|
Bông hải Đường
(Trần thị Diệu tâm)
Những hôm trong nhà trời nóng quá,
Trâm thường đem sách vở ra vườn ngồi học. Nơi ấy
có cây Hải Đường rợp bóng mát trên đầu. Thỉnh
thoảng Trâm thấy có bóng người con trai ở phía bên
kia.
Một hôm có Hòa, gọi bà Phán, Mẹ
Trâm bằng dì đang học bên trường Quốc Học đến
chơi. Anh nói chuyện:
_Trâm ơi, anh có người bạn học mới
ở Hậu Phương về. Nhà ở sau vườn Trâm đó. Vậy là
tiện cho anh, đến đây anh có thể ghé thăm anh ta
luôn.
Lâu lâu, anh Hòa đến, lại kể chuyện
người con trai bên kia vườn.
_Trâm biết không, Nghị học giỏi
lắm, có nhiều tài, làm trưởng lớp anh đó.
Trâm ngạc nhiên:
_Nhà anh ấy nghèo thế mà học giỏi
à.
Anh Hòa chỉnh ngay:
_Bộ Trâm tưởng chỉ có người giàu
mới học giỏi thôi sao.
Cho đến năm đệ tứ, cuối năm phải
thi trung học đệ nhất cấp. Trâm nhờ anh Hòa dạy
thêm toán cho Trâm và mấy đứa bạn cùng lớp. Anh
Hòa giới thiệu Nghị; Thế là mổi tuần Nghị qua nhà
Trâm dạy hai buổi. Cuối năm thi đậu, Trâm bắt đầu
thấy thương thương anh Nghị. Và nhửng buổi đạp xe
đạp đi chơi xa với Nghị, không còn có anh Hòa nữa.
Trong nhà bà Phán biết, thỉnh
thoảng bà có nói ra nói vô với con gái. Rồi năm
ấy, Nghị thi xong tú tài 2, vô Sài Gòn học Đại
Học. Trước khi đi, Nghị và Mẹ anh ghé qua nhà
Trâm, cám ơn bà Phán có lòng tốt đã cho anh dạy
tại nhà.
Khi khách về rồi, bà Phán nói với
Trâm:
_Nghị nó cũng chịu khó. Nhưng tiếc
là con nhà dân giả, lại không có đạo. Gia đình
mình, nội ngoại mấy đời làm Thuợng Thư. Dầu sao
giấy rách cũng phải giử lấy lề.
Thấy Mẹ tỏ ý chê bai, Trâm buồn,
nhưng không dám biểu lộ một lời phân dải. Từ hôm
có Mẹ Nghị đến thăm, Nghị không đến nhà lần nào
nửa, chỉ nghe anh Hòa cho biết ngày đi của Nghị vô
Sài Gòn.
Trâm cắm cúi thêu sáu cái khăn tay
bằng vải phin nỏn trắng, viền những đường "jour"
chăm chút mà Trâm đả học của một Soeur người Pháp
thời còn ở J.D. Nơi góc chéo khăn, Trâm thêu chử N
thật đẹp bằng chỉ trắng DMC. Mấy hôm sau Trâm qua
nhà Nghị đưa gói quà, nhưng Nghị đi đâu vắng. Trâm
nhờ Mẹ anh giao lại. Sau khi Hòa đưa Nghị xuống
Phi Trường Phú Bài về, ghé nhà Trâm nói:
_Nghị không đến chào, anh ta cũng
khổ tâm lắm, nhưng chẳng thà thế còn hơn.
Trâm xót xa, xa nhau không một lời
chào , không một lời hứa hẹn.
Thành Phố Huế càng quạnh hiu, Trâm
tiếp tục nhửng ngày lặng lẻ học hành, trong lòng
cũng còn hy vọng, dù xa xôi chăng mấy Nghị vẩn nhớ
đến mình.
Nhưng rồi một năm, hai năm, ba
năm.....không thấy Nghị về thăm nhà. Dù là Tết, dù
là hè. Một lá thư cho Trâm cũng không. Rồi nhà
Nghị có người khác dọn đến ở.
Chắc hẳn Nghị đã quên. Có những
buổi chiều, Trâm đem vở ra vuờn học,tưởng chừng
như Nghị còn đâu đó bên kia, đang nhìn sang. Trâm
rung động quay lại, vườn cây im lìm, chỉ có xao
xác gió.
Mỗi năm một lên lớp, thi đậu. Niềm
sung sướng hảnh diện Trâm muốn Nghị biết để chia
sẽ. Ghé nhà hỏi anh Hòa, anh cho biết lâu lắm
không có thư từ gì của Nghị.
Học xong tú tài, Huế đã có Đại Học.
Trâm ghi tên học Văn Khoa. Huế vẩn êm như giòng
sông Hương trong xanh bóng cá. Thật ra Huế còn một
khuôn mặt khác, ít ai hiểu nổi, do mặc cảm khác
nhau, trộn lẩn nhau. Huế tạo nên một lớp người
trẻ, uống nước sông Hương êm đềm, mà lòng luôn dậy
sóng. Suốt đời chung thân tìm kiếm lý tưởng. Huế
khao khác một điều gì đó, có cảm giác mình đang
mang một sứ mạng lịch sử do người xưa để lại; Cái
âm ỉ trong lòng Huế làm ngột ngạc cả thành phố.
