| |
Bố
tôi
(Hướng
Dương)
Không
vừa ý
thì đi
tìm gái
mười tám
cho nó
hầu hạ,
để cho
tôi yên
thân
Ngày bố
tôi sắp
về hưu,
lúc ấy
ông gần
sáu mươi
lăm tuổi,
tôi thấy
ông có
thái độ
lạ lùng,
không là
con
người
ông vẫn
là lúc
trước.
Ông đã
thay đổi
không
những về
tính nết
mà cả về
cách cư
xử và
hành
động.
Nói cách
khác,
ông đã
trở
thành
một con
người
khác lạ
trong
gia đình.
Ông càng
ngày
càng ít
nói và
cuối
cùng gần
như
không
còn nói
một câu
nào suốt
ngày,
chỉ trả
lời vắn
tắt “có”
hay “
không”
khi
chúng
tôi hỏi,
và nhiều
khi im
lặng
không
trả lời
khi câu
hỏi bắt
ông phải
nói ra
một câu
dài. Đối
với mẹ
tôi, ông
càng
không
nói, chỉ
lầm lầm
lì lì.
Ông vốn
là một
người
nóng
tính,
hay cau
có gắt
gỏng,
hơi một
tí là la
hét um
sùm. Bây
giờ ông
chỉ suốt
ngày yên
lặng,
không để
ý tới ai,
như thể
ông chỉ
còn sống
cho mình
ông. Có
lẽ vì
ông
không
còn giao
tiếp với
mẹ tôi
nhiều
nữa nên
ít còn
cọ sát,
ít đụng
chạm.
Những vụ
to tiếng
thường
xuyên
đối với
mẹ tôi
đã mất
hẳn, vì
ông
không
còn nói
gì với
bà nữa,
ông chỉ
còn là
một sự
hiện
diện
trong
nhà, có
cũng như
không.
Ông cũng
đã cả
đời tỏ
ra là
một
người
khó tính,
luôn
luôn đòi
hỏi sự
tuyệt mỹ,
đòi hỏi
cái tối
đa, cái
nhất,
không
hẳn là
chỉ đối
với mẹ
tôi và
chúng
tôi mà
ngay cả
đối với
chính
ông nữa.
Ông ít
khi bằng
lòng
liền với
những
công
việc
chúng
tôi làm,
ông
thường
hay phê
bình chỉ
trích,
đôi khi
bắt
chúng
tôi sửa
hay làm
lại.
Chúng
tôi thấy
ở nơi
ông một
con
người
khó hợp
với, khó
sống
cùng vì
thế!
Nhưng
ông lại
là một
con
ngưòi
nhiều
tình cảm,
ông sống
cả đời
vì chúng
tôi, ông
thương
chúng
tôi hơn
cả chính
ông, ông
làm cái
gì cũng
vì người
khác, kể
cả những
người
không
ruột
thịt máu
mủ. Ông
lo lắng
từng tí
cho
chúng
tôi,
ngay cả
khi
chúng
tôi đã
trường
thành và
đã có
gia đình
riêng.
Ngày ông
có các
cháu nội,
ông dành
bao
nhiêu
thì giờ
rảnh
chơi với
chúng,
đùa
nghịch
với
chúng
như một
đứa bé
con, ông
cũng
giỡn,
cũng
cười,
cũng
chơi như
chúng,
coi
chúng
như
những
đứa bạn
nhỏ của
mình. Ấy
thế mà
bỗng
nhiên
ông đã
thay đổi
hoàn
toàn,
ông
không
còn thân
thiết
với ai
trong
nhà nữa.
Dường
như ông
chỉ còn
sống cho
bản thân
ông, ông
chỉ còn
nghĩ đến
ông,
không
còn ai
xung
quanh
ông là
quan
trọng
nữa.
Ngay cả
các cháu
nội, ông
cũng
không
còn bồng
bế, nô
đùa với
chúng,
ông đã
quên
chúng,
ông
không xa
lánh
nhưng
không
còn gần
gũi như
xưa.
Nhưng
cái khác
lạ rõ
ràng
nhất là
sự đối
xử của
ông đối
với mẹ
tôi.
Ngày xưa
ông
thương
yêu mẹ
tôi biết
là chừng
nào. Ông
sống vì
bà, ông
cố gắng,
hy sinh
vì bà.
Ông đã
từng
chăm sóc
cho bà
như chăm
sóc cho
một
người
tình,
lúc nào
cũng
muốn có
bà bên
cạnh.
Nhưng
mối tình
nóng hổi
ấy đã
phai
nhạt với
năm
tháng,
một phần
bởi vì
mẹ tôi
không
hiểu
rằng có
ông là
một cái
gì quí
mà trời
cho, bà
luôn
luôn coi
việc có
ông như
là một
sự đương
nhiên,
bà không
gây dựng
hay tìm
cách
nuôi
dưỡng
cho mối
tình
tiếp tục
nẩy nở
hay ít
ra là
không
suy tàn.
