Tại phương
Đông, triết học hoàn toàn không phải là những khái niệm xa lạ với cuộc sống,
nó không tự đóng khung trong những tháp ngà để mọi người phải "kính
nhi viễn chi" (1) mà trái lại nó hòa nhập vào tận từng hơi thở của cuộc
sống thường ngày. Người phương Tây thường nói: Ắn trước rồi mới triết lí sau,
người phương Đông cho rằng trong công việc ăn uống, sinh họat đời thường tự nó
đã mang tính triết lí rồi. Trong lịch sử phát triển văn hóa phương Đông, đã có
nhiều giai đoạn người ta khó lòng chứng kiến được sự nở rộ đến kì diệu của các
trào lưu trà đạo, hoa đạo, kiếm đạo, hội họa thi ca ... nếu như chúng không
được gợi hứng trực tiếp ít nhiều từ Lão giáo và Phật giáo Thiền tông. Thế
nhưng hoa đạo, trà đạo hay hội họa ... dẫu cao diệu đến đâu chăng nữa cũng chỉ
là sự biểu hiện của tâm dưới ánh sáng của các tâm hồn giác ngộ; chỉ trong Kiếm
đạo, sinh mệnh mới thực sự treo lơ lửng trên đường tơ kẻ tóc. Vấn đề sinh tử
không còn được nêu lên để trầm tư suy tưởng như một công án nữa, mà biên giới
giữa tử và sinh giờ đây có khi chỉ cách nhau trong một
sát na(2). Từ đó triết học cũng hóa thân vào các kiếm pháp thượng thừa.
Kim Dung
là một trong những người đầu tiên bước ra khỏi con đường sáo mòn của tiểu
thuyết kiếm hiệp cổ điển, vốn mang nặng phong cách của loại tiểu thuyết chương
hồi về hình thức lẫn mô-típ sáng tạo, trong đó các nhân vật chính diện lẫn
phản diện thường na ná theo một khuôn khổ ước lệ như nhau. Kim Dung là người
tiền phong trong việc soi sáng các tư tưởng triết học truyền thống phương Đông
dưới một khía cạnh hòan tòan mới lạ: võ thuật.
Ngay từ các tác phẩm đầu tiên như Thư kiếm ân cừu lục
cho đến Ỷ thiên Đồ long kí,
Hiệp khách hành, Tiếu ngạo giang hồ , Kim Dung
đã không ngừng nổ lực triển khai tư tưởng này. Thế nhưng trong các tác phẩm đó,
nhất là trong Thư kiếm ân cừu lục, ông đã quá
chú trọng đến lí luận nên tư tưởng được triển khai hơi nặng nề. Ngòi bút nhà
tư tưởng truyền thống đã lấn át phong cách hào hoa của nhà nghệ sĩ, người đọc
có cảm tưởng đang nghe giảng đạo. Chỉ đến
Tiếu ngạo giang hồ, thì tư tưởng đó mới thực sự
được khai mở một cách phiêu bồng bằng đường kiếm vô chiêu của gã tửu đồ Lệnh
Hồ Xung.
Kim Dung
đã triển khai những nếp gấp ẩn mật trong tư tưởng phương Đông qua phong cách
riêng biệt của tiểu thuyết võ hiệp. Theo truyền thống phương Đông, phàm những
gì có thành thì phải có hoại (3), bởi vì vạn vật đều
được cấu tạo từ chỗ bất toàn của nó (4). Do đó, mọi chiêu kiếm dù cao
thâm đén đâu, hễ đã thành chiêu thức thì ắt phải có chỗ sơ hở để địch nhân
phản kích. "Nếu ta đánh không theo chiêu thức nào cả
thì địch nhân phá vào đâu ? ". Câu hỏi đơn giản của Phong Thanh Dương
như một tiếng hét của Lâm Tế, như cây gậy của Đức Sơn (5) khai ngộ ngay cho
anh chàng lãng tử Lệnh Hồ Xung. Từ bước ngoặt đó, y đã đánh bại ngay Điền Bá
Quang , người mà chỉ vài giờ trước đó đã đánh cho y thua liểng xiểng.
