| |
Bóng Thời Gian
(Nguyên Nhung)
Đến San Jose vào một chiều tắt nắng, chiếc xe
bon bon chạy qua những con đường, bao chung
quanh thung lũng là nhiều dải núi thấp và trơ
trụi. Đường lên đường xuống dọc theo thung lũng
hoa vàng, tuy đã sang hè và khô queo những ngọn
đồi trọc, nhưng khí hậu ở Bắc Cali thật mát.
Nghe như có chút sắt se của Đà Lạt thuở nào,
đứng trong bóng râm thì hơi se lạnh, phải khoác
thêm chiếc áo ấm, nhưng trên sân cỏ và ánh nắng
mặt trời còn sót lại, cái ấm áp dễ chịu khiến
ngất ngây lòng du khách.
Đi về phía Nam của thành phố, con đường kéo
thẳng từ San Jose đến Los, có một khu nhà đông
dân cư, màu xanh mát mắt của thông và trúc đào
làm phong cảnh của vùng đất đồi bỗng trở nên
xinh đẹp. Con đường ấy là con đường dẫn vào nhà
Huệ, đi loanh quanh vài con đường nhỏ trong khu
vực, thấy căn nhà của Huệ đã hiện ra trước mặt.
Huệ là cô bạn cùng lớp ngày xưa ở Cần Thơ, cũng
phải hơn 40 năm rồi mới gặp lại.
Chiều xuống dần đem theo chút màu tím mênh mang
phủ lên khuôn viên căn nhà nhỏ, bao xung quanh
nhà là những cây thông và trúc đào mọc ken với
nhau, che kín mảnh vườn nhỏ, thế giới của một
đôi chim sáo. Nhà của Huệ đó, ở tận bên này mà
bỗng dưng cảm giác như được bước vào căn nhà của
miền Tây sông Hậu thuở nào, căn nhà tĩnh mịch và
lẩn khuất trong đó là hình bóng tổ tiên ông bà
trên chiếc bàn thờ đơn sơ mà trang trọng, đặc
sệt không khí Hậu Giang với bữa cơm chiều thật
ngon miệng. Biết khách đường xa thấm mệt, bữa
cơm chiều thật đúng khẩu vị người miền Tây, canh
chua cá bông lau, cá kho tộ, cơm vừa chín tới
bốc hơi ăn thật ngon miệng. Cơm xong, thêm tách
trà khổ qua mát mẻ, một tối đầm ấm ở nhà Huệ nói
bao nhiêu chuyện cũ mà tưởng rằng trẻ lại như
thời đôi mươi.
Kỷ niệm cũ và ngôi trường cũ thật nhiều, nói mãi
cũng không hết, bao nhiêu hình ảnh tự ngày xưa
chập chùng trở lại. Dòng sông, mái trường, những
con đường thời còn cắp sách chứa chan kỷ niệm.
Con nhà nghèo đi học xa, mẹ cha trong quê gói
ghém từng thùng gạo, con cá khô, chai nước mắm,
cái trứng vịt mà cũng ngoi lên được với đời. Bây
giờ trôi nổi ở quê người, hết rồi thời học trò
nắng mưa lội bộ đến trường, mái nhà tranh bên
một bờ sông có những rặng bần và cây bình bát,
những đêm trời không trăng sao ngó ra bờ sông
đom đóm lập loè. Một chiếc hột vịt luộc dầm nước
mắm chia cho hai bữa cơm trong ngày, sao cái vất
vả thời đi học cứ in mãi trong lòng đến bao
nhiêu năm không phai được.