Vì thế
mà dần
dần giữa
hai
người
không
còn sự
thắm
thiết
của thuở
xưa nữa,
không
còn sự
cảm
thông,
sự hiểu
biết
nhau,
không
còn mối
tương
quan
thắm
thiết
giữa hai
người
bạn đời,
trái lại
chỉ còn
sự cay
đắng, sự
chống
đối, sự
bất đồng,
và có
thể nói
gần như
là sự
hận thù.
Vì vậy
mà mẹ
tôi coi
sự thể
ông đã
thôi
không
giao
tiếp với
bà nữa
như là
một điều
may mắn,
bà khỏi
bận tâm,
khỏi suy
nghĩ, và
nhất là
khỏi
phải đối
phó với
những
khó khăn
mà, bà
nói do
ông gây
ra.
Sau ngày
ông về
hưu, ông
lại còn
lạ lụng
hơn nữa.
Ông cứ
suốt
ngày
ngồi
trong
phòng
đọc sách,
viết văn,
hay suy
tư. Ông
hay ngồi
hàng giờ
với một
ly rượu
và bao
thuốc
nghĩ
ngợi,
tôi
không
hiểu ông
nghĩ gì,
cái gì
làm cho
ông bận
tâm khi
mà ông
đã về
hưởng
tuổi già,
khi đáng
lý ra
ông phải
được
hưởng sự
thanh
thản của
tâm hồn?
Tôi
không
dám hỏi
ông, mặc
dầu
những
lần tôi
về thăm
nhà cùng
đứa con
ba tuổi,
tôi
không
thấy ông
vui, ông
chỉ ra
ôm đứa
cháu,
hôn nó
một cái
rồi lại
đi vào
trong
phòng
riêng
của ông.
Tôi có
cảm
tưởng
ông sống
trong
một thế
giới cô
lập của
riêng
ông, ông
không
còn màng
tới
những gì
xẩy ra
bên
ngoài
căn
phòng đó,
ông đã
bị lôi
cuốn vào
một thế
giới của
ảo tưởng,
của tiềm
năng,
ông sống
với
những mơ
ước mà
ông đã
không
thực
hiện
được
trong
cuộc đời
mình.
Thế rồi
một hôm,
khi
không ai
để ý đến
ông, ông
đã ra đi,
ông đã
biến mất
để cho
đến khi
đứa cháu
nội vào
gọi ông
ra ăn
cơm
chiều
thì cả
nhà mới
hay ông
không
còn ở đó
nữa, ông
đã đi
rồi. Tôi
vào
trong
phòng
ông lục
lọi xem
ông có
mang thứ
gì theo
hay
không,
thì thấy
ông chỉ
đi người
không,
ông đã
mặc bộ
đồ khi
ông còn
đi làm.
Trên bàn
có tờ
giấy nhỏ
xíu,
trên đó
ông viết:
"Tôi đi
rồi tôi
sẽ về,
không có
gì phải
lo lắng
cả. Đừng
đi tìm
tôi vô
ích."
Và đúng
như lời
ông dặn
dò,
chúng
tôi
không đi
tìm ông.
Mẹ tôi
chẳng tỏ
vẻ lo
lắng gì
cả. Bà
nói:
-Để cho
bố chúng
mày đi
chơi cho
sướng
cái thân.
Ở với
tao ông
thấy khổ,
tao cho
ông ấy
đi ở với
gái trẻ,
đi chán
ông ấy
sẽ về!
Cái sai
lầm ở mẹ
tôi là ở
chỗ ấy.
Bà nói
cứ để
cho bố
tôi đi,
nhưng
rồi ở
nhà ai
lo công
việc
trong
nhà? Mặc
dù bố
tôi có
vẻ bất
thường
nhưng
ông vẫn
là người
quyết
định mọi
việc,
ông vẫn
lo giải
quyết
những
vấn đề
khó khăn
như vấn
đề tiền
bạc, vấn
đề sửa
sang nhà
cửa, và
nhất là
khi phải
đối phó
với
người
ngoài.
Nay ông
đi rồi
thì mẹ
tôi đâu
có biết
phải làm
những
công
việc ấy?
Tôi sẽ
phải
đứng ra
thế ông,
nhưng
nay tôi
đã có
gia đình
riêng,
tôi lo
thân tôi
chưa
xong,
nhiều
khi còn
phải hỏi
ý kiến
bố tôi
thì làm
sao bây
giờ?
Vả lại
có ông ở
nhà thì
mẹ tôi
còn lo
dọn dẹp
nhà cửa,
đi chợ
đi búa
về làm
cơn cho
ông ăn.
Nay ông
đi vắng
mẹ tôi,
vốn dĩ
lười, cứ
để nhà
bừa bộn,
không
lau chùi
nên nhà
bếp nhà
tắm bẩn
như hủi.
Trong
phòng
ngủ quần
áo mặc
rổi mẹ
tôi chất
đống,
chẳng
buốn
treo lên
mà cũng
chẳng
đem đi
giặt.
