-Dung và lúc nào nó cũng cho Hoàng-Dung đối xử với nó đầy ác ý.
Nó hoài tưởng đến Âu-dương-Phong, một người thân nhất trên đời mà nó còn
tin tưởng được.
Vậy để đối phó với pháp thuật Hoàng-Dung nó nghĩ một cách đơn giản là
chỉ việc dùng pháp thuật của Âu-dương-Phong là có thể chống đối nổi.
Nó không hiểu rằng trong giới hảo hán đương thời môn phái của
Âu-dương-Phong cũng như môn phái của Bạch đà Sơn không được xem là chính
thống. Những lối phi hành lộn ngược những thế võ Hàm mô công chẳng qua
là những tà thuật mà hiệp sĩ chính thống ai cũng xem như trái với võ
đạo.
Một chiều, sau khi xem xong quyển Tả truyện, Dương-Qua rời khỏi thư
phòng, rảo bước về phía ven biển với ý nghĩ mong ước được thoát ly khỏi
hải đảo. Nó nhìn đàn hạc trắng bay bổng lên cao, thèm thuồng mọi cái tự
do trong cuộc sống. Nó mới được có đôi cánh như con chim hạc để bay đi
tìm nghĩa phụ.
Bỗng đằng sau nó có những tiếng hô và những tiếng thở. Nó nấp sau mỏm đá
nhìn qua kẽ lá, thấy Quách-Tỉnh đang kiên nhẫn dạy hai anh em họ Vũ một
miếng võ gia truyền.
Thật ra, quan sát kỹ lối biểu diễn của Quách-Tỉnh thì miếng võ này tuy
lợi hại nhưng không đến nỗi học tập khó khăn lắm. Thế mà hai anh em họ
Vũ tập đi, tập lại năm lần bảy lượt vẫn chưa đạt được ý muốn của
Quách-Tỉnh.
Dương-Qua than:
- Nếu sư phụ trực tiếp dạy mình như thế thì mình đã tiến bộ biết bao.
Hai đứa bé ngu xuẩn nầy tại sao lại may mắn gặp được vũ sư lỗi lạc dường
ấy.
Nó tiếc cho nó! Nó tiếc không được trực tiếp thọ giáo với Quách-Tỉnh.
Nhưng một ý nghĩ bỗng đột xuất:
- Vì sao mình lại không học lén? Nếu trong trường văn chương đã có kẻ
học lén mà trở nên thánh hiền thì trong võ thuật mình lại không thể học
lén để thành hiệp sĩ sao?
Nghĩ như thế, nó rời khỏi nơi ẩn núp, cởi trần ngay ra và biểu diễn lại
ngón võ của Quách Tỉnh đã dạy cho hai anh em họ Vũ.
Rồi từ đấy mỗi chiều, sau khi rời khỏi thư phòng nó lại bôn ba đến nơi
ven rừng để học lén.
Một hôm, nó ham tập luyện nhiều quá nên trong người mỏi mệt nó nằm trên
một phiến đá cheo leo nơi bãi biển, ngủ thiếp đi lúc nào không hay biết.
Bỗng có tiếng sắt chan chát từ mé biển vọng lên làm nó giật mình tỉnh
giấc. Nó nhìn nơi phát ra tiếng động thì thấy có một chiếc thuyền vừa
cập bến, đang thả neo.
Bấy giờ trời đang tối mịt, nó phải vận dụng nhỡn quang mới trông thấy
hai người ăn mặc rất gọn ghẽ, mắt đăm đăm quan sát tứ phía rồi nhảy lên
bờ. Cả hai bò sát trên mặt đất, hướng về trang trại.
Dương-Qua cho đó là hai tên đạo tặc, lấy làm tội nghiệp cho chúng đã dại
dột dấn thân vào tử địa.
Thật vậy, Đào-hoa đảo là một sào huyệt hiểm trở mà không có kẻ nào có
thể lọt vào nếu không có người hướng dẫn. Nó thở dài, tiếc cho hai mạng
người sắp rơi vào tay Hoàng-Dung.
