|
Can Nguyễn sưu tầm:
MỘT NGÀY Ở NURSING HOME
[10/2011]
(Nguyên Thúy)
Sau ba tháng du lịch ở Mỹ về, những người quen hỏi
tôi điều gì làm tôi tâm đắc nhất. Không chút do dự
hay suy nghỉ, tôi trả lời:đó là cái Nursing Home.
Họ ngạc nhiên khi thấy tôi không đề cập đến những
địa danh nổi tiếng: như Las Vegas,
Hollywood,Disney-land, những tòa nhà chọc trời cao
nhất thế giới hoặc những cái Mall rộng lớn đi cả
ngày chưa hết, những viện bảo tàng, những đại lộ
thênh thang, chồng chéo lên nhau như những sợi mì
. . . . . Tôi đã hưởng một chuỗi ngày dài
thật tuyệt vời,với biết bao điều mới lạ, hiện đại,
tối tân mà từ truớc đến giờ tôi chưa hình dung hay
tưởng tuợng ra nỗi. Thế mà khi trở về Việt Nam,
tâm trí tôi chỉ còn lắng đọng một điều làm tôi ưu
tu, trăn trở, ray rức: cái Nursing Home mà mẹ
chồng tôi đang sống.
Chặng cuối cùng của chuyến du lịch, chúng tôi đã ở
Los Angeles mười lăm ngày để thăm viếng mẹ chồng.
Hằng ngày, chúng tôi phải chuyễn hai chuyến xe
bus, đi qua GardenGrove,Westminster, Bolsa và bao
nhiêu đại lộ nữa mà tôi không nhớ hết tên, đưa
chúng tôi gần trạm cuối cùng của lộ trình. Chúng
tôi phải đi bộ khoãng năm trăm mét để đến khu
dưỡng lão của một tổ chức tư nhân. Đó là một
khoảng đất rộng, nằm khuất sau đại lộ Hungtington
hai con đuờng, cách bờ biển Hungtington chưa tới
hai cây số. Một nơi yên tĩnh,vắng vẻ,với hai hàng
cây sồi đưa vào cái ngõ cụt. Gồm ba dãy nhà trệt,
ghép thành hình chữ U, nó êm dịu với
những cánh cửa sơn màu xanh da trời, nổi bật màu
sơn trắng của những bức tường, với những khung
kính to trong suốt, lịch sự và trang nhã, bằng
những tấm màn voan trắng che rủ. Những khóm hoa
hồng, cẩm tú cầu đuợc trồng một cách mỹ thuật
trước hàng hiên, dưới cửa sổ, tạo cảm giác vui
tươi, hưng phấn khi ngồi trên bộ bàn ghế để phơi
nắng hoặc hóng mát duới tàng cây.
Khi vợ chồng tôi đến nơi, kim đồng hồ của phòng
trực chỉ 8 giờ 30 phút, bác sỉ và y tá đang đi
từng phòng kiểm tra sức khoẻ cho các cụ già. Mẹ
chồng tôi tươm tất, sạch sẽ trong bộ quần áo mới
thay, nét mặt tươi tỉnh. Họ đã làm vệ sinh cá nhân
cho bà từ sáng sớm, truớc khi dùng điểm tâm. Mâm
thức ăn sáng chưa dọn, còn để trên bàn. Cô y tá
người Việt vào kiểm tra huyết áp, đo lượng đường
trong máu, rồi rót nuớc, bỏ thuốc vào miệng bà, ân
cần thăm hỏi.
Mẹ chồng tôi không còn nhiều trí nhớ để trò chuyện.
Bà hờ hững trả lời những câu hỏi không chính xác,
mạch lạc. Những ngày đằng đẳng ở đây đã làm bà trở
nên câm lặng. Trái ngược với thuở sinh thời, bà
nổi tiếng là người nói nhiều. Ánh mắt vô hồn, lúc
nào cũng nhìn lên trần nhà và tách biệt với cảnh
vật chung quanh. Thời gian đầu cách đây mười bảy
năm, cô em chồng đã bảo lãnh bà sang Mỹ. Bà đã
sống một mình trong một căn phòng mà chính phủ ưu
tiên cho nguời già thuê. Ban ngày bà ở đó, chiều
đến con cháu thay phiên đón về nhà ăn, ngủ, tắm
rửa. Sáng hôm sau lại tiếp tục, như một em bé đi
nhà trẻ, đều đặn từ tháng nọ sang năm kia. Gần đây,
do tuổi tác quá cao [93 tuổi], bà bị té gãy xương
đùi, không thể đi lại đuợc,và không thể tự lo vệ
sinh cá nhân, nên cô em chồng sau khi bàn tính với
các anh chị đã quyết định đưa bà vào đây. Anh em
chúng tôi như bị dồn vào ngõ cụt, tiến thoái đều
lưỡng nan. Khó tìm một giải pháp vẹn toàn, con
đường nào cũng trắc trở, chông gai. Phải chăng là
do số phận, do định mệnh hay do nghiệp lực? Cuối
cùng phải tự an ủi và chấp nhận, đó là quy luật
đời thuờng mà xã hội đặt ra để giải quyết.