Đầu hè 1963, Sau biến cố Phật Đãn
tại đài Phát Thanh làm chết 8 người. Một số gia
đình Công Giáo tìm cách bỏ Huế vô Nam. Ở Sài Gòn
đất rộng, người đông, không ai để ý đến ai. Những
gia đình "có đạo" giàu có thế lực dưới thời cậu
Cẩn, sợ rằng một ngày nào đó có chuyện gì xảy ra,
sẽ không sống nổi với Huế.
Mẹ Trâm lo thu vén tài sản, bán gấp
bán vội với căn nhà có vườn rất đẹp, chất đầy kỷ
niệm của Trâm để di chuyển vô Sài Gòn. Đả từ lâu,
Trâm không biết phản ứng trước những quyết định
độc đoán của Mẹ. Nàng thản nhiên, nhìn thấy mình
như một cánh bèo lục bình trôi trên giòng sông quê
củ. Sông chảy về đâu thì mình trôi theo đó.
Nhưng lần nầy, trong lúc dọn dẹp
sách vở áo quần , Trâm thấy lòng mình rộn ràng một
niềm vui, Niềm vui nào ? Phải chăng Trâm còn nhớ
Nghị, ao ước thấy Nghị. Mối tình đâu thoáng qua
nhẹ nhàng, tưởng không để lại gì, bổng chốc trở
về. Hình bóng Nghị trốn nơi đâu đó , lừng lửng
hiện về.
Đến Sài Gòn, Trâm ngạc nhiên thấy
Sài Gòn không như Thành Phố trong mộng tưởng. Cũng
không quyến rủ lắm để Nghị không một lần trở về
thăm Huế. Sài Gòn rộng lớn đến thế, mà tiếng động
không bay xa, khi nào cũng động lại một nơi, nơi
nào cũng đầy tiếng động, tiếng ồn ào. Trâm thương
cái yên tỉnh êm đềm của xứ Huế mình. Trâm chú ý
những tiếng rao hàng lạ tai từ tờ mờ sáng cho đến
khuya. Đêm vẩn có người không ngủ, cứ đi lại trên
đường phố, Huế khép kín, tò mò. Sài Gòn phơi bày,
thản nhiên , mặc kệ.
Vào Sài Gòn đã mấy tháng mà Trâm
không hề biết tin tức chính xác về Nghị. Không
biết Nghị ở đâu, đang làm gì. Những chiều đi phố
gặp trời mưa, đứng dưới mái hiên chờ mưa tạnh.
Trâm chợt thấy phố xá Sài Gòn qua màn mưa bay
nghiên, hiện rỏ ra như trong giấc mơ lúc còn ngòai
Huế. Trâm nhớ mình lang thang dưới mưa, trong mơ,
có lẻ tìm ai đó. Bây giờ giấc mơ đó đang là sự
thực. Biết đâu trong đám người đi qua đi về, Nghị
sẻ hiện ra, tình cờ, củng muốn tìm một chổ núp mưa
như mình, nhưng cơn mưa Sài Gòn chóng tạnh, Trâm
không thể đứng mãi bên hè phố, để chờ một người
không bao giờ hẹn gặp. Mưa Sài Gòn trở thành quyến
luyến đối với Trâm, như một thông cảm. Thật sự nơi
thành phố này khó mà gặp nhau, khi đôi người là
hai cỏi sống riêng biệt.
Những tháng hè năm 1963 tại Sài
Gòn, tình hình chính trị biến động dồn dập, các
lực luợng Phật Giáo biểu tình tranh đấu để bảo vệ
Phật Pháp. Những vụ xuống đường căng đầy biểu ngữ,
mọi người được dịp phơi bày lòng nhiệt thành, yêu
lý tưởng công bằng xã hội. Được dịp chống chế độ,
chống độc tài gia đình trị, chống phân biết tôn
giáo. Họ củng được dịp vô ngồi tù, như các lảnh tụ
chính trị....
Sau đám tang của nhà văn Nhất Linh
Nguyễn Tường Tam, đến vụ Hòa Thượng Thích Quảng
Đức tự thiêu. Sài Gòn rung rinh như đang sống
trong một trận động đất dử dội, nhưng khác với
Huế, tại Sài Gòn, phong trào sinh viên vẩn im lìm
bất động......
Ngày 20 tháng 8, trên toàn miền
Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm áp dụng biện pháp
cứng rắn với Phật Giáo. Các chùa chiền, các tăng
ni, các Thượng Tọa tranh đấu đều bị phong tỏa và
bắt giử. Tưởng chừng phong trào Phật Giáo bị dẹp
yên. Cái im lặng nặng nề của những ngày giới
nghiêm đè nặng Sài Gòn và các nơi khác. Nhưng đến
ngày 22 thang 8, cả trăm ngàn sinh viên, học sinh
ngay cả học sinh tiểu học, không biết từ đâu đổ xô
ra đường phố thủ đô biểu tình, Phong trào lần này
được lảnh đạo bởi những người trí thức trẻ. Mấy
ngày đầu, hoc sinh , sinh viên bị bắt cả hàng chục
ngàn người, nhốt ở Trung Tâm huấn luyện Quang
Trung.
