| |
Đã ba mươi năm đất nước của chúng
ta bị nhuộm đỏ và đối với dân chúng
Việt Nam bên này vĩ tuyến, dù đang ở
trong nước hay đã di tản ra ngoại
quốc, chúng ta cũng xem như đã ba mươi
năm đánh mất Quê Hương, đang lưu vong
ở xa hay bị lưu đày ngay trên chính quê
cha đất tổ. Ba mươi năm bao nhiêu đổi
thay, ngày nào tóc còn xanh giờ đã ngả
màu sương khói. . .
Mùa
Xuân, kỷ niệm chợt kéo về khuấy động
tâm tư. . . Xứ Huế của tôi, như mọi
người thường nhận xét, ở gần thì
thương, ở xa thì nhớ. Huế tuy nhỏ nhưng
có những vùng riêng biệt, hai bên cầu
Trường Tiền là hai miệt khác nhau.
Một bên cầu có chợ Đông Ba, có Thượng
Tứ, có Gia Hội, bên kia cầu là cầu
Bạch Hổ, là Phủ Cam, là Đài Phát
Thanh, là Đập Đá. Bên kia Đập Đá là
Vĩ Dạ,Thuận An, bên ni Đâp đá là
Chợ Cống, Phú Xuân. . Ngày xưa tôi ở
bên ni cầu, bên ni Đập Đá, khu có hai
trường trung Học nổi tiếng miền Trung
là Trường Đồng Khánh và Trường
Quốc Học, tôi ở bên ni Đập Đá
quẹo phải đi về Chợ Cống. Không
hiểu sao lại có cái tên Chợ Cống quê
mùa như rứa mặc dù Chợ Cống đã đào
tạo ra thật nhiều nhân tài, xấu tốt
tùy người nhưng ít nhất cũng có danh
tiếng. Tướng Tôn thất Đính, nhạc sĩ
Lê Mộng Nguyên đều lớn lên và qua
tuổi thanh niên ở Chợ Cống, đạo
diễn Lê Mộng Hoàng cũng lớn lên từ
Chợ Cống và hiện vẫn còn ở lại quê
hương. Các danh ca Ngọc Cẩm, Nguyễn
hửu Thiết cũng trú ngụ ở Chợ Cống
khi hai người mới bắt đầu sự
nghiệp cầm ca ở Đài phát Thanh Huế.
Đầu năm tôi kể hầu bạn đọc sinh
hoạt Chợ Cống của tôi, biết đâu không
mang lại cho quý bạn một vài phút giây
mơ mộng của một góc nhỏ xứ Huế
giờ tuy còn đây nhưng đã thật xa trong
quá khứ.
Tôi lớn lên trong căn nhà của ông nội
tôi nằm ven bờ sông Hương nhìn ra Đập
Đá, trên con đường Chợ Cống giờ
được đổi tên là Nguyễn công Trứ. .
.con đường Chợ Cống chạy dài xuống
tận Phú Xuân. Đời sống ở cái góc
nhỏ xứ Huế này thật khép kín, thật
êm đềm nhưng bên trong là cả một
trời kỷ niệm tuy đầy sóng gió. Người
Huế khép cửa trong nhà nói chuyện hàng
xóm. Tuy thầm thì với nhau nhưng. . . không
thiếu chi tiết dù có dặm thêm mắm
muối cho câu chuyện đậm đà ,gay cấn
hơn. Ông nội tôi có bảy người con,
hai trai đi kháng chiến trong đó có cha tôi
và năm cô con gái. Ngày cha tôi đi, tôi
chỉ mới ra đời có mấy tháng, các cô
săn sóc tôi . . và bao nhiêu chuyện xứ
Huế, nhất là ở góc Chợ Cống này các
cô đều thầm thì bàn tán, tôi biết
chuyện to chuyện nhỏ của góc Chợ
Cống từ khi tôi chưa biết nói. Mà
Chợ Cống, Đập Đá của tôi thì thật
nhiều chuyện.
