Tháng tư thường cho tôi nhiều
nỗi buồn và nhớ. Buồn vì từ đó, ta làm thân
mất nước không nhà, và nhớ vì trước đó, có quá
nhiều kỷ niệm không bao giờ còn tìm lại được.
Giữa lúc lòng tôi đang chơi vơi, thì chị bạn
rủ theo đoàn người về thủ đô Hoa thịnh Đốn để
coi hoa Anh Đào nở, và nhất là đi thăm bức
tường đá đen, ghi lại tên tuổi của hơn năm
mươi tám ngàn tử sĩ Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, đã
bỏ mình để bảo vệ tự do của miền Nam xưa. Với
tôi, đó là một dịp may đến thật tình cờ.
Tôi vẫn thường nghe nói về vườn
hoa Anh Đào, mà vương quốc Nhật tặng cho nhân
dân Mỹ khi xưa ở thủ đô, đang khoe sắc mỗi độ
xuân về. Thật như thỏa tấm lòng vì cả hai,
được nhìn những cành hoa mà cả một thời tuổi
trẻ ước mơ, và đến tận nơi bức tường đá đen để
tìm tên một người đã là điều tôi mong muốn từ
lâu. Thế nên tôi thu xếp hành trang vôi vã đi
ngay. Hơn hai mươi bốn giờ ngồi trên xe theo
nhóm người du ngoạn, đã đưa tôi từ miền Texas
xa xôi về tới thủ đô.
Con đường Ohio chạy dọc theo bờ
sông Potomac, hoa Anh đào đã nở rực rỡ một màu
hồng phơn phớt trắng. Hơi lạnh đầy trong không
khí của một mùa đông dài còn sót lại, vương
qua mùa xuân, đọng trên những cánh hoa, dọc
theo con đường Constitution dẫn đến bức tường
đá đen nằm kia, trầm mặc u buồn.
Tháng Tư, hoa đã nở từ lâu. Xác
hoa rơi lả tả, làm hồng cả một khoảng không
gian quanh những con đường, chạy dọc theo công
viên. Hoa Anh Đào thật đây rồi! Những cánh hoa
tươi xinh mà ngày xưa, tôi chỉ được nhìn thấy
trong phim ảnh, rồi thầm cảm mến những kiếm sĩ
của xứ Phù tang, cô đơn vung đường gươm, để
hoa rơi trong tuyết lạnh; thì hôm nay, đang
rực rỡ khoe sắc trước mắt tôi đây. Tôi tách ra
khỏi nhóm người, đi bộ một mình dưới những tàn
cây. Tôi vẫn thích đưọc đi một mình, để nhớ về
những ngày tháng đã dần qua.
Ngày xưa, chưa mất miền Nam,
gia đình tôi đã có một cuộc sống ấm êm, hạnh
phúc. Chồng tôi, một người lính trận, mỗi lần
về phép thường hay cùng đi với một quân nhân
Mỹ, cố vấn trong đơn vị. Hai người cùng làm
việc, cùng chung sở thích và ý nguyện, nên rất
thân nhau.
Thuở ấy, tôi không biết nhiều
về đất Mỹ như bây giờ; nhưng qua lời anh diễn
tả, cũng đủ hiểu rằng, người lính Mỹ ấy đến từ
một vùng quê xa xôi miền trung bắc Hoa Kỳ.
Ngoài cái vẻ bên ngoài rất tài tử, râu ria xồm
xoàm, vì những ngày tháng lăn lóc trong chiến
trận chưa kịp cắt tỉa, thì Mike Wright thật
nhân hậu và hiền lành. Tôi cũng ngạc nhiên với
tấm lòng rộng lượng, hồn nhiên của nguời Mỹ ấy.
Họ đã mang biết bao tài sản, cả sinh mạng khi
đến giúp đất nước tôi, hòa nhập vào đời sống
người dân bản xứ, tươi vui trong cuộc sống.
Bởi thế, anh chàng râu tia xồm xoàm Mike chiếm
được cảm tình của gia đình, nhất là bà chị lớn
chưa chồng của chúng tôi ngay. Chuyện tình của
một người lính viễn chinh từ một đất nước xa
xôi, với người con gái Việt Nam còn nguyên nền
nếp gia phong diễn ra thật êm đềm, hạnh phúc,
với một đám cưới đậm chất phương Đông. Chị tôi
khăn đóng, áo dài bên cạnh anh Mike cũng áo
dài khăn đóng. Trông họ cũng thật vừa đôi!...