Bà Phán đang lo sợ cho tình hình,
không biết khi nào mới mua bán làm ăn được, bà đi
với Trâm đến nhà chú Hy, chú Hy là một viên chức
cao cấp của ngành Công An. Chú đang làm việc ở
khối cảnh sát đặc biệt, có lẻ bà Phán muốn đến hỏi
thăm tin tức. Cơm nước xong Trâm thấy chú Hy đem
ra một xấp báo ngoại quốc đưa cho Mẹ, chú chỉ hình
một người trong tờ báo hỏi:
- Chị ở Huế có biết anh này con cái
nhà ai không ?
Bà Phán cầm xấp báo, nhìn từng tấm
hình, ngạc nhiên đưa cho Trâm, đến lượt Trâm bàng
hoàng, quay sang nhìn Mẹ không nói năng. Hình
trong các báo chính là Nghị, Nghị đứng giữa nhửng
thanh niên khác, có hình Nghị đứng bên cạnh ông
Ngoại Trưởng vừa xuống tóc;
Bà Phán không trả lời câu hỏi của
chú Hy mà hỏi:
- Họ tranh đấu dử dội như vậy là
muốn gì ?
Chú Hy trả lời:
- Họ muốn lật đổ cụ Diệm
Bà Phán nói:
- Muốn đảo chánh, muốn cách mạng là
muốn giết người, lại có bàn tay của Việt Cộng.
Trâm nhìn Mẹ, hiểu tâm trạng mẹ, bà
vẩn hận người chồng đang sống yên ổn với vợ con,
bổng nhiên bỏ nhà đi theo kháng chiến. Cho nên cái
gì động đến cách mạng, lật đổ, là Mẹ nghỉ đến Việt
Minh, Việt Cộng, nghỉ đến hận thù chết chốc. Từ
Huế vô đây cũng chỉ vì Mẹ sợ. Vào đây rồi củng
không yên, mọi công chuyện làm ăn của Mẹ bị bỏ đó
cả mấy tháng nay; tiền chưa thâu lại được, Mẹ mong
tình hình ổn định lại.
Từ buổi ăn cơm ở nhà chú Hy về,
ngày nào Trâm cũng mua báo về đọc để theo dỏi tin
tức. Có lần nghe bà Phán nói, Trâm thấy vô lý, cải
lại:
- Người ta sống, ai cũng mong muốn
thấy những điều tốt đẹp hơn. Ba đi qua bên kia,
cũng có lý tưởng của ba. Bây giờ người ta chống
chế độ, thì cũng có lý do của họ, không phá vở cái
củ tồi tệ, thì làm sao dựng nên cái mới tốt đẹp
hơn.
Bà Phán giận dử:
- Mi là con gái, biết chi mà nói.
Sau đó: đảo chánh, biến cố 1 thang
11. Sáng sớm bà Phán lo mở radio, Trâm lo chạy ra
phố mua báo, như bà Phán nói, đảo chánh là có giết
người.
Hai ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu
bị giết chết, xác nằm trong xe bọc sắt. Họ nói hai
ông tự tử. Trâm đem báo về cho Mẹ đọc, bà Phán nói
với con:
- Có đạo như hai ông, không bao giờ
tự tử.
Hai mẹ con đều lo sợ hoang mang,
mổi người nghỉ theo mổi hướng khác nhau.
Trâm nghỉ đảo chánh mà không giết
người cầm quyền, chắc đảo chánh không thành. Nếu
không tạo được sự sợ hải, thì uy quyền của người
lên thấy giảm đi chăng ? Không hiểu Hội Đồng Quân
Nhân Cách Mạng đang nắm trong tay quyền lực để làm
gì. Để ổn định hay để thanh tóan nhau. Sau đó có
chỉnh lý, rồi lại tái đảo chánh.
Người ta sợ hải quyền lực chính
trị, nhưng mơ ước nó, khi nắm được nó trong tay,
ít ai nghỉ đến hậu quả của nó. Rốt cuộc, nó, quyền
lực chính trị chỉ là một vòng bánh xe quay tròn,
khép kín. Hình ảnh hai xác chết nằm trong xe bọc
sắt, gây cho Trâm cảm giác rờn rợn của sự trả thù.
Khoảng giửa năm 1964, Hòa ở Huế vào
Sài Gòn có việc ghé nhà thăm bà Phán, anh nói
chuyện với Trâm:
- Cô Trâm vô đây đã gặp Nghị lần
nào chưa?
Trâm lắc đầu không trả lời, Hòa kể:
- Ít lâu sau 1 tháng 11, Nghị có ra
Huế cùng với Đòan Đại Biểu của Hội Đồng Quân Nhân
Cách Mạng, Huế đón tiếp trọng thể lắm. Riêng ở đại
học, tối nào cũng có liên hoan, văn nghệ.....