Người
đẹp Chợ Cống thì có nữ ca sĩ Hương
Thủy con giáo sư Tôn Thất Lương dạy Hán
Văn trường nữ Trung Học Đồng khánh,
có Tôn nữ Minh Đức của mối tình đầu
thơ ngây với Nhạc sĩ Lê mộng Nguyên
trước khi chàng du học qua Pháp. Xa nhau
tình cũng xa luôn, chàng ngưng liên lạc,
nàng ở Quê Hương lên xe hoa với chàng
sĩ quan trẻ sau này là Trung tướng Lữ
Lan..Chuyện một chàng trai khác đi Pháp
bỏ lại vị hôn thê là chị của nữ
ca sĩ Hương Thủy nhưng cũng có đoạn
kết màu hồng. Chàng đi du học, nghe tin
chàng mê phồn hoa lấy vợ đầm, cô hôn
thê con ông giáo sư nghèo ở đầu Đập
Đá xin bạn bè chung góp lấy tiền đi tàu
thủy qua Pháp đòi chồng. Nàng qua đến
kinh đô ánh sáng thì chàng đã có vợ tóc
vàng nhưng con gái Việt ngày đó không có
nhiều nên một chàng bác sĩ Việt cưới
nàng làm vợ. Họ sống bên nhau hạnh phúc
đến ngày hôm nay..
Lại
còn thêm mối tình của cô tiểu thư trưởng
nữ của tiệm vải Thuận Long lớn
nhất cố đô Huế với chàng sĩ quan
trẻ Tôn thất Đính. Ngày mới trung úy
chàng đi hỏi nàng làm vợ, nàng từ
chối để cho chàng có động lực tiến
thân, chỉ sau đó vài năm chàng được
Tổng thống Ngô đình Diệm cho lên đến
Trung tá và được nàng nhận lời làm
vợ, cả xứ Huế ồn ào vì cái đám cưới
của đôi trai hùng gái sắc vừa có
quyền vừa có tiền nhất cố đô. Ngày
đó,Trung tá to lắm, xứ Huế nhỏ xíu nên
cô tôi kể chàng được đề cử đi làm
tư lệnh một đơn vị quân đội ở Đànẳng
và hai vợ chồng được cả xứ Huế
tiễn đưa đi làm quan xa.
Ôi
! cái xóm Đập Đá,chợ Cống của Huế
xưa đã cho tuổi thơ của tôi thật
nhiều niềm nhớ. Bên ni Đập Đá thì
chuyện này, bên kia Đập Đá là Vĩ Dạ
lại có chuyện khác. . . Tôi lớn lên
với những chuyện tình của các cô gái
đẹp Vĩ Dạ, chị em cô Dạ Khê nước
da ngăm ngăm, dáng dấp mảnh mai đã làm
cho nhiều chàng phải thức đêm nắn nót
thư tình, chị em các cô Trà Mi,Diệm Mi
ở Hàng Me một thời là Hoa khôi xứ
Huế, bao nhiêu giấy mực đã được
xử dụng để ca tụng nhan sắc của
những nàng Mi .
Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Hàn Mặc Tử khen con gái gốc Vĩ Dạ có
khuôn mặt chử điền riêng tôi lớn lên
không học chữ nho nên không biết
“chữ điền” có phải là “vuông”
hay không mà thấy các chị em cô Dạ Khê
khuôn mặt vuông thật với nước da ngăm
ngăm, đôi mắt lá dăm và thân hình
mềm như cành trúc. Hình như các nàng thôn
Vĩ này đã qua định cư ở quận Cam,
chị em các cô Mi trắng như trứng gà bóc
thì đang ở Pháp. Những người đẹp này
bây giờ đã có tuổi, không biết họ có
bao giờ thương nhớ cái góc Huế nhỏ xưa
của một thời con gái đẹp như thơ ?
Xứ Huế ở miền Trung nghèo đất cầy
lên sỏi đá thật nhưng sao đời sống
mặn nồng êm ả , một đời sống mà
ta không thể nào tìm thấy ở những đất
nước văn minh sang giàu, ngay cả những
năm tôi ở Saigon cũ cũng không thể nào
tìm thấy được . Ngày tôi còn nhỏ,
thật nhỏ, tối nào có trăng, mẹ tôi
thường cho tôi đi theo bà ra Đập Đá
đón những gánh cá tươi do mấy bà gánh
từ Thuận An lên Huế bán, những con cá
ngừ tươi rói đem về kho với dứa và
ớt ăn với bún sao mà ngon tuyệt vời.