Phòng
khách
phòng ăn
ôi đủ
thứ la
liệt,
sách báo,
kẹo bánh,
đồ dùng
xài xong
vẫn vứt
đó, chén
trà, cốc
nước
uống
xong
không
buồn dọn,
có khi
để đó
vài ba
ngày,
một tuần.
Đồ đi
mua về
vứt ngay
cửa ra
vào có
khi cả
mấy tuần
không
đem cất.
Mỗi khi
về nhà
thăm mẹ
tôi, hai
vợ chồng
tôi phải
dọn dẹp
cho bớt
ghê mắt,
riêng
tôi chỉ
sợ bố
tôi về
bất tử
thì lại
có
chuyện.
Mẹ tôi
hay cãi
lại ông
làm ông
nổi giận
đập phá
đùng
đùng. Bà
có tật
hay dựng
đứng câu
chuyện
lên rồi
đổ lên
đầu bố
tôi, làm
cho bố
tôi phát
điên lên
thì mới
thôi.
Hơn nữa,
mẹ tôi
là dân
Hà Đông,
bà có
cách nói
xéo, làm
người
nghe rất
khó chịu.
Bố tôi
ghét cái
tính xấu
đó của
bà nhưng
chẳng
làm được
gì. Bố
tôi nói
càng về
già mẹ
tôi càng
có nhiều
hành
động làm
cho bố
tôi bực
bội. Tối
đến bà
thức có
khi đến
hai giờ
sáng chỉ
để ngồi
xem báo
hay xem
truyền
hình. Bố
tôi dục
đi ngủ
bà cứ lờ
đi. Sáng
ra bà
không
dậy nổi,
bố tôi
chuẩn bị
bữa ăn
sáng
xong, bà
cũng
chưa
chịu dậy,
đến khi
bố tôi
ăn xong
bà mới
ra ngồi
ăn. Cơm
tối cũng
vậy, mẹ
tôi đi
làm tan
sở không
về liền,
bố tôi
chờ
không
được
dành dọn
cơm lên
ngồi ăn,
ăn nửa
chừng
thì bà
về. Bố
tôi ăn
xong đi
nơi khác,
mẹ tôi
ngồi ăn,
cả tiếng
đồng hồ
sau vẫn
chưa
xong, bà
cứ ngồi
một mình
chậm rãi
ăn, lúc
nào muốn
thôi thì
thôi.
Nay bố
tôi đi
rồi thì
mẹ tôi
chẳng
còn đối
tượng để
mà chống
đối nữa,
bà dành
toàn thì
giờ đọc
báo hay
coi
truyền
hình. Bà
có thể
ngồi đọc
báo hoặc
coi
truyền
hình hai
ba tiếng
đồng hồ,
quên ăn
quên ngủ.
Tin tức
gì bà
cũng
thuộc
nằm lòng.
Bà cứ kể
đi kể
lại
những gì
bà học
được,
nhiều
khi
người
nghe
phải
nhắc là
bà đã
nói hai
ba lần
rồi thì
bà mới
thôi kể.
Bà cũng
có thể
ôm điện
thoại
nói
chuyện
với bạn
bè hết
giờ này
sang giờ
khác.
Còn nói
đến việc
đi mua
bán thì
có khi
mẹ tôi
đi không
còn biết
giờ về.
Bà đi
đến đâu
cũng xem
hết thứ
này đến
thứ kia
nhưng
không
mua, bà
chỉ
thích
xem để
mà xem,
để mà
biết.
Cái gì
bán ở
đâu bà
đều biết,
nói đến
cái gì
bà cũng
hay.
Có một
điều là
mẹ tôi
hay nói
nhưng
không
bao giờ
làm. Bà
muốn cái
gì thì
cứ nói
lên cho
bố tôi
nghe,
rồi nếu
ông
không
làm thì
bà than,
bà trách.
Bà nói
bảo làm
không
làm để
bây giờ
như thế
này, như
thế kia.
Mà khi
bà không
bằng
lòng một
chuyện
gì thì
bà cứ
nói tới
nói lui,
có khi
cả hai
ba năm
sau bà
vẫn còn
lôi
chuyện
cũ ra mà
nói. Bố
tôi đến
khổ vì
bà,
nhưng
ông cho
đó là vì
bà già,
bà thay
đổi tính
nết, bà
khó chịu
cũng như
tất cả
những
người
đàn bà
khác khi
về già.
Khi bố
tôi góp
ý với bà
thì bà
nói với
bố tôi:
-Không
vừa ý
thì đi
tìm gái
mười tám
cho nó
hầu hạ,
để cho
tôi yên
thân.
Tôi
không
hiểu
trong
đầu bà
nghĩ gì
mà lại
nói thế,
nhưng
tôi biết
bà cũng
không
sung
sướng gì.
Câu nói
đó thể
hiện một
sự bất
mản cùng
cực. Có
một điều
tôi thấy
lạ là
thay vì
đạp đổ,
tại sao
bà không
chịu có
một thái
độ xây
dựng?