Căn nhà của Huệ. Buổi chiều vẫn còn chút nắng
ươm trên hàng cây trúc đào hoa thắm đỏ, hai , ba
chùm phong linh treo ngoài cửa sau , khi gió
thổi nghe như tiếng đàn trời, rung lên những
thanh âm khi trong trẻo lanh canh như chuỗi thủy
tinh chạm vào nhau, khi trầm lắng như lời thầm
thì từ một cõi xa nào vọng lại. Không khí của
căn nhà và khu vườn như hòa vào nhau cái hồn của
một trời Việt Nam khiến bắt nhớ đâu đâu mà chẳng
biết nhớ gì, nhớ ai hay nhớ lại chính mình một
thời nào của dĩ vãng:
"Có những con chuồn chuồn cánh mỏng
Gợi nhớ trong hồn một dáng quê
Tuổi thơ hoa bướm đâu nhiều thế
Giờ cũng tan theo lớp bụi mờ…”
(Thơ NN)
Đêm. Khu vườn có mùi hương hoa dạ lý. "Đêm thơm
như một dòng sữa" là đây, chỉ cần một vầng trăng
với mùi dạ lý ướp trong khoảng sân vuông vức đó
là đủ rồi Huệ nhỉ? Giữa mảnh sân vuông kín đáo
ấy, lại có một cái bàn Ông Thiên. Dễ chừng đã
mười mấy năm rồi mới thấy lại cái bàn Ông Thiên
của quê nhà, thể hiện cho tấm lòng biết ơn Trời
của những con người sống đơn giản với đạo của
Trời Đất, mộc mạc và bình dị như tấm lòng của
chủ nhân. Ngày xưa ở quê nhà, mỗi Rằm hay mùng
Một, bàn thờ Ông Thiên lập lòe vài cây nhang
cháy đỏ, khoảng sân thơm mùi trầm nhang, những
vòng phong linh va chạm vào nhau, thánh thót
những tiếng nhạc trời êm dịu. Bây giờ ở quê
người trong căn nhà của Huệ, vẫn có bàn Ông
Thiên trong mảnh sân sau kín đáo, nghe trong
tiếng gió reo đượm mùi hương một xóm nhỏ miền
phù sa sông Hậu.
Buổi tối ở nhà Huệ vui như Tết, vài người đồng
môn trường cũ đến chơi nhân nhà có khách, bỗng
gợi nhớ đến cái thân tình tỉnh lẻ rất hiền hòa,
xem nhau như trong một gia đình. Ngôi trường
hằng trăm năm có biết bao nhiêu thế hệ học sinh
, nhưng không vì thế mà xa, nghe nhắc tên Trường
đã tự xem như anh em một nhà, con cùng một Mẹ,
quý biết mấy. Gặp Túc cô bạn ca sĩ học trò ngày
xưa, đứng đánh nhịp cho bạn bè đồng ca chào cờ
mỗi buổi sáng thứ hai trên sân trường, hôm nào
hát lọc chọc đến giờ Âm nhạc thầy cho học trò
hát Quốc Ca mệt nghỉ, nghĩ lại vẫn thấy vui.
Sáng hôm sau trời đẹp, hình như Trời cũng đãi
ngộ cho khách phương xa, dải nắng biếc lung linh
làm cho khu vườn rực rỡ lúc bình minh, cây cam
cây chanh oằn mình với những quả chín. Hơn 40
năm bạn cũ gặp nhau ở quê người, sao vẫn thấy
cái tình xưa bàng bạc trong căn nhà, khu vườn
của Huệ. Vợ chồng bạn đưa xuống down-town, khu
thị tứ và cũng là cái nôi văn hóa của người Việt
ở San Jose. Đi loanh quanh một vòng cho biết
người Việt đến đâu vẫn cố giữ lấy nền văn hoá
Việt, những quán ăn tiệm buôn gần giống như một
chợ Bến Thành thu nhỏ, đem được cả cái hồn quê
của mình đến xứ lạ.
Chia tay với Huệ để đi thăm chị Khang, người chị
hàng xóm mà cũng là người đồng hương, 50 năm rồi
chứ ít đâu cho một khoảng thời gian nửa thế kỷ
còn tìm gặp nhau, không vui sao được. Chị Khang
ngày xưa thuở mười mấy tuổi, tướng cao gầy mảnh
khảnh, khuôn mặt đẹp nét Tây Phương, khu vườn
sắn chập chờn những hình ảnh thời ấu thơ ngày
mới di cư vào Nam bỗng trở lại. Chị Khang bây
giờ thay đổi nhiều, ở tuổi bà nội bà ngoại mà
tiếng nói còn thanh tao như hồi trẻ, dáng vóc có
thay đổi nhưng cái tình thì vẫn như bát nước
đầy.