Lúc chưa sang Mỹ, tôi rất có thành kiến không mấy
tốt đẹp và phản đối việc đem gửi cha mẹ vào viện
dưỡng lão. Giờ đây tôi mới biết rằng tôi hiểu chưa
thấu. Luật pháp ở đây không cho nguời già yếu và
trẻ con ở nhà một mình. Thuê nguời giúp việc thì
không có, hoặc rất là đắc đỏ. Con người ở đây chịu
rất nhiều áp lực về công việc làm ăn, tiền bạc. Để
đáp ứng nhu cầu vật chất gọi là thiên đường của sự
hưởng thụ, nguời ta phải đánh đổi bằng những món
nợ khổng lồ, mà người ta truyền miệng nhau: "không
mắc nợ không phải là người Mỹ", đánh đổi sự mất
mát tình cảm, đổ vỡ hạnh phúc gia đinh, có khi
luôn cả sinh mạng. Những tấm gương hiếu thảo của
thầy Mẫn Tử Khiên trong Nhị Thập Tứ Hiếu: "thờ cha
sớm viếng khuya hầu" sẽ không có chổ đứng trong
thời khóa biểu của các người con ở thời hiện đại
này. Chỉ có những viện dưỡng lão mới đáp ứng những
lổ hổng mà người con không thể lấp đầy đuợc. Ở đây,
chỉ cần một cái nhấn chuông là có bác sĩ, y tá,
điều dưỡng, sẳn sàng đáp ứng, giải quyết điều mình
yêu cầu. Mẹ chồng tôi kêu đau bụng, là có ngay hai
cô điều dưỡng nguời Mễ cao to, khỏe mạnh bồng bà
đặt lên cái ghế dành cho nguời khuyết tật, đẩy vào
nhà vệ sinh. Tiểu tiện thì tự do thãi vào tả lót,
đến giờ họ đi thay.
10 giờ sáng và 3giờ 30 phút chiều, các cụ đuợc tập
trung ở phòng giải trí. Những chiếc xe lăn được
đẩy tới, xếp thứ tự quanh chiếc bàn dài. Họ tham
gia những trò chơi đố chữ, chuyền banh, những trò
chơi vận động tay chân, nghe nhạc, xem tivi, và
kết thúc bằng bánh ngọt hay trái cây với nước giải
khát.
11 giờ 30 và 5 giờ chiều các cụ tập trung ở phòng
ăn. Những mâm thức ăn dư thừa năng lượng. Ai không
thích ngồi tại đây, thì yêu cầu mang vào phòng.
Những chiếc xe lăn được đẩy tới, xếp quanh cái bàn
tròn. Bàn này có tám nguời, ba người đàn ông và
năm người đàn bà. Chỉ có mẹ chồng tôi là người
Việt. Ông Mỹ đen trên bốn mươi tuổi, bị tai biến
mạch máu não, tay không cử động được, nên người
điều dưỡng phải đút cho ông và hai bà kế bên. Tôi
đặc biệt chú ý đến một bà Mỹ trắng, tuổi trên độ "thất
thập cổ lai hi", nét mặt thanh tú, dáng người thon
nhỏ, mãnh mai.
Thời con gái
chắc bà được xếp vào hàng mỹ nhân. Đôi mắt to và
buồn. . . . đôi mắt như biết nói, khi đối diện với
một người nào. Ngày đầu tiên, bà nhìn tôi cười và
chỉ mẹ chồng tôi hỏi "tôi là gì". Tôi trả lời là
“con dâu”. Câu chuyện giữa tôi và bà chỉ dừng lại
ở những câu xã giao thông thường. Vốn liếng Anh
ngữ nghèo nàn của tôi, không cho phép tôi tìm hiểu
sâu hơn nữa. Hoặc nếu bà có tâm sự, tôi cũng không
thể hiểu hết đuợc. Một bữa, tôi thấy bà không chịu
ăn, bà ngồi trầm ngâm, rồi những giọt nước mắt
liên tục tuôn trào trên gò má xanh xao. . . Bà
khóc nức nở. Những người bạn cùng bàn an ủi, làm
bà càng khóc to hơn. Tôi nắm tay bà, lau nước mắt
và đút cho bà ăn. Bà vẫn khóc như một đứa trẻ.
Liên tiếp ba ngày như vậy. Tôi được biết qua cô y
tá nguời Việt, là lâu rồi con bà không đến thăm.