Còn cái mưa ở Huế thì Nguyễn Bính cũng
phải thua :
Giời
mưa ở Huế sao buồn thế
Cứ kéo dài ra đến mấy ngày
Thềm cũ nôn nao đàn kiến đói
Giời mờ ngao ngán một loài mây
Trường Tiền vắng ngắt người qua
lại
Đập Đá mênh mang bến nước đầy
(Giời mưa ở Huế)
Mưa chừng ba ngày nước sông Hương dâng
cao, tràn qua Đập Đá, chúng tôi lại
được lội nước, nước tràn vô nhà ,
bàn ghế chất chồng lên ,cả gia đình
sống trên cao, chợ búa ngưng họp, chúng
tôi lại được ăn cơm nóng với
thịt,cá hộp. . . giờ thấy đồ hộp mà
ngao ngán nhưng những ngày lụt lội bé
bỏng xưa kia, cá hộp Maroc xào mặn
với tiêu hành nước mắm sao mà ngon
thế. Vài ngày sau nước hạ cô tôi
lại đón ghe thuyền đi câu trên sông Hương
chạy ngang qua nhà để mua những rổ cá
mờm vừa tươi vừa ngọt đem nấu canh
với me đất mọc sau vườn. Canh cá
mờm tươi, tôm tươi rim với thịt ba
chỉ ăn với cơm nóng, chẳng có món
ngon nào trên thế giới này bì được.
. . Tuổi thơ ơi, sao mà nhớ quá !
Ngày ba tôi đi kháng chiến Mẹ tôi là cô
giáo còn trẻ đẹp. Các cô tôi kể cho
tôi nghe ngày đó học sinh trường Quốc
Học Huế rất thương ba mẹ tôi. Ba tôi
đi, mẹ tôi ở nhà với ba đứa con còn
nhỏ. Trong những dịp liên hoan của trường
Quốc Học, những nam học sinh thường lên
hát tặng mẹ tôi bài Đợi anh về của
Phạm Duy để an ủi mẹ tôi. Khi tôi
biết đọc, tôi thấy trong nhật ký
của chị tôi có bài hát đó,bài hát
rộn ràng tình yêu Quê Hương của một
xứ Huế bừng bừng khí thế kháng
chiến chống thực dân.
Đợi
anh về
Em ơi đợi anh về
Đợi anh về em nhé
Mưa có rơi dầm dề
Ngày có buồn lê thê
Thì em ơi ,em cứ đợi
Đợi anh anh lại về trong tiếng cười
ngạo nghễ,
Anh của em lại về. . . .
Thanh niên Huế ngày đó mơ một ngày Quê
Hương giải phóng, họ an ủi người cô
phụ có chồng đi xa để rồi ngày Huế
Saigon Hànội thông thương thì người
rủ nhau ra biển vượt biên, người khăn
gói giã từ vợ con đi tù không hẹn ngày
trở lại.
Chỉ vài năm sau, vấn đề áo cơm cũng
làm cho Mẹ tôi quên ba tôi và đem chúng
tôi rời khỏi Huế vào Saigon. . . .
1975 Ba tôi trở về không làm sao cười
nổi vì gia đình đã tan nát ,con thì đứa
đi xa, đứa vào trại cải tạo và bỏ
xác ngoài Vĩnh Phú xa xôi.Tiếng cười
ngạo nghể chẳng bao giờ vang lên trong
căn nhà trống vắng với bàn thờ ông bà
nội khói hương nhạt nhòa. Các cô tôi
viết thơ qua Mỹ kể rằng suốt ngày
chỉ nghe cha tôi thở dài như xót xa như
hối tiếc. . . Tôi lại lạc đề mất
rồi, tôi đang kể chuyện Đập Đá,Chợ
Cống một góc Huế xa xưa cho các bạn
nghe trong những ngày đầu Xuân cơ mà !
Cái góc Huế ngày xưa đó đã để lại
cho tôi bao nhiêu kỷ niệm êm đềm,đã
an ủi tôi thật nhiều trong những ngày
xa xứ.
Đập Đá cũng là nơi chôn nhau cắt
rốn của Bà Thân thị Nhân Đức vợ Giáo
sư Hoàng Ngọc Thành . . . Đập Đá của
tôi đáng nhớ thật phải không các
bạn ?