Nghe anh Hòa nhắc đến Nghị, mà cứ
kể đâu đâu, Trâm sốt ruột hỏi:
- Anh có gặp Nghị không?
- Có chứ.
Trâm hỏi dồn:
- Anh Nghị có hỏi thăm em gì
không?anh ấy có biết em vào trong nay chưa ?
Hòa chậm rải:
- Thì từ từ, Nghị chỉ về có mấy
ngày thôi, ngày cuối cùng, đáng lẻ phải lên chùa
Từ Đàm để từ giả các thầy. Nghị không đi, ở lại
Tòa Đại Biểu chính phủ, để gặp một số người quen
củ, cũng với những người đến chất vấn Nghị. Hôm đó
Nghị cho người đem xe đến đón anh vào ăn cơm trong
tòa Đại Biểu.
Trâm chợt hỏi:
- Tại sao họ lại muốn chất vấn anh
Nghị ?
- Họ cho là anh cướp công Cách
Mạng. Nói chuyện ở Viện Đại Học, Nghị không hề
nhắc đến công lao của Phật Giáo. Họ hỏi có phải
anh ta đề nghị Hội Đồng QNCM chọn Trung Tá VHT,
người công giáo ra làm Tỉnh Trương ở đây sau ngày
1 tháng 11, Nghị bình thản xác nhận, họ lại hỏi:
có phải đó là một thách thức đối với Huế và với
Phật Giáo không?
Hòa ngừng một lát, để uống ly nước
cam mà Trâm đả đem ra từ khi nảy. Trâm từ tốn nhìn
anh, quý báu những lời anh kể, như nghe lại một
phần đời của nàng, trong đó có hơi thở và nguồn hy
vọng của chính mình. Hòa tiếp tuc:
- Lúc bây giờ Nghị trả lời: "không
và ngược lại, khi tôi đề nghị trung tá VHT, một sỹ
quan Thiên chúa Giáo, có tư cách và có công với
cuộc đảo chánh, làm tỉnh trưởng nơi đây, là để Huế
có dịp chứng tỏ mình không thù hằn, không phân
biệt, và củng để cho những người đứng lên chống
chủ trương kỳ thị tôn giáo sẽ không rơi vào lổi
lầm nguy hiểm ấy nữa, một khi họ có quyền trong
tay".
Hòa kể xong, nhưng Trâm muốn hình
anh Nghị cứ kéo dài ra, như một khúc phim quay
chậm.
- Rồi sao nửa anh?
- Thì cho đến giờ, ông VHT vẩn còn
làm Tỉnh Trưởng,
Hòa lại nói:
- Tính Nghị xưa nay vẩn vậy, không
e ngại trước một thách đố nào. Ở Huế có nhiều
người không thích Nghị.
Trâm chen ngang lời anh:
- Thì xưa nay anh Nghị cũng chẳng
có cảm tình gì với xứ Huế đạo đức giả, "giấy rách
phải giử lấy lề" này.
Hòa tiếp:
Nhưng đất Huế lại biết sinh ra
những con người đặt biệt.
- Em thấy anh Nghị coi thường hết
mọi chuyện, kể cả tình yêu.
Hòa nhìn Trâm, anh muốn kể một chi
tiết mà anh cứ đắn đo, có lẻ sợ cô em xúc động và
thêm buồn.nhưng khi nghe Trâm nói thế, Hòa tiếp:
- Ăn xong, Nghị tự lái xe đưa anh
về, khi ngang qua nhà Nghị ngày trước, anh ấy dừng
lại rồi ghé vào cổng nhà cô,Nghị đứng lặng đi một
hồi, anh tưởng Nghị muốn vào thăm cô. Anh cho biết
là gia dình cô đã dọn vô Sài Gòn từ hè 63, thì
Nghị trả lời có nghe tin, và cũng biết cả địa chỉ
có ở Sài Gòn nửa.
Trâm dần dần mất bình tỉnh,
Giọng anh Hòa nhỏ lại:
- Nghị nhìn vào vườn củ, nói với
anh chỉ một câu: "mùa đông, vườn nhà Trâm, bông
Hải Đường vẩn nở".
Trâm xúc động. Anh Nghị ơi, ngày
xưa có lần anh nói rằng: Trong ngôi vườn nay , anh
thích nhất cây bông Hải Đường.
Một lớp sương giăng trong mắt Trâm,
nàng cúi nhìn xuống đất nói nho nhỏ:
- Anh Nghị vẩn còn nhớ đến em.
Hòa đặt tay lên vai cô em họ:
- Anh biết Nghị vẩn yêu em, nhưng
đời sống Nghị bây giờ đã khác, chắc em cũng biết
rồi, Nghị đả lấy vợ, một người đàn bà đẹp, sang
trọng thuộc gia đình giàu có ở Sài Gòn.