Tâm lý
người
đàn bà
vào cái
tuổi
trên năm
mươi hẳn
là rất
phức tạp,
tôi
không
hiểu
được
những
biến
chuyển
sinh tâm
lý xẩy
ra nơi
họ. Tôi
nghe nói
là chính
những
người
đàn bà
đó cũng
không
hay biết
rằng họ
đã thay
đổi, họ
đã khác
xưa, và
vì thế
họ khăng
cho rằng
họ vẫn
thế, lỗi
là do
những
người
khác chứ
không
phải tại
họ.
Tôi nghĩ
bố tôi
đã chán
cái cảnh
cơm
không
ngọt
canh
không
bùi, ông
đã không
chịu nổi
cái uơng
ngạnh
của mẹ
tôi, ông
muốn
sống
những
ngày còn
lại
trong
yên bình,
và vì
thế ông
đã rút
lui vào
cái thế
giới của
riêng
ông, vào
giữa bốn
bức
tường
của căn
phòng
làm việc
mà xưa
kia ông
không
thích
vào.
Nhưng
như thế
cũng
không
mang lại
cho ông
niềm
sung
sướng,
vì ai
sướng
khi chỉ
sống
trong
môi
trường
chết,
môi
trường
im lìm,
không
tiếng
nói,
tiếng
cười? Ai
có thể
ngày đêm
chìm đắm
trong sự
u mê, sự
day dứt
của nội
tâm? Tôi
biết ông
đang bị
giằng co
giữa bổn
phận và
hạnh
phúc cá
nhân.
Ông đã
không
chịu ly
dị vì
còn con
cái, còn
các cháu
của ông
mà ông
thương
yêu vô
ngần. Mẹ
tôi đã
bao lần
nói
thẳng
vào mặt
ông:
-Sao ông
không ly
dị tôi
cái
quách đi
cho rồi?
Để mà
còn đi
tìm gái
tơ mà
hưởng
đời chứ?
Ông còn
tiếc cái
gì nữa?
Tôi
không
biết bà
có thực
sự muốn
thế
không,
nhưng
tôi thấy
bố tôi
chỉ cắn
răng lại
để khỏi
nói câu
gì, vì
tôi biết
nếu đổ
thêm dầu
vào lửa
tất nó
sẽ bùng
lên và
không
còn cứu
chữa
được nữa.
Ngày bố
tôi ra
đi,
chúng
tôi
tưởng
ông đi
đâu chơi
một hai
ngày.
Nhưng cả
tháng
trôi qua
chúng
tôi
không
thấy về,
tôi cũng
hơi lo
lắng.
Tôi gọi
điện
thoại
đến các
bác, các
chú, bạn
bè của
ông thì
không ai
biết ông
đi đâu,
ông
không hề
thổ lộ
kế hoạch
của ông
cho ai
hết. Họ
cũng
ngạc
nhiên về
hành
động này
và không
ngờ bố
tôi lại
có thể
làm cái
chuyện
bất
thường
như thế.
Nhưng
tôi thì
không
ngạc
nhiên
chút nào.
Ngày ông
còn trẻ
ông đã
làm
nhiều
chuyện
ngông
cuồng.
Đang đi
làm yên
bình ở
sở này,
ông vì
bất bình
một
chuyện
gì, ông
xin nghỉ
và sang
làm một
sở khác.
Trong
cuộc đời
ông, ông
đã thay
đổi việc
làm như
chong
chóng,
ông đã
không
làm một
công
việc gì
quá năm
năm. Ông
tuyên bố
làm lâu
một nơi
chán,
ông thấy
cần
thiết
phải
thay đổi.
May mà
ông là
người có
chí, ông
luôn
luôn
trau dồi
kiến
thức, và
ông có
khả năng
trí tuệ
phi
thường,
không có
một công
việc gì
mà ông
không
làm cho
bằng
được.
Cuộc đời
ông đã
có những
lúc khổ
cùng cực,
ông đã
phải làm
những
công
việc
nặng
nhọc hay
thật tầm
thường
để tạm
sống.
Ông có
tinh
thần đấu
tranh
phi
thường,
dù ở bất
cứ hoàn
cảnh nào
ông cũng
cố vươn
lên để
thoát
khỏi sự
cơ cực.
Ông rất
tự hào
về những
thành
quả ông
gặt hái
được
trong
cuộc đời.
Tất
nhiên
tôi rất
hãnh
diện về
con
người
phấn đấu
của ông,
tôi rất
muốn
giống
ông và
ông đã
là gương
sáng dẫn
đường
cho tôi
đi.
Chính vì
tôi nhìn
vào ông,
noi
gương
ông, mà
cũng đã
thành
công
nhanh
chóng và
tiến lên
trong sự
nghiệp
của mình.
Và như
thế bố
tôi đi
đâu,
không ai
biết,
cho đến
một hôm
chúng
tôi nhận
được một
tấm
thiệp
ông gởi
về đề
tên Bé
Mai, đứa
con gái
đầu lòng
của em
tôi,
sanh ra
khi ông
không có
nhà. Tấm
thiệp
mang
những
giòng
chữ nắn
nót của
ông như
sau:
Cháu Mai
thương
yêu của
Ông Nội,
Ông rất
tiếc khi
cháu ra
đời ông
không có
mặt để
bồng
cháu
ngay từ
khi mới
lọt lòng
mẹ. Vì
hoàn
cảnh đặc
biệt ông
không
thể về
ngay
thăm
cháu,
nhưng
khi nào
ông về
thì ông
hứa sẽ
không
quên có
quà cho
Bé Mai
của ông.