Chị nói cũng không nhận ra em, thay đổi cả, nếu
như không hẹn nhau trước thì không ai còn nhận
ra ai. Ngày xưa em sáu, bảy tuổi, mũm mĩm như
con búp bê, đi chân đất chạy theo mẹ sang nhà
hàng xóm. Cảm ơn Trời đã cho chị em gặp lại nhau
sau nửa thế kỷ, mà sao những chuyện cũ vẫn không
quên, thì ra cái tình đã giữ lại giùm tất cả nếu
lòng người không thay đổi. Hồi ấy hai căn nhà
tranh đối mặt nhau, cách một con đường đất và
một cái cổng tre, nhà nào cũng có một giàn hoa
thiên lý che bóng mát cho mảnh sân trước, mùa
hoa lý trổ bông, canh hoa thiên lý hương dìu dịu
thanh thanh là bát canh ngon trong các gia đình
quê nghèo thuở ấy.
Buổi trưa ở nhà chị Khang ra sau vườn, nhà ở
vùng đồi nên mảnh vườn sau cao và hẹp, nhưng thế
đất chênh vênh lại thấy gần gũi vô cùng, thoai
thoải như vùng đồi Đà Lạt. Cây hoa giấy nở bông
vàng tươi thắm, nhiều loại hoa không nhớ tên cứ
thế vươn lên bám vào hàng rào gỗ, xa xa mờ mờ là
nhà cửa và núi non. Xen lẫn với hoa là từng cụm
rau non xanh biếc, rau muống, cây cà, giây mướp
hương, rau thơm đủ loại, nhất là rau kinh giới
gợi thèm một đĩa rau muống xào tỏi không cần
thịt. Khoảnh đất cao nho nhỏ nhưng bao vòng sau
nhà chị Khang xinh lạ thường, buổi sáng nắng dịu
chiếu xiên xiên vào khoảng sân, khi muốn nấu một
loại canh nào mà nhà xa chợ, chị có thể ra vườn
tìm từng cụm rau thích hợp cho bữa cơm hôm ấy. Ở
chị là hình ảnh một người mẹ Việt Nam chắt chiu
tiện tặn, sống hết đời cho chồng con, rồi lại
bận bịu với cháu. Cuộc sống êm ả của đôi vợ
chồng già, không ríu rít như đôi chim non nhưng
nghe ra ở đó là hạnh phúc của đôi sáo già rù rì
chuyện vãn . . .
Chị gọi con đi làm về ghé chợ mua bó rau muống,
món rau muống luộc đánh dấm cà chua, rau cọng to
mà mềm như rau muống làng Linh miền quê nội ở
Sơn Tây. Cơm chín tới ăn với cá thu kho riềng
kiểu Bắc thấm tới tận chân răng, ngon hết biết,
cao lương mỹ vị cũng không bằng. Mấy ngày lưu
linh lưu địa từ Nam đến Bắc Cali, đây là bữa cơm
thứ hai ngon kiểu Bắc sau bữa cơm canh chua, cá
kho tộ kiểu miền Nam ở nhà Huệ.
Ngày thứ hai ở nhà chị Khang, cảm giác như được
sống lại những ngày còn thơ bé, tung tăng đôi
chân không trên những con đường quê cát bỏng,
nghe tiếng tre trúc rì rào quanh vườn, bữa cơm
chiều là tô canh rau dền tía nấu tôm khô ăn với
cà bát ngâm tương của mẹ. Từ Đan Mạch, Trường-em
trai của chị Khang- anh chàng cùng lớp hồi tiểu
học "thò lò mũi xanh" gọi qua, đến hơn hai chục
năm mới lại nghe tiếng người bạn cũ. Bỗng gợi
nhớ anh chàng phi công trẻ tuổi năm xưa một thời
hào hoa phong nhã, nay đã sắp lục tuần vẫn vất
vả bên trời Âu lạnh lẽo. Nhớ và cứ ngậm ngùi
buổi tối nào đó cách đây trên 20 năm, bạn đi
vượt biên không lọt đến nhà mà không dám mời bạn
ngủ lại một đêm, vì sợ đôi mắt cú vọ của người
tổ trưởng Dân phố, lúc nào cũng chiếu tướng vào
căn nhà trống trải để rình rình một cơ hội.