Đã nhiều lần Trâm nghe phong phanh
Nghị có vợ rồi, có lẻ vì thế anh không còn lý do
gì để về thăm Huế. Nhưng lần này, khi nghe anh Hòa
cho biết một sự thật hiển nhiển, Trâm thấy lòng
mình giao động dử dội. Những cơn mưa bảo từ đâu ào
ạt trở về. Nước lủ từ cao đổ xuống làm bật hết
những cội rể, đang bám bíu lấy đất đai.
Kể từ ngày nghe anh Hòa kể chuyện.
Trâm không còn muốn hỏi han, không muốn ai nhắc
nhở đến Nghị.
Một thời gian sau, Trâm được bổ
nhiệm dạy Việt Văn tại một trường Trung Học Đà
Lạt. Đây là cơ hội để Trâm xa Sài Gòn, mà cũng là
dịp để Trâm sống tách khỏi bà Phán, một người Mẹ
khô khan, như không còn xúc động trước tình
thương. Từ khi cuộc cách mạng mùa thu , cuốn theo
người chồng yêu quý, bà sống cô đơn lạnh lùng.
Trâm thấy Mẹ chẳng thương ai, mà cũng chẳng ai
thương Mẹ. Ngay cả với Trâm, là người con gái độc
nhất, bà cũng ít khi biểu lộ tình thân mật.
Bà Phán không lấy chồng khác, không
phải vì bà biết chồng còn sống bên kia, ở vậy một
lòng chung thủy, bà thủy chung vì lòng bà như một
bải đất đầy sỏi đá. Cây không thể mọc, hoa không
thể nở.
Trâm biết tánh Mẹ, hiểu Mẹ, khám
phá ra rằng Mẹ cũng không muốn cho Trâm lấy chồng
để chia xẻ hạnh phúc với người yêu thương. Nhiều
đám đến ngỏ ý, Trâm từ chối, Mẹ củng tìm cớ này ,
cớ nọ để đồng tình với Trâm. Một người Mẹ cô độc
suốt đời, và muốn con gái củng cùng gánh chịu nổi
bất hạnh ấy như mình. Đã có lần Trâm muốn gật đầu
ưng thuận người đàn ông do anh Hòa giới thiệu,
nhưng lấy chồng cho có chồng, không yêu thương gì,
không hiểu sẽ ăn ở với nhau ra sao, nó như thế
nào, Trâm cứ ngại ngùng. Có lẻ cái ngại ngùng ấy
là do hình bóng Nghị vẩn còn trong lòng. Nó làm êm
ấm mổi khi Trâm nhớ đến, như một chổ dung thân để
lòng Trâm có chổ đi về. Cảm giác ấy cho Trâm tưởng
rằng, mình như một loại "ốc mượn hồn". Có lúc Trâm
đau xót biết rằng Nghị không còn là của riêng
mình, để mình nhớ, để mình yêu thương. Con ốc mượn
hồn ấy không còn tìm dấu cái vỏ cho nó nương thân,
biển sóng đả vô tình cuốn trôi đi mất.
Trâm lên Đà Lạt vào một ngày có
nắng ấm, tìm thấy Đà Lạt như một phần đất của Huế
tái sinh, với giọng nói và thức ăn rất Huế. Thay
vì thuê nhà ở, hoặc xin cư xá của trường, Trâm xin
vào ở trong một trường nữ sinh nội trú, thuộc
giòng tu Notre Dame, mổi tuần Trâm dạy vài giờ
Việt Văn để trả tiền ăn ở.
Căn phòng nhỏ thật xinh xắn và
trang nhả, có cửa sổ mở thấy một miền thông thăm
thẳm phía dưới, những đồi co xanh non, những con
bò vàng thong thả vẩy đuôi , là hình ảnh thanh
bình êm ái, Thiên nhiên trợ giúp nuôi dưởng sự
sống Trâm lành mạnh và an vui như nó. Trâm không
còn ao ước gì hơn.
Đời sống độc thân, có người cho là
đáng buồn, nhưng Trâm tìm thấy trong đó, đời mình
trải rộng một bình nguyên an lành, khộng bận tâm,
không lo âu, không phiền muộn, Đà Lạt không có dấu
vết kỷ niệm, Trâm sống với nó như một người tình
trong trắng. Mổi lần về Sài Gòn thăm Mẹ vài ngày,
là Trâm hấp tấp trở lên ngay. Trâm yêu quý cái yên
tỉnh của tâm hồn, cùa đời đang sống, cố gắng giử
gìn nó như một tặng vật của Thượng đế ban cho.
Thế rồi vào một buổi sáng chủ nhật,
hoc sinh nội trú đều ra ngoài, Trâm đang ngồi đọc
sách trong thư viện trường,tai văng vẳng nghe
tiếng đàn piano ở phòng học nhạc. Chuông điện rung
lên theo số hiệu 2-3 của Trâm. Ra phòng khách, thì
được cho biết có người quen muốn gặp.
Trâm đẩy nhẹ cửa, người đàn ông
đứng quay lưng, mắt hướng ra ngoài cửa sổ, nơi đây
có hàng thông xanh biết, lấp lánh vài nguồn nắng
rơi. Trâm thảng thốt. Người đàn ông quay lại,
Nghị, Trâm đưa tay đẩy mạnh khép chặt cánh cửa
phòng khách, như muốn nhốt lại cảm giác ngở ngàng
vừa ùa đến. Bóng hay người, người đàn ông tên là
Nghị chậm rải quay lại, nhìn Trâm, rồi thong thả
ngồi xuống.