Từ đó, tôi không còn cô đơn
trông ngóng hằng đêm, mà có cả chị tôi là kẻ
đồng tình, đồng cảnh. Chúng tôi đã có những
ngày đợi chờ trong lo lắng, đã có những ngày
đoàn viên trong hạnh phúc. Những tháng tươi
vui của một thời son trẻ tưởng như không bao
giờ dứt, cho đến một ngày kia.... Tôi không
quên được cái ngày người chỉ huy hậu cứ tiểu
đoàn đích thân đến báo cho tôi biết là, chồng
tôi và đơn vị của chàng không về nữa. Cả người
cố vấn Mỹ dễ thương, đang là anh rể của tôi,
cũng cùng chung số phận. Một đơn vị oai hùng,
thiện chiến, tưởng như không bao giờ thua trận,
đã nằm lại đâu đó trên vùng đất Hạ Lào của mùa
hè khói lửa. Tôi và người chị, ngày ấy thực sự
bị cuốn vào những cơn ác mộng; nhất là khi chị
tôi biết được rằng mình vừa khó ở, và chưa
thông báo cho anh Mike biết về đứa con vừa
thành hình trong bụng chị.
Sau khi miền Nam lọt vào tay
phương Bắc, đó là một quãng đời địa ngục trần
gian đến với chúng tôi. Nhất là chị với đứa
con lai, đã hứng chịu trăm đắng ngàn cay bởi
sự dè bỉu, khinh khi, cũng như phân biệt đối
xử của người cai trị mới. Chị tôi bị hành hạ,
bị lăng nhục, bị đe dọa đưa vào cái trại gọi
là phục hồi nhân phẩm, mà thực chất là tước
đoạt hết nhân phẩm con người. Chịu đựng bao
nhiêu đắng cay, khổ sở, nhưng chị tôi vẫn cắn
răng làm việc nuôi dạy con khôn lớn, nên nguời.
Có một điều làm tôi lạ lùng là,
tình yêu của chị dành cho anh hơn hẳn những
tình yêu thường tình. Chị luôn nhắc tới anh
với những lời yêu thương trang trọng, với sự
bùi ngùi, thương tiếc của một người góa phụ
tưởng nhớ chồng. Chị không đòi hỏi gì ở anh
cũng như đất nước anh. Khi chương trình tái
định cư những người con lai bắt đầu, tôi cũng
tưởng chị vui sướng lắm. Nhưng không, chị từ
chối ra đi, chỉ vì còn nặng lòng với mảnh đất
được sinh ra, và đứa cháu tôi cũng vui vẻ vâng
theo lời mẹ.
Tôi không giống và cũng không
chịu đựng được như chị. Tôi chọn ra đi, để đưa
các con tôi về với tự do. Khi con thuyền mong
manh đưa chúng tôi ra biển, tôi đã thầm cầu
nguyện ơn trên cho chúng tôi vượt sóng được
bình an. Tôi đã chọn tự do hay là chết và chân
thành cầu xin đó là một sự chọn lựa đúng đắn
và may mắn nhất trong đời....
Cứ mải suy nghĩ và đi theo con
đường hoa, tôi đến trước bức tường đá đen tự
bao giờ. Con đường dần xuống thấp để những
dòng tên trắng hiện ra. Một cặp vợ chồng người
Mỹ trắng đã già lắm, run rẩy dắt tay nhau bước
lên bực thang. Mắt người đàn bà còn ướt đỏ.
Tôi đoán rằng bà vừa mới khóc.
Gặp nhau
trên bực thang đầu tiên, tôi vui vẻ chào hai
người rồi hỏi lớn:
- Ông bà
từ đâu tới?
- Chúng
tôi từ Ohio, còn cô?
- Thưa ông
bà tôi từ Texas.
Người đàn
ông râu dài nhưng cắt tỉa gọn gàng, dáng vẻ
hiền từ, thân thiện. Ông ta mỉm cười hỏi lại:
- Tôi muốn
hỏi cô người nước nào? Phi, Tàu, Nhật hay Thái
lan?