Ông hôn
cháu và
yêu cháu
vô cùng.
Nhìn con
dấu bưu
điện
chúng
tôi ngạc
nhiên
thấy
rằng ông
đã gởi
nó từ
một tiểu
bang xa
xôi cách
chúng
tôi cả
mấy ngàn
dặm. Thì
ra ông
đã quyết
định ra
đi thật
xa, đi
như thể
đi trốn
cái nơi
đã làm
cho ông
buồn khổ,
đi để mà
quên
lãng, đi
để không
còn gì
gắn bó
với một
dĩ vãng
đau
thương.
Thành
phố ông
đang ở
cũng là
một
thành
phố lớn,
nơi đó
cũng có
nhiều
ngưới
Việt
sinh
sống.
Tôi chưa
bao giờ
đặt chân
đến nơi
đấy
nhưng
tôi nghe
nói nơi
đó sinh
hoạt của
cộng
đồng
cũng cao,
cũng có
nhiều
người
làm ăn
buôn bán
nhộn
nhịp, và
nhiều
khu cũng
sầm uất
không
khác gì
nơi tôi
đang ở.
Trong
khi
chúng
tôi rất
xúc động
khi nhận
thiệp
ông gởi
về thì
mẹ tôi
vẫn dửng
dưng như
không.
Bà cũng
chẳng
buồn cầm
đến lá
thơ mà
cũng
chẳng
hỏi xem
bố tôi
đã viết
những gì
trong ấy.
Tôi lấy
làm lạ
sao mà
mẹ tôi
lại có
thể dứt
tình với
bố tôi
như vậy.
Tôi muốn
tìm hiểu
xem bố
tôi đi
xa như
thế để
sống với
ai,
không
phải vì
tôi tò
mò hay
muốn tìm
cách kết
tội ông,
mà là vì
tôi
thương
ông. Tôi
thương
bố tôi
vì tôi
biết
chẳng
đặng
đừng bố
tôi mới
phải ra
đi như
thế, tôi
biết
rằng xa
các con
cháu ông
nhớ lắm
và cũng
khổ sở
không ít.
Và tôi
định tâm
một ngày
nào gần
đây tôi
sẽ xin
nghỉ một
tuần lễ
để đi
tìm ông.
Tôi chưa
kịp đi
thì bố
tôi về.
Ông về
vào lúc
đêm tối
khi mẹ
tôi đã
đi ngủ,
ông lẳng
lặng mở
cửa vào
nhà, rồi
vào
phòng
ông nghỉ.
Sáng hôm
sau khi
mà mẹ
tôi còn
ngủ thì
ông đã
thức dậy
pha trà
uống và
ngồi đọc
báo ở
ngoài
phòng
khách.
Nghe
tiếng
động mẹ
tôi tỉnh
dậy và
thấy ông,
bà rất
ngạc
nhiên.
Ông đi
như vậy
là gần
ba tháng
trời, ra
đi ông
không
nói cho
ai hay
mà về
cũng
chẳng
báo
trước.
Mẹ tôi
nói:
-Tôi
tưởng
ông đi
luôn rồi
chứ! Sao
lại còn
về? Tôi
tưởng
ông đi
cho
sướng
cái thân
thì còn
về nhà
làm gì
cho khổ
thêm cả
tôi nữa?
Bố tôi
cứ im
lặng
chẳng
nói câu
gì. Mẹ
tôi nói
thêm:
-Nó bòn
hết của
rồi nó
đuổi ông
đi chứ
gì. Bây
giờ lại
về lấy
thêm
tiền
mang đi
nuôi nó
chứ gì?
Cáu quá
bố tôi
nói lại:
-Bà xem
tôi có
lấy đồng
xu nào
mang đi
không
nào? Bà
đừng có
ăn nói
hồ đồ.
Đừng có
làm cho
tôi điên
tiết lên.
Khôn hồn
thì để
cho tôi
yên!
Mẹ tôi
vừa đi
xuống
bếp vừa
nói:
-Ông
không có
tiền thì
nó ăn bả
gì mà nó
nuôi ông?
Thế là
bố tôi
đập bàn
một cái
rầm, rồi
nói:
-Đã bảo
câm cha
nó cái
miệng
lại mà
không
chịu câm.
Bố tôi
đi vào
phòng
của ông
đóng xầm
cửa lại.
Thế là
ông lại
trở về
với cái
thế giới
của ông,
trong
cái thế
giới đó
không có
người vợ
oái oăm,
khó chịu
mà ông
nay ghét
thậm tệ.
Chiếu
thứ bẩy
nghe tin
bố tôi
về, hai
anh em
tôi mừng
rỡ, định
tổ chức
đi ăn
cơm
chiều
cho cả
gia đình.