Nghị ngày xưa trở về, của những
ngày đạp xe lên chùa Thiên Mụ nhìn qua bên kia dãy
núi voi Long Thọ, nơi có người đi không về. Của
nhưng chiều lên núi Ngự Bình ăn bánh bèo, mà đường
về băng qua những lối mòn đầy cỏ may.
Tuy xa nhau khá lâu, kể củng tám,
chín năm, Trâm không còn là cô nữ sinh Đồng Khánh
ngày ấy, Nghị không còn là anh hoc sinh Quốc Học.
Số phận chia đôi, nhửng kỷ niệm xưa ràng buộc với
nhau, quấn quýt như nhửng giây leo ký sinh vào tâm
hồn người con gái.
Trâm cúi xuống nhìn đôi tay mình
đan vào nhau, không biết nói như thế nào với Nghị.
Tưởng là không bao giờ còn gặp lại nhau. Những năm
sống lặng lẻ, âm thầm. Nghị là một hạnh phúc vô
vọng đối với Trâm, vô vọng mà luôn tưởng nhớ. Nghị
trong tiềm thức, hay Nghị đang là một hiển nhiên
trước mặt, đều là sự chiếu lại của một vật ảo, như
không có thực trong đời sống của Trâm.
- Anh mới ở Sài Gòn lên ?
- Không, anh ở đây đả hai tháng nay
Trâm im lặng, Nghị ở đây đã hai
tháng nay mà mãi hôm nay mới ghé thăm.
-Thế anh mới có địa chỉ của em?
- Không, anh biết từ năm ngóai.
Trâm yên lặng, câu nói của Nghị từ
năm nào do anh Hòa kể lại:"mùa đông, vườn nhà
Trâm, bông Hải Đường vẩn nở" và bây giờ,"anh biết
từ năm ngoái", gây nên một êm dịu lan tỏa lòng
Trâm. Nghị vẩn nhớ đến mình
- Anh có việc ở trên này à?
Nghị trả lời:
- Anh bị giử....
Trâm chợt nhớ, vừa rồi báo chí có
nói các biến cố chính trị ở Sài Gòn. Một số chính
khách và tướng lảnh thường bị đưa lên tạm giử ở
Pleiku và Đà Lạt.
- Thế anh được tự do đi lại à?
- Họ không cấm, nhưng có lẻ chỉ
loanh quanh trong thành phố thôi.
Trâm cố giử lại tiếng thở dài, Nghị
nhìn qua cửa sổ.
Trâm hỏi:
- Hiện giờ anh ở đâu?
Nghị đưa tay chỉ phía đồi núi nhấp
nhô, ẩn hiện những ngôi nhà, nói:
- Trong một biệt thự phía ấy
Trâm muốn biết hỏi thêm:
- Anh ở một mình hay ở với ai?
- Một mình với vài người lính canh
Thừa lúc Nghị đang nhìn ra ngoài
trời, Trâm chăm chú nhìn anh. Người đàn ông ngồi
đó, chịu đựng trước mọi khó khăn, thách đố, kể cả
lăng nhục. Người mà Trâm yêu từ ngày mới lớn. Trâm
biết Nghị rất thương mình, nhưng tại sao không
được ở gần nhau, sống với nhau như đời vợ chồng.
Một chút tự ái thời tuổi trẻ. Nghị
vào Sài Gòn đi học, rồi lấy vợ trong đó, người vợ
vừa đẹp vừa giàu. Không có một lời giải thích, để
trả thù? Anh thù ai? Mẹ hay là xứ Huế.
"Chỉ có mình em, riêng em chịu đựng
sự trả thù ấy. Em đã lớn lên trong một xứ Huế với
những định kiến giai cấp,giòng họ, lại còn cả một
hố sâu tôn giáo", Chúa, Phật, các giáo chủ đã tạo
ra tôn giáo, để con người bớt khổ, được hạnh phúc,
và để thăng hoa đời sống. Nhưng loài người thường
xử dụng nó để làm khổ lẩn nhau.
Nghị từ từ quay lại, Trâm chớp mắt,
hai người lại yên lặng trong ý nghỉ riêng tư về
nhau. Cả hai đều như không muốn bày tỏ, bởi có nói
củng không cùng.
Nghị nhìn đồng hồ đã thấy trưa,
đứng dậy ra về, Trâm tiển anh ra cổng, Nghị nói:
- Anh xin cám ơn em
- Anh cám ơn về chuyện gì? Trâm hỏi
- Cám ơn sáu chiếc khăn tay ngày
xưa
Trâm mĩm cười, những nụ cười không
còn ý nghỉ của niềm vui, Trâm thong thả nói:
- Tặng anh món quà mà mãi gần chín
năm sau, em mới nhận được lời cám ơn.