- Thưa ông,
tôi là người Việt Nam.
Bỗng nhiên,
tôi thấy gương bặt người đàn bà dường như đổi
sắc. Hình như một sự giận dữ bất ngờ chợt làm
bà ta vùng vằng, cố bước lên bậc thang ngắn
tiến về phía trước. Tôi ngạc nhiên nhìn ông
già, chờ đợi một lời giải thích về cử chỉ bất
thường của bà. Chắc có một điều gì không ổn,
vì tôi biết, đa số người Mỹ thường lịch sự, ít
ai bày tỏ ngay những điều khó chịu trong lòng.
Như đoán được ý nghĩ của tôi, ông buồn rầu
giải thích:
- Cô đừng
buồn với thái độ của vợ tôi. Bà ấy đang buồn
rầu. Chúng tôi mất đứa con trai duy nhất ở
Việt Nam, nên mỗi khi thấy người Việt Nam, vợ
tôi lại xúc động, không ngăn được cảm xúc, nên
có những cử chỉ bất thường.
Tôi nhìn
bà già đã ngồi xuống chiếc ghế đá bên lối đi,
đang run rẩy cố chống hai tay lên đùi, mắt vô
hồn nhìn vào quãng không gian phía trước. Nếu
tôi mất con cho một cái xứ sở xa lạ nào, chắc
gì tôi còn giữ được bình tĩnh như bà. Lòng tôi
rạt rào niềm thương xót để nói với ông rằng,
tôi thông cảm tâm tình của những bà mẹ mất
con, cho một dân tộc họ không hề mảy may biết
tới. Trong lúc xúc động, tôi cũng nói với ông
là, chính tôi và gia đình tôi cũng mất mát rất
nhiều, trong cuộc chiến chống cộng sản xâm
lăng đó. Và đau đớn hơn thế nữa, chúng tôi đã
mất cả quê hương, tổ quốc.
Ông già Mỹ
luôn luôn lập đi lập lại rằng: "Tôi biết,
Chúng tôi biết", rồi xin phép tôi, chạy đến
săn sóc cho bà, đã ngồi xuống ghế đá cách đó
không xa lắm. Ông nói lớn chào từ giã, khi tôi
đi lần xuống phía dưới, để dò tìm những hàng
chữ mang tên người anh rể ngoại chủng, năm xưa
đã nằm xuống ở Việt Nam.
Tôi biết
vần W sẽ nằm ở hàng cuối cùng, nhưng cũng mất
một lúc lâu mới tìm thấy cái tên Mikes Wright
- tên người anh rể tôi năm kia - khiêm nhường
giữa tên của bao nhiêu người. Nhỏ bé và đơn
giản trong một không gian bao la, nhưng thật
hào hùng, độ lượng như cuộc đời anh và đất
nước đang cưu mang chúng tôi đây. Tôi lặng
chìm trong những giấc mơ xưa, về một gia đình
hạnh phúc và nhớ đến chồng tôi. Tên của Mikes,
người ta còn nhớ ; chứ tên của chồng tôi, kẻ
thù đã xóa đi. Ngay cả miếng đất nhỏ bé mà
chồng tôi an nghỉ, người ta cũng đang toan
tính cướp mất của anh. Tôi nhớ đến nghĩa trang
quân đội Biên Hòa. Nhớ đến giây phút vật vã
khóc lóc, nhìn thi hài anh được gắn lon giữa
hai hàng nến. Nhớ đến những khuôn mặt lầm lỳ,
chai sạn vì gió bụi của những người lính bồng
súng chào chồng tôi lần cuối, khi đưa chàng về
với đất mẹ năm xưa.
Giữa lúc
tôi đang lặng yên tưởng nhớ, thì mấy bà bạn
tôi xuất hiện. Các bà gọi la tên tôi ơi ới,
trách tôi xé lẻ, tìm vui một mình. Cả bọn trầm
trồ, chỉ trỏ, reo vui với những cái tên lạ,
nói cười vui vẻ, như không cần biết gì về
những niềm đau. Ôi, nhân thế thường mau quên
để sống, chỉ có mình tôi hay đi ngược thời
gian về những dòng sông cũ.... Chúng tôi lại
rủ nhau đi thăm viện bảo tàng không gian gần
đó. Một đoàn người vừa đi vừa cười, vừa hỏi
thăm đường rộn vui lên góc phố. Ở đây, người
ta quen mắt với những cái lố lăng của du khách
từ khắp mọi miền trên thế giới, nên chẳng thấy
phiền hà.