Em tôi
bế bé
Mai về
ra mắt
ông nội,
ông mừng
hết sức,
ông ẵm
bé, ông
hôn, ông
không
chịu rời
đứa cháu
cưng của
ông. Ông
về ông
đã mua
cho cháu
ông một
tấm lắc
đeo tay
bằng
vàng tây,
ông lấy
ra đeo
cho cháu
rồi bắt
chụp cho
ông cả
chục tấm
ảnh ông
bồng bé
Mai của
ông.
Thấy ông
vui
sướng,
chúng
tôi mừng
quá
chừng,
mẹ tôi
tức tối
nói:
-Sao ông
không đẻ
một bé
Mai của
ông mà
ôm mà
thương
yêu? Lấy
một con
vợ mười
tám tuổi
thì nó
đẻ cho
chứ có
khó gì?
Thế là
bố tôi
giận,
không đi
ăn cơm
chiều
nữa, ông
nói ông
“không
đi ăn
với con
mẹ khó
chịu đó”.
Ông bảo
mẹ tôi
là việt
cộng,
chuyên
môn phá
hoại, cứ
đến lúc
cả gia
đình vui
vẻ thì
bà phải
làm một
cái gì
để phá,
để chọc
giận bố
tôi, làm
cả nhà
hết vui
vẻ. Mẹ
tôi
chẳng
cần có
bố tôi
đi, bà
nói tỉnh
bơ:
-Bố mày
dỗi, để
cho ông
ấy ở nhà.
Mình đi
mình cứ
đi!
Chúng
tôi đành
đi mua
đồ ăn về
nhà, bố
tôi
không
còn hứng,
ông ăn
hai ba
miếng
rồi bồng
bé Mai
vào
trong
phòng
ngồi ôm
cháu. Mẹ
tôi ngồi
ăn vui
vẻ như
không có
chuyện
gì,
trong
khi
chúng
tôi thì
rầu thối
ruột.
Những
ngày ông
ở nhà,
chiều
nào ông
cũng đến
thăm các
cháu nội,
nhất là
cháu bé
gái bé
bỏng của
ông.
Nhưng vì
ở nhà
không
được vui,
hai tuần
sau ông
lại ra
đi, ông
đi mà
không
nói
trước
với ai,
tự dưng
ông biến
mất,
không để
lại một
vết tích
gì.
Thế rồi
mỗi
tháng
ông biên
thơ về
cho các
cháu,
ông hỏi
thăm,
nói
chuyện
này nọ,
và thơ
nào ông
cũng nói
ông nhớ
chúng nó,
nhất là
bé Mai
của ông.
Ông muốn
chúng
tôi gởi
hình các
cháu cho
ông và
ông cho
một hộp
thơ để
chúng
tôi gởi
tới đó.
Sáu
tháng
trôi
qua,
không
thấy ông
về thăm
nhà,
chúng
tôi sốt
ruột,
tôi bèn
xin nghỉ
một tuần
đi tìm
ông. Tôi
nghĩ tôi
biết
thành
phố nơi
ông ở,
tôi chỉ
cần đi
hỏi thăm
thì sẽ
tìm được
ra ông,
nhưng
tôi đã
lầm. Năm
ngày
trời tôi
đi khắp
các khu
phố có
người
Việt làm
ăn buôn
bán hỏi
thăm,
không ai
biết và
không ai
nhận ra
người
trong
tấm hình
của bố
tôi mà
tôi đưa
cho xem.
Ban ngày
tôi đi
mỏi cả
chân,
chiều
tối về
khách
sạn, tôi
điện
thoại
cho
những
người
quen
biết ông
hiện
đang ở
vùng này
để xem
bố tôi
có liên
lạc với
ai không,
thì cũng
không ai
biết tin
gì vì
ông
không hề
tiếp xúc
với họ.
Thật là
một
chuyện
lạ lùng,
như thể
ông muốn
giấu hết
tất cả
mọi
người về
sự hiện
diện của
ông ở
nơi đây.
Đến tối
hôm thứ
sáu, khi
tôi đã
thất
vọng
tưởng
phải bay
về tay
không,
thì bố
tôi gọi
điện
thoại
đến
khách
sạn hỏi
tôi. Ông
nói ông
được
biết tôi
đi tìm
ông nên
ông muốn
gặp tôi
nói
chuyện.
Ông hẹn
sáng thứ
bẩy hai
bố con
đi ăn
sáng gặp
nhau, vì
chiều
tôi đã
lên máy
bay trở
về. Ông
cho nơi
hẹn và
giờ hẹn
rồi thôi
không
nói gì
hơn nữa.
Đêm hôm
ấy tôi
trằn
trọc
không
ngủ được.
Tôi
không
hiểu tại
sao ông
biết tôi
đến đây
đi tìm
ông mà
ông gọi?
Tại sao
ông lại
chọn nơi
này mà
đến ở?
Ông sống
với ai
nơi đây?
Thật là
những
điều bí
hiểm.
