| |
Mùa đông ập đến! Từng cơn gió nhẹ khẽ rung xào
xạc, những khóm lau lách ven hồ... Gió cứ mạnh
dần, mạnh dần lên và tuyết bắt đầu rơi. Cả mặt
hồ biến thành một sân băng lạnh lẽo rộng lớn.
Trên mặt hồ, đàn thiên nga trắng muốt đang xòe
đuôi và nhảy vũ điệu cuối cùng trước khi bay về
phương Nam tránh rét.
Có một con thiên nga bé nhỏ lẻ loi, ốm yếu bị
lạc ra khỏi bầy đứng co ro một góc. Khi cả đàn
đã bay đi hết, chỉ còn lại mình nó tội nghiệp
không bay theo được đàn. Nó vất vả chống chọi
với cái rét muốn “gẫy chân rụng cánh”, nhưng sức
nó đã quá yếu rồi và nó không còn đủ sức để đợi
đến mùa xuân. Mùa xuân đã về, bầy thiên nga kia
đã quay trở lại và tung tăng nhảy múa trên mặt
hồ... Sự sống được hồi sinh.
Nuốt từng lời, từng lời, tôi khép hờ bờ mi và
tưởng tượng. Một con thiên nga đầu đàn khỏe mạnh
hạ cánh xuống ven hồ, một con, lại một con nữa...
và bầy thiên nga trắng muốt dần hiện ra sinh
động trong trí tưởng tượng của tôi. Những rặng
lau lách đìu hiu và cả những khóm cây lúp xúp
bên hồ sắp bị một chiếc mũ tuyết khổng lồ đội
chụp lên.
Cả không gian bỗng trở nên lạnh cóng, từng mạch
máu nhỏ bỗng phồng rộp lên và đóng băng lại. Vậy
mà những con thiên nga vẫn múa, điệu múa cuối
cùng để tạm biệt mùa đông lạnh giá trước khi bay
về phương Nam ấm áp.
Con tim tôi đang nhảy múa cùng những đôi chân,
đôi cánh mềm mại bỗng lặng đi khi nghe tiếng
nhạc trầm xuống, réo rắt và tôi khóc. Nơi góc hồ
băng giá, con thiên nga bé nhỏ đã gục ngã...
Vở ba lê “Hồ thiên nga” đã đưa nhà soạn nhạc tài
ba Traicốpxki trở nên nổi tiếng qua mọi thời đại.
Tôi đã từng nghe nhạc giao hưởng thính phòng,
nhưng dù có cố đến mấy thì cũng chẳng khác chi
“đàn gảy tai trâu”. Mãi cho đến khi tôi gặp anh
trên chuyến tàu thống nhất Bắc - Nam, thấy anh
cứ lim dim say sưa rồi lắc lư, rồi dạo nhạc
miệng..., trong cặp hét phôn ốp chặt vào tai như
kẻ khùng gây cảm giác khó chịu cho mọi người.
Thỉnh thoảng tôi quay xuống nhìn trộm và bị anh
bắt gặp. Anh tạm dừng và gỡ tai nghe ra hỏi:
“Muốn hỏi gì không cô bé? Hay lại muốn phê bình
tôi tội gây mất trật tự. Không sao đâu, tôi bị
phê bình quen rồi”.
Bất ngờ anh chụp đôi tai nghe vào tai tôi và mở
nhè nhẹ. Anh cất tiếng trầm khàn: “... Mùa đông
ập đến... gió mạnh dần, mạnh dần lên...”. Tôi
như lịm đi khi nghe tiếng anh thì thào khe khẽ:
“... Nó không còn đủ sức đợi đến mùa xuân...”.
Hai giọt nước mắt tôi tự nhiên rơi xuống trong
vô thức. Và anh kể: “Tôi là con nhà nòi chính
tông. Lên 2 tuổi, tôi đã được ba mẹ cho nghe
nhạc giao hưởng thính phòng. Lên 6 tuổi, thừa
lúc cả nhà đi vắng tôi đã bê trộm chiếc máy quay
đĩa cổ kính của ba vào phòng mình và chốt chặt
cửa nghe miết một ngày một đêm làm mọi người
được một phen đi tìm hú vía. Tôi định sẽ thi vào
nhạc viện, nhưng đúng lúc đất nước có chiến
tranh nên đành gác bút khoác ba lô lên đường vào
chiến dịch”.
Anh đi hết trận địa này đến trận địa khác, sống
chết trong gang tấc anh cũng đã từng trải qua,
và cuối cùng anh về đoàn văn công quân đội. Hòa
bình lập lại, đất nước hoàn toàn giải phóng, anh
bắt đầu lại con đường sự nghiệp âm nhạc của mình.