Nghị không nói gì thêm, anh lẳng
lặng đi bộ xuống đồi, Trâm trở vào. Một lần gặp,
đã bao năm trôi qua. Rồi cách biệt Trâm tưởng
chừng Nghị vừa thoảng hiện trong giấc mơ, tỉnh
dậy, Nghị không còn. cánh cửa gổ nặng nề từ từ
đóng lại, như khép kín cuộc đời Trâm. Còn gặp lại
nhau hay không, Trâm không biết. Cũng như không
biết đời mình sẽ thế nào.
Năm 1975...
Khoảng ra Tết, đi dạy về, lên phòng
thì Trâm nhận được điện tin đánh khẩn với nội
dung: "Đừng ở lại Đà Lạt, tìm cách về Sài Gòn càng
sớm càng tốt".
Trâm nghỉ là Mẹ đánh cho mình, Trâm
hấp tấp ra Air Việt Nam mua vé máy bay bay về Sài
Gòn. Thấy xung quanh người ta bắt đầu lo sợ, bàn
tán về tình hình. Đến Sài Gòn, bà Phán ngạc nhiên,
mừng rở hỏi tại sao biết được mà về sớm vậy.
Bức điện tín không phải Mẹ gửi. Vậy
là Nghị. Trâm cảm động.
Đến 30 tháng 4, Sài Gòn mất, sự
thay đổi làm lộn nhào hết mọi sự chung quanh. Chắc
chắn việc dạy học của Trâm không thể tiếp tục. Đối
với chế độ mới, môn văn chương trong chương trình
giao khoa củ là môn học phản dong.
Hòa đã vào được Sài Gòn, anh đến
nhà Trâm với bộ mặt còn thất thần vì cuộc di tản
từ Huế.
Trâm hỏi:
- Anh làm cách nào mà vào được
trong này?
Hòa trả lời:
- Nhờ một người của Nghị đưa vào
bằng tàu thùy, hiện thời anh ở nhà Nghị.
Trâm nói:
- Hay anh đến đây ở với Mẹ em và em
cho vui. Nhà anh Nghị chắc cũng đông người.
Hòa trả lời:
- Nhà Nghị rộng, vợ con đi rồi.
Trâm chợt yên lặng, không nói tiếp.
Hòa nhìn Trâm hỏi:
- Cô có muốn đi không?
- Em chưa có ý định, với lại bây
giờ bỏ mẹ em một mình, em không yên tâm.
Hòa viết địa chỉ nhà Nghị, rồi đưa
cho Trâm, nói thêm:
- Nếu cô muốn gặp thì đến.
- Cho em gởi lời thăm anh ấy, và
cám ơn cái điện tín.
Trâm cất mảnh giấy địa chỉ, hẹn với
Hòa thong thả sẻ đến thăm.
Những người bà con của bà Phán từ
ngoài Bắc lần lượt vào Nam nhận họ hàng. Một người
cho biết chính xác là Ba Trâm đã hy sinh ở trận
đánh biên giới Hạ Lào năm 1973. Lúc ấy ông đang
mang quan hàm Thượng Tá. Họ còn cho biết ông đã có
thêm vợ và một người con trai hiện đang công tác ở
Hà Nội.
Bà Phán nghe tin tức chồng, lặng lẻ
thở dài. Trâm hiểu sự câm nín của Mẹ là do sự chịu
đựng lâu nay, làm chai lỳ hết mọi cảm xúc. Trâm
không thấy Mẹ buồn, tuần sau bà Phán lên nhả thờ
xin một cái Lể. Cầu nguyện cho người đã chết.
Đối với Trâm từ bé đến lớn, không
thấy người cha bên cạnh, cho nên khi biết tin cha
mất, Trâm cũng không buồn, chỉ nghỉ rằng mình có
một người cha, bỏ gia đình, ra đi vì lý tưởng, nay
đả chết.
Thỉnh thoảng Trâm lấy cái địa chỉ
của Nghị ra nhìn, rồi lại cất đi. Từ đây đến đó
cũng chỉ mất 15 phút xe đạp, nhưng sao Trâm cứ
bâng khuâng ngập ngừng. Lần vừa qua, anh Hòa ghé
lại cho biết đang dự tính chuyện trốn đi. Có lẻ là
một gợi ý nào do của Nghị, lòng tự ái làm Trâm
thấy thương cho mình. Nhưng đồng thời Trâm mong
gặp Nghị, thật lâu quá không gặp. Cái nôn nao thấy
lại Nghị làm Trâm không tự chủ nổi. Trâm quyết
định, chiều mai đến, thăm luôn anh Hòa.
Căn nhà Nghị ở, ngay trên con đường
lớn, căn nhà Trâm vẩn thường đi qua đi lại nhiều
lần, không ngờ nơi ấy có Nghị ở.
Trâm bấm chuông, mải một lúc mới có
người đàn bà ra mở, hỏi vọng:
- Cô muốn hỏi ai?
- Cho cháu hỏi nhà ông Nghị.
- Cô là ai?
Trâm ngập ngừng:
- Dạ,cháu là người quen ông Nghị,
em anh Hòa.
Nghe giọng Huế, người đàn bà mở
cổng mới vào nhà. Căn nhà thật vắng, Trâm nhìn
quanh.