Hình ảnh tôi đút cơm cho mẹ chồng, làm bà nhớ con
và chạnh lòng buồn tủi. Những ngày sau cùng, tôi
không dám đưa mẹ chồng ra phòng ăn. Tôi không dám
nhìn bà khóc thêm nữa. Lòng tôi cũng xao động,
nước mắt tôi cũng chảy dài. Bởi tôi là người rất
nhạy cảm và dễ xúc động. Tôi rón rén ra nhìn. Bà
ngồi đó, đôi mắt xa xăm, tư lự. Chắc chắn bà đang
nghĩ về con bà. Biết bao câu hỏi, đang quay cuồng
trong tâm trí: sao lâu rồi con không đến, bận rộn
hay có sự bất trắc gì đã xảy ra? Bà vừa lo, vừa
buồn, rồi giận, rồi thương, nhớ, làm bà không tự
chủ, đè nén những cảm xúc của mình. Chắc chắn,
không biết bao nhiêu lần, cuốn phim dĩ vãng của
một thời vàng son đã lần lượt, thường xuyên quay
lại trong ký ức của bà. Bà nhớ đến người chồng quá
cố, nhớ những đứa con bà hết lòng thương yêu, nhớ
những ngày đầm ấm hạnh phúc, nhớ những lo toan,
thăng trầm trong cuộc sống. Giờ này con bà có biết
bà đang mõi mòn trông đợi hay không?
Ở đây, cái viện dưỡng lão này chỉ giúp người già
cải thiện, bù đắp những thiếu sót về vật chất, mà
con cái không thể hoàn thiện đuợc. Bác sĩ, y tá,
thức ăn, thuốc men, máy móc, chỉ giúp họ hết đau
đớn về thể xác. Cái tensionmètre chỉ đo đuợc chỉ
số huyết áp giao động trong ngày, các máy móc kỹ
thuật cao phát hiện những tổn thương sâu trong cơ
thể. . . Tất cả những thứ đó không giải quyết,
chữa trị đuợc những đau đớn tinh thần, những giao
động tâm lý, những khắc khoải triền miên của lòng
khát khao yêu thương. Đó là căn bệnh trầm kha mà
không máy móc, bác sỉ, y tá nào chữa trị đuợc. Đó
là thứ thức ăn linh nghiệm và hiệu quả mà con
nguời đã mõi mòn tìm kiếm và chưa bao giờ thấy no
đủ.
Mẹ chồng tôi có sáu nguời con: bốn trai hai gái.
Một mình bà nuôi nấng sáu người con khôn lớn
trưởng thành. Giờ đây khi tuổi tác chồng chất, sáu
người con không chăm sóc được một mẹ già. Dù rất
thương mẹ, dù biết công đức sinh thành dưỡng dục,
sâu rộng như trời biển; nhưng không thể nào làm
tròn bổn phận, bởi những tất bật, căng thẳng và đa
đoan của cuộc sống.
Bên Mỹ có ngày Mother's day và Father's day. Việt
Nam có ngày Vu Lan -Bông hồng cài áo. Ai còn cha
mẹ thì cài một đoá hoa cẩm chướng đỏ hay hoa hồng
đỏ. Ai mất mẹ thì cái một bông cẩm chướng trắng
hay hoa hồng trắng. Một hình ảnh biểu trưng, chọn
một ngày để nhắc nhở những ai diễm phúc còn có mẹ,
để mà yêu thương và trân quý. Với tôi một ngày
trong một năm như thế là quá ít ỏi. Chẳng khác nào
hạt muối trong đại dương. Mỗi ngày, ít lắm mỗi
tuần, tệ lắm mỗi tháng, ta phải tự cài lên áo một
hoa hồng đỏ, qua một món quà mà mẹ yêu thích: cái
bánh, củ khoai, trái chuối, ly sữa. . . . một lời
thăm hỏi ân cần, một câu nói ngọt ngào, một ánh
mắt ấm áp chan chứa yêu thương, một cử chỉ âu yếm,
quan tâm, lo lắng. Đó là đóa hoa hồng đỏ, đã tự nở
trên áo của ta, không đợi đến ngày Vu Lan được mọi
người nhắc nhở.
Em chồng tôi,
đều đặn mỗi ngày ghé thăm mẹ,với những món quà mà
bà mẹ Việt Nam yêu thích. Mỗi tuần cô cài đủ bảy
hoa hồng đỏ thắm. Bảy ngày hạnh phúc và luôn thầm
cảm ơn cái đặc ân còn có mẹ để mà tự nguyện và
hiến dâng. Thế mà mẹ chồng tôi vẫn không chịu đựng
đuợc sự trống vắng, cô đơn khi không có sự đồng
cảm giữa những người xa lạ và ngôn ngữ bất đồng.
Lúc nào bà cũng muốn về nhà, khẩn khoản muốn về
nhà.