Là một trong những học trò xuất sắc nhất của
trường, anh được cử sang Liên Xô làm nghiên cứu
sinh rồi quay lại trường làm công tác giảng dạy.
Không giống bao người thầy khác, anh dạy học
sinh cảm thụ âm nhạc theo cách của riêng mình.
Tôi là một người không hiểu gì về thứ âm nhạc
cao siêu đó, nhưng khi nghe anh lược tả bằng lời
vài nét chấm phá thì tôi đã dần phác ra được cái
hồn của bản nhạc.
Tôi hỏi: “Tính đến bây giờ, anh thuộc được bao
nhiêu bản nhạc giao hưởng?”. Anh vui vẻ trả lời:
“Tôi chịu thôi, không biết bao nhiêu bản, nhưng
hễ có bản nhạc nào mới tôi đều nghe hết. Còn
thuộc chắc cũng tính bằng con số hàng nghìn bản
rồi cũng nên”.
Anh luôn coi âm nhạc là cuộc sống của mình,
không có cơm anh không sợ đói, nhưng thiếu nhạc
thì anh cũng sẽ bị rũ ra như cây thiếu nước, như
con cá bị vứt lên bờ vậy.
Anh nhẹ nhàng diễn thuyết: “Giờ tôi cho cô bé
nghe thêm bản nhạc Tân thế giới của nhà soạn
nhạc Đờvôzắc. Bản nhạc là một khám phá mới về
một thế giới hoang sơ nhưng hùng vĩ...”.
Tôi đã mường tượng ra một thế giới hoang sơ chưa
có sự sống của con người. Những lau lách ven hồ,
hoang mạc lạnh lẽo và có cả những dãy núi hùng
vĩ chưa có dấu chân người khai phá.
Anh rất láu, cứ nhìn tôi chòng chọc rồi đưa ra
nhận xét: “Trông em cũng có vẻ giống như một thế
giới mới đang chờ khám phá. Chỉ có điều nét
hoang vu bốc lửa của em dễ làm cho đối phương
hoảng sợ”.
Anh nói cũng có cái lý của nó, bởi đôi mắt tôi
to tròn, đen nhánh như hai hạt nhãn, mái tóc
xoăn tự nhiên bỏ dài hoang dại, nước da ngăm đen
và dáng người cao hơn 1,80m làm cho ai đến gần
cũng có cảm giác thiếu tự tin.
Nhưng anh thì khác, anh dũng cảm đứng đo độ dài
với tôi trước mặt mọi người. Tuy anh không hơn
tôi về độ dài nhưng anh lại hơn tôi hẳn một “cái
đầu” và cho tôi thấy một tài năng âm nhạc uyên
bác đáng để ngưỡng mộ, để khâm phục và khao khát,
ước mơ. Hình như ai gặp anh cũng trở nên yêu
nhạc, một thứ nhạc bác học rất dễ làm cho người
ta hoảng sợ vì thấy mình không đủ khả năng tư
duy để thưởng thức.
Anh vào Sài Gòn, còn tôi xuống ga Nha Trang.
Thấy tôi vương chút lưu luyến chưa nỡ rời xa,
anh bảo: “Bé mê giao hưởng rồi phải không? Tôi
tặng đĩa nhạc này làm quà gặp mặt, hẹn gặp tại
Hà Nội, tôi sẽ mời bé tới thăm ngân hàng âm nhạc
của riêng tôi. Tôi là một công dân tự do, không
vướng víu chuyện trần gian, không nợ nần gì ai
mà chỉ nợ một chữ nhạc”.
Anh không lập gia đình không phải anh không biết
yêu phụ nữ, mà anh sợ ai làm vợ anh sẽ bị thiệt
thòi vì không có được một tình yêu trọn vẹn ở
nơi trái tim anh. Nghĩa là tình yêu của anh dành
cho âm nhạc quá lớn.
Tôi đã nghe thuộc lòng từng nốt trầm bổng trong
hai bản nhạc đó, nhưng vẫn chưa có dịp gặp lại
anh bởi bữa đó tôi đâu có lưu lại dòng địa chỉ
của anh. Biết đâu anh lại đang bận truyền tình
yêu âm nhạc cho một “bé” nào đó cũng ngỡ ngàng,
ngốc nghếch như tôi thuở đó.
Không phải chỉ có tôi là một thế giới mới mà
chính anh mới là một thế giới hoang vu đầy bí ẩn
mà tôi mơ tới một ngày mình là người đặt nhát
cuốc đầu tiên khai phá.
|
|