Nó lại nhìn sang phía khác và ngạc nhiên nhận thấy dưới gốc cây thúy
liễu có bóng một thiếu nữ vận y phục màu trắng đang đảo thân di động.
Thiếu nữ ấy dùng tay dí ngược đầu xuống đất. Thì ra đó là cô bé
Quách-Phù. Có lẽ nó trộm thấy Dương-Qua tập luyện nên cố tình bắt chước
chăng?
Hai tên lạ mặt bò dần tới. Và trong lúc Quách-Phù đang chú tâm lo giữ
thăng bằng cho thân hình đảo ngược, hai tên kia bất thình lình áp đến
Quách-Phù trói gô lại, đứa bịt mồm đứa nắm tay lôi xuống mé biển.
Dương-Qua sửng sốt, chưa biết phải nên hành động thế nào cho có hiệu
quả. Nó chờ xem hai tên lạ mặt kia có những hành động gì.
Hai tên lạ mặt đặt Quách-Phù trong một lùm cây, trói gô chân tay nó lại,
lấy áo nhét mồm, rồi tiếp tục hướng về phía trang trại. Chúng tiến rất
nhanh và tỏ vẻ thông thạo như những người đã từng lui tới vậy.
Tuy nhiên, chốc chốc chúng dừng lại, tụm dần vào nhau để bàn bạc những
gì không rõ.
Dương-Qua tự nghĩ:
- Nếu kêu cứu chắc gì Quách-Tỉnh đã ra kịp, trong lúc đó chúng có thể
thủ tiêu mất con bé Quách-Phù thì còn gì.
Trong lúc suy tính nó nhìn con thuyền, nhìn mặt biển, với ý nghĩ thoát
ly đột phát trong óc nó. Có lẽ đây là cơ hội ngàn năm một thuở giúp cho
nó thoát thân.
Thế là nó bỏ hẳn ý định phát giác hai tên lạ mặt. Nó chạy xuống biển với
ý định lấy trộm chiếc thuyền để vượt biển ra khơi, vào đất liền.
Nhưng lúc nó chạy gần đến chiếc thuyền thì bỗng trong khoang thuyền có
tiếng lách tách. Rồi cửa khoang mở một người nhảy lên bờ...
Nó nép mình quan sát sự thể. Hai tên lạ mặt lúc này trở lại, đứa đi
trước dáo dáo xem chừng, đưa đi sau vác Quách-Phù lên vai lểnh mểnh dò
từng bước một.
Nhưng lạ thay! Nó lại trông thấy một đứa thứ ba! mà đứa thứ ba nầy chắc
chắn không phải là đồng bọn, vì nó đang nép mình ẩn núp để quan sát như
Dương-Qua, đặc biệt hơn nữa đôi mắt nó chăm chăm gờm vào hai kẻ lạ mặt.
Đợi cho người lạ mặt thứ nhất tiến đến gần, người thứ ba nhảy chồm ra,
đưa tay thoi vào hông rất mạnh. Người lạ thứ nhất ngất xỉu xuống bãi cát
không kịp la lên một tiếng và tên đi sau vác Quách-Phù cũng không kịp
trông thấy nữa.
Người lạ mặt thứ hai đem Quách-Phù đặt vào khoang thuyền xong, không
thấy bạn đồng hành đâu, lấy làm lạ lên tiếng hỏi:
- Kìa lão đại! Lão đại còn làm gì nữa mà chưa vào thuyền.
Tên sát nhân vừa rồi vẫn núp bên cạnh Dương-Qua giả giọng khàn khàn đáp:
- Thật kỳ quái! Thật kỳ quái!
Tên lạ mặt thứ hai ngạc nhiên bỏ Quách-Phù dưới thuyền lên khoang thuyền
nhảy nhanh về phía có tiếng nói.