Từ chỗ
được khai tâm điểm nhãn, đường kiếm vô chiêu tuyệt diệu của Độc Cô Cầu Bại cứ
theo gã tửu đồ Lệnh Hồ Xung phiêu bồng khắp giang hồ, mà không hề bại trận.
Ngay dưới chân núi Võ Đương, khi vô tình so gươm với tay đệ nhất kiếm thuật
đương thời là Xung Hư đạo trưởng -chưởng môn phái Võ Đương-, lúc bị khốn trong
những vòng kiếm quang liên miên bất tận, Lệnh Hồ Xung vẫn nhớ đến nguyên lí "có
thành phải có họai", nên đã đánh ngay vào làn kiếm quang dày đặc và đã
thủ thắng bằng một chiêu tối hậu. Một lần nữa tư tưởng Vô thắng Hữu lại được
khẳng định qua đường kiếm thượng thừa. Ở đây ta thấy thấp thóang tư tưởng "Vô
danh thiên địa chi thủy" (6) của Đạo đức kinh.
Kiếm pháp
vô chiêu của Độc Cô Cầu Bại vốn không có khuôn khổ nhất định, nó cứ linh động
tùy cảm mà ứng, nên nó có thể thâu hóa tất cả kíếm pháp trong thiên hạ vào một
mối để biến thành kiếm pháp của chính nó, thế thì thử hỏi có kiếm pháp nào
trong đời địch lại nỗi ? Ngày xưa khi Độc Cô Cầu Bại hành hiệp, ông chỉ ước
được bại trận một lần mà không được ! Kiếm pháp đó sẽ cực kì phức tạp, khó
hiểu đối với những kẻ uyên bác đầy ắp kiến thức, nhưng lại dễ dàng tiếp cận
với những trái tim thuần phác hồn nhiên, không câu nệ cố chấp, những đầu óc
không mang sẵn những định kiến cứng nhắc, những tâm hồn đã đạt mức "hư
kì tâm" (giữ lòng trống rỗng) của Lão Tử. Kiếm pháp vô chiêu cũng là
một bức tranh minh họa sinh động về tư tưởng "Nhất dĩ
quán chi" (7) của Khổng Tử.
Một số
người không quen nếp suy tư phương Đông sẽ cho rằng nếu như thế thì hóa ra kẻ
không biết gì về võ công, đánh không theo một chiêu thức qui củ nào, lại hơn
cả những tay cao thủ ! Đây là một kiểu ngộ nhận khá phổ biến. Vô ở đây không
phải là không biết gì theo suy tư thông thường mà là cái Vô đã vượt trên cái
Hữu. Vô được ví như cái hang rỗng chứa được tất cả nhưng vẫn trống không.
Trong truyền thống Phật giáo Tiểu thừa, người đạt quả vị tối cao là
A la hán còn được gọi là bậc "Vô
học". Từ "Vô" trong "vô chiêu" nên được hiểu theo nghiã đó, hoặc hiểu
theo nghĩa tính Không (sunyata) trong hệ thống
tư tưởng Bát Nhã Phật giáo.
Triết học
Đông phương, đặc biệt là Phật giáo, vẫn thường tỏ ra dè dặt với sự lãnh hội
của lí trí. Người ta không tin rằng lí trí có thể thấu hiểu được mọi vấn đề
bằng khả năng, phân tich tổng hợp của nó. Chưa bao giờ, trong tác phẩm Kim
Dung, kẻ uyên bác khổ luyện lại là người đạt đến trình độ tối cao trong võ học.