Sáng hôm
sau tôi
đến nơi
hẹn sớm
cả nửa
tiếng
đồng hồ
vì tôi
muốn xem
ông tới
bằng
cách nào
và với
ai. Đúng
giờ hẹn
tôi thấy
một
chiếc xe
hơi loại
sang đậu
lại cách
nơi đây
vài trăm
thước và
tôi thấy
ông bước
xuống.
Ông mặc
một bộ
đồ mà
tôi chưa
thấy bao
giờ,
trông
rất lịch
sự, ông
bước rất
khoan
thai, vẻ
mặt tươi
tỉnh,
không ủ
rũ như
khi ở
nhà. Cái
gì làm
ông thay
đổi như
vậy, tôi
tự hỏi.
Tôi thấy
ông đẩy
cánh cửa
tiệm ăn,
nhìn một
vòng,
thấy tôi,
ông cười
và tiến
tới. Ông
nói:
-Làm gì
mà con
phải đi
tìm bố
vậy? Thư
thả rồi
bố về
chứ gì?
-Con
muốn
sang đây
thăm bố
và xem
bố sống
làm sao.
Ở nhà
chúng
con hơi
lo…
-Sao
phải lo?
Bố sống
ở đâu
chẳng
được?
Thôi con
đã đến
đây thì
để bố kể
hết
chuyện
cho con
nghe.
Con lớn
rồi
chẳng có
gì mà
phải
giấu con
nữa.
Người
hầu bàn
đến,
chúng
tôi gọi
phở và
cà phê
đen. Bố
tôi hỏi
chuyện ở
nhà ra
sao, tôi
nói mọi
chuyện
vẫn bình
thường,
các cháu
nhớ ông
lắm,
chúng cứ
hỏi ông
đâu.
Nghe nói
vậy vẻ
mặt bố
tôi hơi
thay đổi,
phảng
phất một
nỗi buồn,
tôi biết
ông cũng
nhớ các
cháu ông
lắm.
Phở mang
ra,
chúng
tôi vừa
ăn vừa
nói
chuyện.
Tôi hỏi:
-Bố ở
đây với
ai? Ăn
uống làm
sao?
Ông
ngừng ăn,
tay vẫn
còn cấm
hai
chiếc
đũa,
nhìn tôi
như muốn
xem tôi
có ẩn ý
gì không.
Ông ăn
thêm vài
ba gắp
rồi đẩy
bát phở
sang một
bên, cho
đường
vào cà
phê uống.
Ông nói:
-Bố ở
với một
người
bạn quen
từ lâu
lắm rồi,
con
không
biết bà
ấy. Bố
quen từ
trước
khi lấy
mẹ con.
-Bố tìm
bà ấy hả
bố?
-Không,
tình cờ
bố gặp
lại. Đã
gần bốn
mươi năm
trôi
qua. Bố
không
nhận ra
bà ta
nhưng bà
nhận ra
bố. Thật
là một
chuyện
lạ lùng!
-Bố gặp
hồi nào?
-Cách
đây năm
năm, ở
Paris,
tại nhà
một
người
bạn
chung
của hai
người.
-Sau đó
bố vẫn
tiếp tục
liên lạc?
-Thỉnh
thoảng,
bố nói
chuyện
điện
thoại
thôi.
Lúc sau
này bố
buồn thì
tâm sự
nhiều
hơn. Bà
ấy góa
chồng đã
hơn mười
năm nay
rồi, có
một đứa
con gái
nay cũng
bằng
tuổi
con. Bà
làm ăn
buốn bán
nên khá
gỉa, nhà
cửa rộng
mà không
có ai ở,
chỉ có
hai mẹ
con nên
mời bố
sang
chơi.
-Thế rồi
bố ở
luôn ?
-Không
bố đâu
có tính
ở luôn?
Ở nhà
lúc nào
tinh
thần
cũng
căng
thẳng,
làm sao
bố chịu
mãi cho
được. Bố
bị suy
nhược
thần
kinh vì
thế. Ở
đây
thoải
mái, bố
thấy dễ
thở, bố
bớt u
sầu,
không
còn buồn
bực. Bố
ở tạm
một thời
gian cho
khỏe lại…
-Con
thấy bố
có khá
hơn ở
nhà, bố
bình
thường
hơn
trước,
con mừng
lắm.
Nhưng ở
như thế
mãi sao
tiện?
-Người
ta mời
bố, chứ
bố có
xin đâu?
Nhà cửa
rộng
thênh
thang để
không,
không ai
chăm
nom, bố
làm quản
gia,
người ta
còn mừng.
Nói thế
chứ bà
ta
thương
bố, thấy
bố buồn
khổ,
muốn
giúp. Bố
không
thấy có
gì phiền
hà…
-Cơm
nước thì
sao hả
bố?
-Ở chung
nhà thì
ăn chung
chứ có
gì đâu?
Bố ăn
đâu có
bao
nhiêu?
-Bố có
góp tiền
hàng
tháng
không?
-Bà ấy
đâu chịu
lấy? Bà
nói, bố
đến ở là
vui cửa
vui nhà,
bố không
phải lo
lắng gì
cả. Tiền
mà làm
gì hả
con?