Trước khi rời San Jose để đi Sacramento thăm cô
bạn ở Trà Vinh cũng 40 năm chưa gặp nhau, dành
nguyên một buổi sáng đến thăm Đông Phương. Chị
bạn cùng thời mà mình cứ như dòng sông, ở khúc
sông nào của cuộc đời thì thuyền lại gặp thuyền,
những ân tình lại chất chồng thêm để thành một
nỗi nhớ khó quên .
Đông Phương nhỏ nhắn nhưng nhanh nhẹn, đôi mắt
nhỏ miệng tươi, trông "phúc hậu" hơn với tuổi
đời chồng chất. Nhà thơ này có những bài thơ Khổ
thật Khổ, thơ lúc nào cũng phảng phất cái nghèo
của miền Hải Lăng, Quảng Trị nơi chị mở mắt chào
đời, đất cày lên sỏi đá. Ở đấy còn có con sông
Bến Hải là chứng nhân giữa lằn ranh Nam Bắc. Ở
đó những năm tháng chiến tranh, người dân Quảng
Trị đã bao phen tất tả chạy theo người lính trên
đại lộ kinh hoàng mùa hè 72. Ở đó mà những trưa
mùa hè khi cơn gió Lào thổi về, vài con lợn cỏ
bụng ỏng đen thui đi lang thang nhặt những mảnh
lá chuối sau buổi chợ, bát cơm hẩm mặn mồ hôi
của người đàn bà gánh rong như trộn lẫn với gió
và cát . . .
Với Đông Phương, người bạn một thời chiến tranh
sống trong căn cứ, nghe tiếng phi cơ lên xuống
mỗi ngày, tiếng pháo kích dội về lúc nửa đêm về
sáng, căng thẳng vì không biết sống, chết lúc
nào. Chia xẻ với Đông Phương nỗi buồn của những
người đàn bà thay chồng nuôi con, trải tấm ny
lông trên vỉa hè mà nghêu ngao hát " vui sao
nước mắt lại trào". Vậy mà vẫn làm thơ, vẫn viết
văn khi có được cái tự do để dòng mực tuôn trào
trên giấy trắng. Hình như vì vậy mà cái tình vẫn
như còn nguyên trong ký ức, bởi những kỷ niệm dù
buồn hay vui thì cùng được giữ gìn và nhắc lại
mỗi lần gặp. Bữa cơm trưa trong một quán cơm tấm
thật ngon, vẫn hóm hỉnh nhìn đời bằng đôi mắt
lạc quan , Đông Phương chỉ cho thấy một người mù
quơ cây gậy đi trên đường dành cho người đi bộ,
mà không sợ vấp té, vẫn đi đến nơi về đến chốn.
Chị bảo ít ra lúc này chúng mình vẫn còn hơn một
người, còn có đôi mắt để nhìn cuộc đời với đủ
màu xanh, hồng, tím, đỏ, hoặc nếu như đời có là
màu đen chăng nữa, thì cũng vẫn là chút hạnh
phúc để nhìn thấy . . . màu đen.
Một người phụ nữ có nhiều nghị lực mà tâm hồn
lại rất phong phú và sâu sắc, chị làm thơ, thơ
Đông Phương vần điệu nhịp nhàng, nhiều tình cảm
đối với quê hương xứ sở, nhưng chất chứa ngậm
ngùi vì phơi bày những cái khổ của dân nghèo
miền thôn dã. Đã trải qua thời kỳ sống bấp bênh
với cái khổ, cái nghèo từng ngày, Đông Phương
giờ đây tuy hạnh phúc no đủ, vẫn phảng phất lòng
nhân hậu trong con người của chị. Lạc quan, luôn
nhìn đời với khía cạnh tốt, Đông Phương lúc nào
cũng là người bạn quý dù ít khi được gặp.
Chia tay với những người bạn để lên đường sang
Sacramento, thủ phủ của California, chẳng biết
khi nào sẽ trở lại San Jose, thung lũng Silicon
để gặp lại những người bạn gần xa, cũ và mới,
nhưng ân tình thì hình như đầy thêm một chút,
không biết bao giờ mới trả được. Trước khi tạm
biệt xin gửi lại mấy vần thơ nho nhỏ, dù ở kiếp
này hay kiếp sau thì vẫn đậm đà như vậy:
"Mốt mai có gặp nhau lần nữa
Thì vẫn ân tình như thuở xưa"
Nguyên Nhung
|
|