Đến trưa,
lúc sắp ra về, tôi lại gặp cặp vợ chồng người
Mỹ ban sáng. Lạ một điều là, tôi thấy ông già
có nét gì rất quen. Lần này, bà có vẻ vui hơn,
mỉm cười khi tôi chào lúc gặp lại. Chắc ông đã
giải thích cho bà biết rằng, ai cũng có những
nỗi buồn, những mất mát khác nhau, chứ không
phải riêng bà. Chúng tôi đứng ngoài hành lang
nói chuyện. Ông bà cho tôi biết, sẽ về lại
Ohio chiều mai, một nông trại xa xôi nằm sát
biên giới tiểu bang Indiana. Ông nói thế,
nhưng tôi chẳng hình dung được gì, ngoài những
con số mà tôi đoán rằng, đất đai chắc là rộng
lớn lắm! Tôi cũng cho ông biết, chúng tôi còn
ở đây thêm vài ngày, đi thăm một vài nơi nữa,
rồi chào từ giã, đi theo dòng người thăm viếng.............
Buổi sáng hôm sau, tôi có thói
quen thức dậy thật sớm, trong lúc mọi người
còn say trong giấc ngủ. Tôi mở cửa bước ra
ngoài, đi bộ theo con đường Ohio dọc theo bờ
sông, rồi tình cờ bước dần về phía bức tường
đá đen. Trời còn sớm quá, nhưng tôi thấy dưới
chân bức tường thấp thoáng bóng người. Bước
tới gần hơn, tôi bất ngờ nhận ra, ông bà già
Mỹ hôm qua đang ở đó tự bao giờ. Bà ngồi hẳn
xuống, đưa tay sờ lên những hàng tên như vuốt
ve một vật gì quý giá.
Gặp lại nhau, tôi lên tiếng:
- Chào ông bà. Ông bà ra đây
sớm quá! Tôi cứ tưởng chỉ mình tôi đi bộ trong
khu này..
Ông ôn tồn giải thích:
- Chiều nay chúng tôi trở về
lại Ohio rồi, nên thu xếp thời gian thăm lại
nơi đây lần nữa.
Bà vẫn không nói, đưa tay sờ
lên phiến đá. Tôi chắc bà thương yêu người con
và đau đớn lắm, khi nhìn lên hàng chữ có tên
con mình. Mắt tôi tò mò nhìn theo và ngạc
nhiên thấy tay bà đang đặt trên hàng chữ của
vần W. Như có một linh tính báo trước chuyện
lạ lùng, tôi buột miệng hỏi ông:
- Con trai
của ông bà tên là gì nhỉ? Anh ấy mất ở Việt
Nam năm nào?
- Con trai
tôi tên là Mikes Wright, tử trận ở Việt Nam
năm 1972. Tên nó đây, ngay đây này...
Vừa nói, ông
vừa chỉ về phía tay bà đang xoa xoa, che khuất
cái tên mà trước đây, tôi đã đặt tay vào.
Chính đó là tên anh rể của tôi. Cha của đứa
cháu mồ côi, mà chị tôi yêu quý như báu vật
của cuộc đời mình. Tôi đứng lặng người nhìn
ông, rồi lại nhìn bà. Sao cuộc đời lại có sự
tình cờ kỳ diệu đến thế này? Để chắc chắn mình
không nằm mơ, tôi hỏi lại những chi tiết rất
chung chung, mà tôi còn nhớ về anh.
- Anh Mikes
của ông bà rất nhiều râu và vui tính lắm, phải
không?
- Cô nói gì,
tôi không hiểu. Dĩ nhiên, ngày ấy Mikes còn
trẻ lắm, nên râu ria mọc là thường.
Tôi nhìn lại
ông và mơ hồ thấy nét quen thuộc, mà tôi chợt
khám phá ra hôm qua, là ông trông rất giống
Mike ở cái cằm vuông vức và bộ râu rậm dài.