-Thế còn
tiền máy
bay đi
về?
-Con
Thủy nó
mua cho
bố. Quần
áo bố
mặc cũng
vậy, nó
thương
bố lắm!
Mỗi lần
bố về
nhà, cả
hai mẹ
con cứ
thấp
thỏm,
chỉ sợ
bố không
qua nữa!
-Vì vậy
mà lâu
quá bố
không về
nhà?
-Có lẽ
vậy.
Không có
vé máy
bay thì
làm sao
về? Mà
về đến
nhà là
lại có
chuyện,
bố không
muốn về
nữa! Mẹ
con đâu
còn
thương
bố nữa?
-Bà ấy
thương
bố nhiều
lắm phải
không?
-Không
biết,
nhưng ở
đây
không
bao giờ
có một
vấn đề
gì để
buốn
phiền!
-Bố
thích ở
đây hơn?
-Không
hẳn là
thế!
Hoàn
cảnh bó
buộc. Bố
đâu còn
cách lưạ
chọn nào
khác? Xa
con và
các cháu,
bố nhớ
lắm chứ!
-Con
biết!
Thôi con
nghĩ thế
này cũng
được. Bố
cần có
cuộc
sống
riêng
của bố,
con
không
dám nói
gì.
-Con về
cứ coi
như
không
tìm ra
bố. Chớ
có nói
gì với
ai. Cái
này là
bí mật
giữa hai
bố con
mình.
-Thưa bố
vâng!
Chưa bao
giờ bố
tôi lại
tâm sự
với tôi
như thế!
Tôi nghĩ
ông cảm
thấy
thoải
mái hơn
sau khi
cho tôi
biết
những gì
ẩn náu
trong
lòng ông
từ nhiều
năm nay.
Sau khi
ông đã
chia sẻ
nỗi lòng
của ông
với tôi,
ông
không
còn phải
chịu cái
gánh
nặng ấy
một mình.
Tôi thấy
hình như
ông thở
ra khoan
khoái,
và ông
ra về
vui vẻ.
Ông ôm
vai tôi,
chúng
tôi ra
cửa, ông
leo lên
chiếc xe
vẫn chờ
từ nãy
giờ nơi
đó, tôi
về khách
sạn để
chuẩn bị
ra phi
trường.
Những
lần sau
ông về,
ông ở
nhà hai
vợ chồng
tôi, ông
vui chơi
với các
cháu nội,
nhưng về
được một
tuần,
ông lại
sốt ruột
đòi ra
đi. Tôi
hiểu ông
nên
không
dám nói
gì. Chỉ
có các
cháu nhỏ,
chúng cứ
nhao
nhao
“Ông nội
đừng đi!
Ông nội
đừng đi!”
làm ông
chảy
nước mắt
mỗi khi
ra đi.
Tôi cũng
một năm
hai lần
lấy cớ
đi họp,
sang
thăm ông
vài ba
ngày.
Chúng
tôi chỉ
gặp nhau
ở nơi
công
cộng,
ông
không
bao giờ
cho tôi
biết nơi
ông ở,
càng
không
cho tôi
biết
ngươì
đàn bà
bí mật
mà ông ở
nhờ.
Cứ như
thế được
mười năm
trời.
Rồi một
hôm ông
về, ông
ốm nặng
đòi tôi
đưa vào
nhà
thương.
Mới vào
hôm
trước
hôm sau
thì ông
qua đời.
Những
lần tôi
vào với
ông vào
những
giờ chót
ông sắp
ra đi,
tôi thấy
hai
người
đàn bà,
một
người
lớn tuổi
như mẹ
tôi, ăn
mặc sang
trọng,
ngồi nơi
chiếc
cửa sổ
cách
phòng bố
tôi nằm
chừng
mươi
thước.
Trông họ
nghiêm
trang và
có vẻ
buồn rầu
lắm. Tôi
biết
ngay đó
là Thủy
và mẹ
chị,
người đã
nuôi
dưỡng
chăm sóc
bố tôi
hơn mười
năm qua.
Những
ngày xác
bố tôi
quàn ở
chùa,
tôi thấy
suốt
ngày
bóng
dáng hai
người
đàn bà
ấy lảng
vảng ở
sân chùa,
người mẹ
cầm
chiếc
khăn tay
lau mắt.
Tôi lấy
làm xót
xa cho
bà, vì
bố tôi
chết, mẹ
tôi
không
buồn,
không
khóc mà
bà thì
đau đớn
sụt sùi.
Và bà
lại
không
được
khóc
công
khai!
Thật là
một sự
bất công,
nhưng
làm sao
được?
Định
mệnh đã
an bài
như thế!
Ngày xưa
bố tôi
đã bỏ
người
con gái
ấy để
lấy mẹ
tôi. Thế
mà một
đời,
người ấy
vẫn
thương
vẫn muốn
làm sao
cho bố
tôi bớt
khổ.
Công lao
ấy tôi
ghi
trong
lòng mãi
mãi.
|
|