Thừa dịp đó, Dương-Qua nép mình bò ra phía mé biển, lao lên khoang
thuyền, nấp vào bên kia ẩn thân.
Từ chỗ núp Dương-Qua lắng tai nghe những tiếng thình thịch. Nó đoán chắc
rằng tên sát nhân ban nãy đã hạ thủ luôn người lạ mặt thứ hai nữa rồi.
Thật vậy, chỉ chốc lát một người co chân nhảy vào thuyền. Người đó là
Dương-Qua nhận đúng là người đã núp bên nó và đã sát hại người lạ mặt đi
đầu lúc nãy.
Tuy nhiên, bây giờ người ấy mặt mày lấm tấm máu, quần áo tả tơi, dáng
điệu trông dễ sợ làm sao!
Dương-Qua liền vận dụng thế võ Hàm-mô-công, thân hình cong rúm, chân tay
co quắp, miệng kêu lên mấy tiếng "ngoạp! ngoạp" rồi tung người đâm bổ
vào bụng tên sát nhân.
Bất ngờ bị trúng phải một thế võ sức nặng ngàn cân, tên sát nhân văng
bổng người lên, rơi xuống biển.
Dương-Qua thở khì một tiếng nó không ngờ thế võ nó rèn luyện lâu nay lại
đưa đến một kết quả khả quan như vậy.
Chưa kịp mừng, Dương-Qua đã nghe tiếng Quách-Tỉnh bất thần hỏi.
- Qua nhi! Con học thế vó Hàm-mô-công ở đâu thế? Có phải Âu-dương-Phong
đã truyền dạy cho con chăng? Lão ta bây giờ ở đâu.
Dương-Qua ngẩng đầu lên thấy Quách-Tỉnh và Hoàng-Dung đồng nhảy xuống
thuyền cùng một lúc.
Rồi không đợi nó trả lời, Quách-Tỉnh nhảy vội xuống nước vời lên sát
nhân lên, rồi la lớn:
- Em Dung ơi! Đây là bạn của ta mà!
Tên sát nhân miệng trào máu, vừa tức giận nắm lấy Dương-Qua hét lên:
- Tại thằng ranh con nầy sanh chuyện.
Bàn tay Hoàng-Dung nắm vào như xé thịt. Dương-Qua cảm thấy đau nhói cả
người, nhưng nó nhất định cắn răng chịu đau không rên rỉ.
Quách-Tỉnh đến bãi cát nhìn mặt hai xác chết thấy trong túi áo một tên
có bản đồ Đào-hoa đảo liền kêu Hoàng-Dung, nói:
- Em Dung, hãy đến xem cái nầy!
Lúc đó Hoàng Dung mới thả Dương-Qua ra, nhảy đến bên Quách-Tỉnh cùng xem
bản họa đồ.
Hai vợ chồng bàn luận trông có vẻ quan trọng lắm. Một hồi lâu,
Kha-trấn-ác đến. Cả ba cùng tiếp tục thảo luận.
Khi mọi người như đã thảo luận xong, cùng nhau về phía Dương-Qua, làm
cho Dương-Qua có cảm giác bối rối lạ lùng. Nó đưa tay chỉ vào khoang
thuyền nói:
- Thưa sư phụ, Quách-Phù đang bị chúng nó trói bỏ nơi đây.
Mọi người xúm lại cởi trói cho Quách-Phù và thấy Quách-Phù không bị
thương tích gì nên rất hoan hỉ.
Trên đường về, Quách-Tỉnh bảo Dương-Qua:
- Này Qua nhé! Con không thể ở yên trên đảo này được. Ta phải đưa con
đến Trùng-Dương-cung ở Chung-Nam-Sơn để tìm giáo chủ của phái Toàn-Chân
mà xin thọ giáo võ nghệ mới được.
Dương-Qua nghe nói biết đó là kết quả cuộc bàn bạc quan trọng của vợ
chồng Quách-Tỉnh vừa rồi. Nó im lìm nghe theo chẳng dám thưa hỏi gì cả.
|
|