Gần ba mươi năm xa quê hương tôi vẫn
hằng mơ có một lần được về thăm
lại xứ Huế thân yêu. Năm vừa qua,
trong chuyến về thăm quê cũ tôi đã đi
tàu lửa từ Hànội về lại Huế.
Chuyến tàu Thống Nhất rời Hànội lúc
10 giờ đêm và đến Huế vào lúc 12
giờ trưa hôm sau.Chuyến đi khá yên lành,có
hạng ghế mềm, ghế cứng, couchette
sạch sẽ, không thua Amtrak Mỹ và có
phần sạch sẽ hơn TGV( xe lửa tốc hành)
của Pháp. Các bữa ăn được nhân viên
hỏa xa mặc đồng phục đẩy xe đi phát
từng người, thức ăn để trong hộp
bao giấy bóng. Lòng tôi nôn nao nghĩ đến
giờ phút đặt chân lại nơi chôn nhau
cắt rốn. Tôi đi tàu lửa vì thèm nhìn
lại nhà ga Huế. Nhà ga Huế để lại
cho tôi những kỷ niệm êm đềm với người
ông nội già thương yêu. Ngày tôi học
đệ tứ gia đình tôi đổi về Đànẵng,
tôi học một năm ở trường Lycee .Vào
dịp nghĩ Hè tôi đi xe lửa về Huế thăm
gia đình ông nội. Tôi đã sống những
ngày Hè thật vui bên ông và các cô
trong căn nhà cạnh bờ sông, các bạn ngày
nhỏ của tôi vẫn yên lành sống ở
Chợ Cống và đi học trường Đồng Khánh,
chỉ có tôi theo gia đình vô Saigon, lên
Dalat ở nội trú rồi về Đà nẵng
một năm .
Về
lại Huế tôi thấy mình như nhỏ bé
lại trong tình thương của tất cả
những người trong xóm Chợ Cống đã
biết tôi từ khi mới ra đời cho đến
ngày Mẹ tôi đem chị em tôi vô Nam. Cô
bạn Giao Cầm ở đầu Đập Đá mổi
lần gặp lại tôi đều trêu chọc. Cô
hay hỏi tôi '”Bộ ông nội mi đi làm công
chức hay răng mà sáng mô cũng đúng tám
giờ là thấy ông vác dù đi ngang nhà,
chiều năm giờ vác dù về rứa ?”
Hỏi ra mới biết ông nội tôi ngày ngày
đi bộ từ Đập Đá lên chùa Tường Vân
ở chân núi Ngự Bình để thăm bà cố.
Ngày mô ông cũng đi về thật đúng
giờ. Ngày nhỏ tôi nghĩ là núi Ngự Bình
xa lắm, không biết ông tôi đi bộ bao lâu
mới đến Chùa.
Tôi
muốn nhìn lại nhà ga Huế vì thăm ông
xong khi tôi rời Huế vô lại Đànẵng,
tàu rời ga lúc 12 giờ trưa, buổi sáng
sớm ông tôi đã xách dù đi bộ lên nhà
ga, ông cho tôi tiền đi cyclo nên mười
một giờ trưa tôi mới đi. Ông tôi là
vậy đó, nuôi con khôn lớn, hai con trai
đi kháng chiến lại chăm lo cho các cháu
nội ngoại. Vậy mà khi ông tôi mất tôi
đã không được có mặt cạnh ông, ba tôi
đi kháng chiến về ông cũng không hết
buồn vì anh tôi đi cải tạo và tôi thì
xa mịt mù.
Chuyến
này về thăm Huế tôi muốn nhìn lại nhà
ga để nhớ lại bao sự hy sinh và thương
mến của ông nội tôi đã dành cho tôi
từ ngày tôi còn thơ ấu. Sau ba mươi năm
nhà ga Huế đổi khác rất nhiều, rộng
rãi và tiện nghi hơn xưa. Tôi gọi cyclo
ngã giá về Chợ Cống, người phu xe đòi
tám ngàn, chỉ có năm mươi xu Mỹ. Xe đi
ngang hai trường Quốc Học ,Đồng Khánh
rồi Đài phát Thanh, ngang qua cầu Trường
Tiền rồi đếnTòa Khâm mới về Đập
Đá và quẹo vào Chợ Cống. Con đường
ngày xưa giờ vẫn êm mát , đã tháng chín
nên những hàng cây phượng vĩ không còn
hoa đỏ và cũng vắng tiếng ve sầu .Đập
Đá của tôi cũng thay đổi nhiều, nhà
những người bạn nhỏ ngày xưa đã
được thay thế bằng những mini hotels và
quán giải khát.