Ông già bùi ngùi nói tiếp:
- Vợ tôi
buồn một điều là, đáng lẽ ra Mikes đã hết hạn
phục vụ ở Việt Nam và trở về Mỹ; nhưng vì yêu
thương một người con gái bản xứ, nên tình
nguyện phục vụ thêm một thời hạn nữa, và cái
thời hạn đó không bao giờ chấm dứt...
- Thế ông bà
có biết tin tức gì về người con gái ấy không?
- Mikes có
gởi cho chúng tôi một tấm hình, thông báo là
đã thành hôn. Lâu quá rồi, nhưng chúng tôi còn
giữ tấm hình ấy trong tập ảnh gia đình ở Ohio.
Chỉ có thế mà thôi!
Tôi muốn nói
với ông, chính tôi là em người con gái Việt
Nam ấy, nhưng sợ rằng mình nhận lầm, vì biết
đâu có một anh Mike nào khác nữa, nên chỉ nói
với ông:
- Hơn ba
mươi năm trước đây, tôi cũng có một người anh
rể tên là Mike Wright, quê quán ở miền trung
bắc Mỹ. Tôi chỉ biết thế, không biết có phải
là anh Mikes, con của ông bà không? Tôi từ
Texas lên đây chơi, nhưng chính là để nhìn
thấy tên anh Mikes Wright một lần, trên tấm
bia đá này.
Ông mở mắt
nhìn tôi kinh ngạc, rồi kéo bà lên, nói với bà
tin tức quan trọng đó. Ông luống cuống, mời
tôi ngồi xuống tấm ghế đá, trong khi bà cứ há
miệng ra thẫn thờ, chờ đợi. Rồi ông dồn dập
hỏi:
- Tôi chắc
là đúng rồi! Đấy, cô coi, có cái tên Mikes
Wright nào khác đâu! Thế chị cô bây giờ ở đâu?
Tôi muốn hỏi thăm tin tức về Mikes trong những
ngày cuối cùng....
- Thưa ông
bà, chị tôi vẫn còn ở Việt Nam. Chắc rằng chị
tôi cũng chẳng biết gì hơn ông bà.
Như chính
tôi đây, cũng chẳng biết gì hơn tin tức cuối
cùng của chồng tôi và Mikes. Đầu tiên, người
ta chỉ thông báo cho chúng tôi là hai người đã
mất tích sau một đợt tấn công của địch, và cả
tuần lễ sau mới tìm thấy xác mang về.
- Thế thì
đúng như cô nói, chắc đúng là Mikes rồi. Khi
chúng tôi đến nhận xác Mikes, thì đã không mở
ra được nữa, vì những điều kiện vệ sinh.
- Nhưng tôi
có một tin quan trọng về anh Mikes, không biết
ông bà có muốn nghe không?
- Tin gì
vậy, thưa cô? Chúng tôi không còn gì trên đời
này ngoài hình ảnh của Mikes, và những gì liên
quan đến đứa con yêu thương của chúng tôi.
- Chị tôi có
một người con với anh Mikes. Chính anh Mikes
cũng không biết, vì lúc vừa mới có thai, chưa
kịp thông báo, thì anh Mikes và chồng tôi đã
không về nữa.
Ông bà liên
tục kêu lên những lời thống thiết, không rõ là
đau khổ hay mừng vui:
- Chúa ơi,
thật thế sao? Chúa ơi! Chúa ơi!
- Thật thế,
thưa ông bà. Cháu giống Mikes lắm! Nếu ông bà
thấy cháu là nhận ra ngay thôi.
- Thế bây
giờ cháu ở đâu, thưa cô?
- Cháu vẫn
còn ở Việt nam. Vì thương mẹ, nên cháu không
về Mỹ, theo chính sách trở về quê cha của
những đứa con lai.