Cùng phòng với mẹ chồng tôi là một bà cụ nguời Bắc
năm 54, mới đưa vào ba hôm. Nguời con gái lấy
chồng lính Mỹ, đã bảo lãnh bà sang đây mười mấy
năm về truớc. Bà chỉ còn da bọc xương, lưng còng
gần 90 độ. Bà nằm co quắp như con tôm luộc chín .
Bà không còn đủ sức để ngồi lâu. Bà chỉ ăn cháo và
uống sữa. Buổi trưa, người con gái đem cháo đến
đút cho bà, phát hiện đầu bà không ngẩng lên đuợc.
Cô ta hốt hoảng la toáng lên: "tại sao bà không
ngẩng đầu lên được, tụi nó đã làm gì bà?. Có phải
tụi nó giật đầu, giật tóc bà không ? Để tôi đi hỏi
cho ra lẽ?".
Bà không còn hơi
sức mà trả lời. Từ khi bà đến nằm trên cái giường
này, tôi chưa nghe bà nói gì ngoài tiếng thều thào
yếu ớt:"cho con về nhà, con muốn về nhà". Bà nhìn
tôi cầu cứu, tôi nắm bàn tay khô đét, lạnh ngắt và
hỏi bà cần gì. Bà chỉ nói một câu đó, lập đi, lập
lại không biết bao nhiêu lần. Bà tới đây từ một
cái viện dưỡng lão khác, mà cô con gái chê là tệ
quá. Cô ta sốt ruột vì thấy mẹ mình suy sụp nhanh
chóng. Cô phản ứng lồng lộn. Lòng thương mẹ mù
quáng làm cô thốt ra những câu nói không tế nhị.
Bác sĩ và xe cấp cứu đến, người ta đưa bà vào bệnh
viện lớn để rà soát lại cơ thể. Căn phòng chỉ còn
lại một mình mẹ chồng tôi.
Sớm mai thức giấc, nhìn quanh một mình. . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . .
Sáng khuya trưa tối, nhìn quanh một mình
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . .
Đời mong manh quá, kể chi chuyện mình
Đó là những câu hát não nùng, thật chua chát và
đắng cay mà nhạc sĩ Lam Phương đã viết cho số phận
của mình vào cuối đời, với những dư chứng của bệnh
tai biến mạch máu não.
Chúng tôi về lại Việt Nam, với linh tính biết đây
là lần cuối cùng chúng tôi còn thấy mẹ. Buổi chia
tay đẫm nước mắt và đau buồn trỉu nặng tâm tư.
Mười ngày sau, vào một đêm cuối mùa hạ 2006, mẹ
chồng tôi đã vĩnh viễn không mở mắt nhìn cái trần
nhà, mà mấy tháng ròng rã bà ít khi rời nó. Bà ra
đi trong sự an giấc của mọi người, âm thầm lặng lẽ
không một ai hay biết. Còn biết bao bà mẹ khác
cũng đã và sẽ ra đi trong cô đơn tẻ lạnh như thế
này.
Tất cả con cháu ở rải rác ở nhiều tiểu bang đau
đớn khi nhận đuợc tin khủng khiếp này. Cô em chồng
tức tưởi vì bà không đợi cô. Chỉ vài tháng nữa cô
sẽ nghĩ hưu non, sẽ đem mẹ về nhà phụng duỡng. Cô
đã không điều đình được với Thần Chết. Mọi nguời
câm lặng chịu đựng. Trong thâm tâm ai cũng trăn
trở, ray rứt, xót xa vì biết bao điều chưa thực
hiện: "địa ngục chứa đầy những dự định tốt đẹp".
Làm sao cân bằng lại tâm lý, tìm lại an bình, một
khi lòng cứ khắc khoải bỡi những dằn vặt, ăn năn.
Thời gian trôi theo sự tiến bộ của khoa học kỹ
thuật. Nguời ta đa chế tạo ra nhiều thứ. . . . kể
cả nguời máy, nhưng có một thứ họ không chế tạo
được là trái tim người mẹ. Con người vẫn ăn ngủ,
làm việc, theo cái đà tiến hóa. Không biết đủ,
không vừa lòng, họ có thể bị con lốc cuốn trôi
theo cái thảm họa đua đòi vật chất. Nếu không cảnh
giác không dừng lại đúng lúc, họ sẽ là một thứ nô
lệ mà suốt cuộc đời họ không hề biết hạnh phúc
đích thực là gì. Quên bản thân, quên quyến thuộc,
quên luôn cả tử thần đang rình rập, chờ đợi, bất
cứ lúc nào cũng có thể cướp đi sinh mạng vốn đã
mong manh trong từng hơi thở. Tại ai? Tại con
người? Tại xã hội hay tại ta sinh lầm thế kỹ ?
|
|