Những
căn nhà kiểu biệt thự nằm trong hẻm
đường Chợ Cống chạy dọc theo bờ sông
Hương giờ đã biến thành quán Càphê
đèn mờ. Chỉ một cái hẻm nhỏ mà có
đến ba quán Càphê, ghế bàn đặt dọc
theo bờ sông,buổi chiều vào giờ tan
học các học sinh từng cặp đưa nhau đến
ngồi tâm tình cho đến khuya . Nam nữ
học sinh Huế bây giờ dạn dĩ không
thua chi học sinh My, Pháp, nói chi đến
học sinh ,sinh viên Saigon ngày xưa. Họ
tỏ tình nhau cụ thể chứ không qua lá
thư e ấp của “Ngày xưa Hoàng thị”
nữa. Huế của tôi giờ cũng như Saigon,
Tân Định,cũng quán cóc, cũng hột vịt
lộn bày bán khắp nơi, cũng ăn nhậu ,
các cô gái cũng mặt đồ bộ ra đường
như con gái trong Nam .
Một tuần ở Huế với cô tôi, tôi được
đưa đi thăm mộ ông bà nội và cha tôi
ở chân núi Ngự Bình. . . Nó không xa như
tôi tưởng, từ Chợ Cống đi taxi
chừng hai mươi phút đã đến . .Mộ ba
tôi nằm cạnh mộ ông bà nội,cạnh đó
có ngôi mộ của anh tôi được cô tôi
ra trại cải tạo Vĩnh Phú hốt cốt
về chôn. Ông Bà nội, ba tôi, anh tôi. .
. ba thế hệ một cuộc chiến tương tàn.
Ngày trở về sao mà buồn quá !
Từ Chợ Cống tôi cũng kêu cyclo qua
chợ Đông Ba, ông phu xe đòi ba ngàn ,chưa
đầy hai mươi xu Mỹ, tôi lau chau trả
giá hai ngàn xong vội vàng nói : Ông ơi,
tui quen miệng chứ mấy(bao nhiêu) cũng
được. . Tôi nặng có hơn bốn mươi kílô
vậy mà lên dốc cầu Trường Tiền ông
phu xe phải xuống đẩy chứ không đạp
nổi. Lòng tôi chợt xót xa cho dân Việt
thật nhiều. Hai mươi xu, bên Mỹ chẳng
mua được gì.. .
Bảy ngày trôi qua thật mau. Rồi tôi cũng
phải rời xóm Chợ Cống, rời xứ Huế
của tôi để vào Saigon và đi về Mỹ.
Buổi sáng đầu Thu đầy nắng vàng cô
tôi và các em đưa tôi lên ga . . . Lần
này ra đi không biết khi nào gặp lại,cô
tôi đã già, tóc bạc phơ. Nhìn cô, tôi
nhớ lại không biết bao nhiêu là kỷ
niệm. Xứ Huế là cô ngày xưa với dáng
dấp mảnh mai và mái tóc dài thật
dầy, thật đen, Chợ Cống ,Đập Đá là
cô với những câu chuyện đầu xóm,
cuối xóm, là những bát canh cá ngạnh
nấu măng chua, canh cá mờm nấu me đất.
Cô là tuổi thơ, là dĩ vãng êm đềm. .
.
Tiếng còi tàu vang lên, tôi ngậm ngùi
nhìn cô, nhìn xứ Huế thương yêu một
lần cuối. . . Sân ga Huế buổi sáng đầu
Thu đầy nắng vàng sao mắt tôi rưng rưng
lệ. .
Ôi
! Nắng vàng sao mà nhớ nhung !
Có ai đàn lẻ để tơ chùng ?
Có ai tiễn biệt nơi xa ấy,
Xui bước chân đây cũng ngại ngùng .
(Huy Cận)
Tôn Nữ Thanh Thanh
|
|