Hình ảnh những đại cao thủ như Tô Tinh Hà, Cưu Ma Trí, Tiêu Viễn Sơn, Mộ Dung
Bác ... là những biểu tượng thất bại của tham vọng bách khoa, của lí trí trước
thềm võ học. Bởi vì sự tích lũy không thâu hóa sáng tạo chỉ đưa đến tổng số
thay vì tổng hòa. Họ chỉ "đăng đường" chứ không
thể nào "nhập thất" (8). Chỗ tận diệu của võ
thuật vẫn như một huyền án lơ lững thách đố trí thông minh của con người. Càng
thông minh, càng tích chứa kiến thức mà không có được một đầu mối nhất dĩ quán
thấu suốt tất cả, để dung hòa thành một mối thì dễ dàng rơi vào trạng thái "tẩu
hỏa nhập ma" (9) tinh thần. Trái lại, những tâm hồn thuần phác và tĩnh
lặng như vị sư vô danh quét rác trong Tàng kinh các chùa Thiếu Lâm mới đạt đến
chỗ tận diệu đó. Đó là những triết gia phương Đông chân chính và vô danh đang
hiển thị chữ đạo trong võ thuật, giữa các công việc bình nhật thường ngày.
Trong Hiệp khách hành , tất cả đại cao thủ đệ
nhất đương thời đều điên đầu không thể lĩnh hội nổi võ công đề trên bức vách
tại Long Mộc đảo, kể cả Long Mộc đảo chủ, hai nhân vật mà võ công đã đi vào
huyền thọai, ấy thế mà gã ăn xin đôn hậu Thạch Phá Thiên vốn dốt đặc cán mai
lại thấu trịệt hoàn toàn. Ở đây, dường như Kim Dung muốn nhắc ta nhớ lại hình
ảnh thiền sư Huệ Năng, Tổ thứ sáu của lịch sử Thiền tông Trung Quốc, người đốn
củi không học hành lại được sư phụ truyền y bát để kế tiếp tông phái thay vì
truyền cho Thần Tú, là một vị cao tăng uyên bác (10) . Cái diệu lí của võ
thuật, của đạo đã vuợt quá ngôn ngữ văn tự mà đi thẳng vào tâm hồn những ngưòi
đồng điệu theo lẽ "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương
cầu" (Kinh Dịch, quẻ Kiền)
Theo kinh
Dịch, tất cả thiên sai vạn biệt trong vũ trụ này đều phát sinh từ cái một đơn
nhất : đó là Thái cực (11). Cho nên đỉnh cao của
võ thuật cũng tiến dần đến chỗ đơn nhất. Trên con đường trở về nguồn cội, tức
là quay về cái lẽ đơn nhất đó, trong truyền thống phương Đông, tự thân võ học
mất đi những cái rườm rà. Những chi tiết tan biến đi và chỉ còn lại nguyên lí
"Vạn vật qui ư nhất" . Tất cả vạn sự đều quay về
cái một. Rồi chính cái Một đó tự nó cũng tiêu
dung lặng lẽ, hòa nhập với Tâm. Trong Ỷ thiên Đồ long
kí, khi Trương Tam Phong dạy Thái cực kiếm pháp
cho Trương Vô Kị, mỗi lần tập luyện là Vô Kị quên đi một nửa, đến lúc quên cả
mới thực sự tựu thành. Kiếm pháp lúc đó đã hợp nhất với thân tâm, kiếm chiêu
thu hay phát đều theo tâm niệm như nước chảy mây bay, không bị ngăn ngại. Từ
cái Một đó mà biến hoá ra thiên sai vạn biệt .
Cái Một đó là cái nền cho mọi thay đổi, nó trở thành cái trục giúp cho mọi
biến dịch xoay quay đó theo đủ thể cách mà vẫn không bị rơi vào sự hỗn độn (Chaos).
Lão Tử bảo :
Thiên đắc nhất dĩ thanh
Địa đắc nhất dĩ ninh
Thần đắc nhất dĩ linh
...............................