Người đàn bà nói:
- Ông ấy đi rồi.
Trâm giật mình, hỏi lại:
- Anh ấy đi đâu?
Giọng người đàn bà nhỏ hơn:
- Đi vượt biên, có lẻ đi được.
Trâm tựa lưng vào tường, người đàn
bà tiếp tục nói:
- Có cả ông Hòa cũng đi luôn, đi
được tháng nay.
Trâm từ từ ngồi xuống chiếc ghế nệm
bọc da. Lòng hoang lạnh đến lạ kỳ. Anh Nghị ơi,
khi anh còn ở nơi đây, dù không gặp em cũng yên
lòng. Nhưng biết anh đi rồi, em mới cảm thấu được
nổi cô liêu còn lại nơi em.
Hai bàn tay Trâm cầm lại với nhau,
mong ủ cho nhau một chút hơi ấm. Trâm muốn hít hết
cả khối không khí nơi căn nhà này vào ngực mình,
để giử lấy trong đó, một ít hơi thở còn sót lại
đâu đây của Nghị. Cái ghế này cách đây một tháng
anh đã ngồi, cái bàn kia, cách đây một tháng, anh
đả viết. Bây giờ em mới hiểu, em yêu anh biết bao
nhiêu. Yêu hơn những nổi chịu đựng đã yêu.
- Cô uống nước cho mát.
Trâm quay lại cầm ly nước, cám ơn:
Người đàn bà lại tiếp tục:
- Tôi là người giúp việc cho ông bà
Nghị, ở đây cũng lâu lắm rồi, nhưng không thấy cô
lại chơi.
Trâm trả lời:
- Vì ở xa, nên ít có dịp ghé thăm.
Rồi Trâm hỏi thêm:
- Bà Nghị đi đã lâu chưa?
- Bà Nghị và cậu con đi từ trước
Tết qua Thụy Sĩ.
Trâm tò mò về người vợ Nghị, hỏi:
- Bà ấy chắc đẹp và hiền.
- Vâng , bà ấy rất tử tế. Nhưng
không biết tại sao ông bà không hợp nhau. Ông cứ
bận việc đi hoài ít khi ở nhà. Còn bà thì hay đem
con về bên Ngoại, thành thử mọi chuyện đều giao
cho tôi cả.
Trâm lắng tai nghe bà quản gia kể
chuyện. Không biết tại sao Nghị không tìm được
hạnh phúc bên người vợ đáng quý như thế.
- Á, cô phải là cô Trâm không?
Trâm ngạc nhiên gật đầu. Người đàn
bà với tay lấy trên kệ sách một cái phong bì lớn
đưa cho Trâm, rồi nói:
- Ông Nghị có dặn tôi, sau khi ông
đi, nếu có cô Trâm đến đây tìm ông hay ông Hòa thì
đưa lại. Còn không, tôi phải tìm địa chỉ nơi bì
thư để giao tận tay cho cô ấy.
Trâm mở ra, Một tấm hình của Trâm
được phóng lớn, hình ngày xưa lúc Trâm còn ở ngoài
Huế. Khuân mặt bầu bỉnh, miệng cười tươi, nhưng
đôi mắt thật buồn. Trâm nhớ hình nay đã được tiệm
hình sang lớn treo làm mẩu ở phía ngoài. Có lẻ năm
Nghị ra Huế đi ngang qua thấy, vào xin hoặc là mua
lại. Nghị vẩn giử được cho đến ngày nay. Nước màu
đã bạc đi nhiều chổ. Trâm lại sờ thấy trong bao
thư. lấy ra hai chiếc khăn tay bằng vải phin trắng
có thêu chử N. Khăn tay đã nhuộm màu vàng củ. Trâm
cầm đưa lên mủi, chỉ còn lại mùi ẩm mốc của thời
gian, Trâm thấy ngẹn ở cổ, cay cay ở mắt. Những
giọt nước rơi xuống, trên kỷ niệm của mười bảy năm
về trước.
Phía sau tấm hình, Trâm thấy nét
chử nghiên nghiên của Nghị, mấy câu thơ:
Bến sông xưa,
Có con thuyền ngủ muộn
Bông cỏ may
Che khuất nẻo đường về
Hải Đường ơi,
Nghìn năm anh vẩn đợi
Mổi sáng đông về hướng mưa bay....
Nghị ghi thêm ngày tháng trước khi
đi, Trâm nhìn lại mình trong tấm hình xưa.
Ngoài trời, buổi chiều bắt đầu úa.
Một ngày trôi qua. Một tháng, một năm, mười năm,
hai mươi năm. Thời gian không còn ý nghỉa, biên
giới địa cầu dù có phân ly đôi người, đôi ngã, cái
chết dù có tách rời mổi người một cỏi. Thì tình
yêu là ngọn nến lung linh sáng mai, sưởi ấm cho
một mảnh đời riêng Trâm.
"Em xin cầu nguyện cho anh mọi sự
an lành ở nơi ấy. Một nơi không có em". Trâm nói
thầm với mình.
6/1991 |