Tôi và ông
bà Wright cùng bước đi như trong cơn mơ, vì sự
gặp gỡ bất ngờ. Tôi cho ông bà địa chỉ, số
điện thoại của tôi và nhận lại địa chỉ, số
điện thoại của ông bà ở Ohio, để tiện bề liên
lạc. Những thông tin ban đầu, mặc dù đã chính
xác, nhưng tôi muốn biết chắc tấm ảnh ngày xưa
có phải là của chị tôi hay không. Chiều hôm
đó, ông bà Wright về lại Ohio. Tôi đoán ông bà
vui vẻ lắm! Mất một đứa con cho cái xứ Việt
Nam xa xôi, nhưng ông bà sẽ được nhận lại một
đứa cháu ngoan ngoãn, và đứa con dâu còn giữ
đúng truyền thống Việt Nam. Tôi biết, chị tôi
là một người đàn bà Việt Nam hiền thục. Tôi đã
đoán không sai, vì ba hôm sau, khi tôi còn ở
khách sạn thì tiếng điện thoại lại reo. Lần
này, ông bà Wright theo xe trở lên, mang cả
gia đình đứa con gái gồm con rể và hai đứa
cháu. Họ lái một chiếc xe van lớn mang theo cả
tấm ảnh ngày xưa.
Gặp nhau tại
công viên, ông bà đưa tôi tấm ảnh và giải
thích:
- Vội quá,
nên chúng tôi không book được vé máy bay. Vả
lại Nathalie, em gái của Mikes, và chồng con
nó ở gần đó cũng muốn đi, nên chúng tôi lái xe
cho tiện.
Tấm ảnh chụp
cách đây hơn ba mươi năm, giờ đã ố vàng. Màu
sắc phai theo thời gian, nhưng vẫn còn sắc
nét. Tôi cầm tấm ảnh, như đưa tay chạm vào một
phần quá khứ xa xăm. Trong ảnh, chị tôi, người
con dâu đất Mỹ, e ấp đứng bên người chồng râu
ria xồm xoàm, đang đưa cánh tay khỏe mạnh ôm
vòng lấy người con gái, như ôm ấp chính cuộc
đời cô.
- Đúng là
chị tôi rồi!....
Ông bà
Wright mừng vui như mở hội. Bà như trẻ trung
hẳn lên. Bao nhiêu bệnh tật gần như tan biến.
Mấy người đi theo cũng lộ nét mừng vui, hớn
hở. Bà hỏi tôi những chuyến bay về Việt Nam,
với những dự định đi thăm viếng đứa cháu, con
của người con tưởng như đã mất, bỗng dưng còn
để lại trong cuộc đời này cả một phần huyết
nhục. Tôi thưa với ông bà rằng, tôi đã nói
chuyện với chị tôi qua điện thoại. Chị cũng
rất vui mừng về sự gặp gỡ này. Chị sẵn sàng
cho cháu về quê nội, cũng như chính chị sẵn
sàng về làm dâu ông bà, chăm sóc cho ông bà
trong lúc tuổi già, đúng như truyền thống của
người Việt Nam. Tôi đã biết tình yêu của chị
dành cho Mikes, nên không ngạc nhiên với quyết
định này. Ông bà chăm chú nghe tôi giải thích
phong tục Việt Nam, là người vợ phải làm dâu
phụng dưỡng cha mẹ chồng. Ông kêu: "Chúa ôi"
liên tục sau mỗi câu nói, làm tôi có cảm tưởng
như đang kể cho ông bà nghe về chuyện phong
thần, nhưng tôi biết, bây giờ, đối với ông bà,
đất trời là cả một mùa xuân.
Sau đó một
thời gian dài, tôi lại bận bịu, vì phải lo
lắng dẫn ông bà Wright về lại Việt Nam. Bận
bịu, nhưng lòng tôi rất sung sướng. Tôi không
giấu được xúc động, khi nhìn thấy ông bà - lần
đầu tiên - gặp lại đứa cháu nội, sau hơn ba
mươi năm thương nhớ người con đã khuất. Ông bà
cứ kêu lên những lời vui mừng vang một góc
sân, và làm ngạc nhiên những người hàng xóm
Việt Nam, vốn không thiếu sự tò mò.
- Oh, my God! He just looks
like his father! Oh my God!
Bây giờ, chị tôi, một người con
gái Việt Nam, về làm dâu muộn màng trên đất Mỹ,
đang thay cha mẹ chồng cai quản một nông trại
trồng bắp ở Ohio, cùng với đứa con duy nhất
của một cuộc tình nở vội trong cuộc chiến Việt
Nam.