Thiên vô
dĩ thanh tương khủng liệt
Địa vô dĩ ninh tương khủng phế
Thần vô dĩ linh tương khủng hiệt (12)
Triết
học cổ đại phương Đông vốn từ lâu đã bị vây khổn trong màng lưới lí luận của
triết học phương Tây, nên những thiên tài như Kim Dung phải khai phá một thông
lộ khác để đưa người đọc tiếp cận với nguồn suối uyên nguyên đó. Đọc tiểu
thuyết Kim Dung, qua lăng kính triết học phương Đông, ta sẽ còn khám phá ra
nhiều điều thú vị khác. Không chỉ có võ thuật, mà rải rác trong tác phẩm ông,
ta còn gặp nhiều trang tuyệt bút bàn về trà, về hoa, về hội họa, về thơ ca ,
về cờ .... tái hiện các tư tưởng trong triết học phương Đông một cách cực kì
sinh động. Không lí luận nhiều, chỉ cảm nhận mà thôi. Những câu nói của các
bậc hiền triết xưa vốn đã bị ngộ giải qua các cuốn sách khảo cứu, giờ đây
nhiều khi tái hiện lại chân dung nguyên thủy dưới một làn ánh sáng lung linh
khác.
Nếu như
Lão Tử học kiếm, ngài sẽ viết lại Đạo đức kinh,
thay vì nói :
Vi học
nhật ích, vi đạo nhật tổn
Tổn nhi hựu tổn, dĩ chí ư vô vi
(13)
mà sẽ
nói rằng :
Vi
học nhật ích, vi kiếm nhật tổn
Tổn
nhi hựu tổn, dĩ chí ư vô chiêu
Chú thích:
(1) Kính
sợ mà xa lánh ( Luận ngữ- Ung giả VI)
(2) Một
khái niêm thời gian cực ngắn theo triết học Phật giáo
(3) Nam
hoa kinh, Tề Vật luận
(4) Thơ Lí
Hạ " Nữ Oa luyện thạch bổ thiên xứ, Thạch phá thiên
kinh đậu thu vũ" (Nơi bà Nữ Oa luyện dá vá trời,
đá vỡ trời rung, mưa thu ngưng đọng)
(5) Hai
thiền sư đời Đường chuyên khai ngộ đệ tử bằng cách hét và đánh gậy thay cho
những bài thuyết pháp
(6)
Vô là tên gọi khởi thủy của trời đất ( Đạo đức
kinh , chương I) (Cách dịch của tôi có khác với một vài sách dịch khác, thuờng
dịch câu này là : Vô danh là gốc của trờ đất)
(7) Dùng
lẽ một để thấu suốt tất cả
(8) Khổng
tử chia môn đồ của mình thành hai hạng : hạng đăng đường chỉ hiểu được lớp bên
ngoài của đạo, còn hạng nhập thất mới hiếu thấu được phần tinh hoa cốt tủy bên
trong
(9) Thuật
ngữ dùng để chỉ những người luyện võ công sai lầm đưa đến trạng thái tê liệt
tòan thân. Thật ra khái niệm này trong võ thuật Trung Quốc cũng lấy từ Hatha -
Yoga Ần Độ?
(10) Theo
Pháp Bảo Đàn Kinh
(11)
Kinh Dịch : Dịch hữu Thái cực, Thái cực sinh Lưỡng nghi.
Lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái (Dịch có Thái cực, Thái cực
sinh ra hai nghi ( hai nguyên lí Ấm dương), hai nghi sinh tứ tượng , tứ tượng
sinh tám quẻ ( Hệ từ thượng)
(12)
Trời dùng Thanh (trong) để được lẽ Một, Đất dùng Ninh (Yên ổn) để được lẽ Một,
Thần dùng Linh (linh thiêng) để được lẽ Một.... Trời không trong sẽ bị vỡ. Đất
không yên sẽ bị lỡ, Thần không linh sẽ bị tán (Đạo đức kinh, chương
XXXIX)
(13)
Theo học thì ngày càng được thêm, theo đạo thì ngày càng bớt, bớt rồi lại bớt,
cho đến mức vô vi (Đạo đức kinh, chương XLXIII)