Vị Hoàng Hậu cuối cùng - không những đã để
lại dấu ấn cho lịch sử Việt Nam mà cố
Hoàng Hậu còn ngự trị trong lòng người dân
ở Pháp tại Chabrignac - một làng nhỏ thuộc
quận Corrèze, vùng Limousin gần Thị Trấn
Bordeaux. Cho tới hôm nay Chabrignac cứ
còn lưu luyến mãi với một người phụ nữ
Việt Nam đặc biệt này đã thể hiện trên "Lepopulaire.
Fr" với tựa đề "La belle impératrice
demeure dans les coeurs" (Cố Hoàng Hậu
xinh đẹp vẫn ngư trong tim), vào ngày
14.6.2010 như sau: "Chabrignac và
Việt
Nam đã liên kết bởi một tình cảm không ai
ngờ được. Vì Nam Phương Hoàng Hậu đã chọn
nơi nầy làm chốn dung thân từ năm 1958 cho
đến khi qua đời. Trong năm năm của cuộc
sống trên cõi đời "Corrézienne" ấy, Hoàng
Hậu đã để lại bao nhiêu là dấu ấn, biết
bao là tình cảm cho người dân trong vùng."
Năm 1958, nguồn tin cho rằng một Hoàng Hậu
Việt Nam sẽ đến Perche sinh sống, khiến
cho dân làng bán tín bán nghi. Vậy mà
không bao lâu bóng dáng của Bà đã trở nên
quen thuộcvới dân làng. Những mối giao
dịch thân tình và thoải mái của Bà với dân
chúng đã đưa sự hiện diện của người quyền
quý Việt Nam nơi miền thôn dã Pháp từ chỗ
xa lạ vào chốn bình thường.
Ông Lucien Boudy, cựu Xã Trưởng Chabrignac,
nhắc lại rằng Bà là một mệnh phụ phu nhân
hết sức lịch sự, nhứt là vô cùng hào phóng
với dân làng. Bà rất nhân đạo và nhiều
thiện cảm với nhân viên của tòa nhà. Khi
Bà mua tòa nhà ở "Perche", Hoàng Hậu đã
phần nào trở thành nhà nông. Ngôi nhà của
bà có rừng bao quanh, gồm 32 phòng, 7
phòng tắm, 5 phòng khách. Ai cũng nghĩ là
Bà muốn tránh thành phố Cannes, nơi mà
hoàng gia đã có một lâu đài, mà cũng là
nơi mà Bà thường bị quấy rầy.
Ngôi mộ của Hoàng Hậu trong nghĩa trang bé
nhỏ ở xã đã lưu giữ mãi kỷ niệm của Bà
trong lòng người dân. Dẫu vậy, sự kiện
lịch sử ít người biết nầy - hay đã lãng
quên - vẫn còn làm cho Hiệp Hội Pháp-Việt
thị xã Bordeaux xúc động, nên cuối tuần
nầy (19-20.6.2010) , Hội sẽ có một phái
đoàn đến Chabrignac để viếng thăm Hoàng
Hậu.
Sơ lược về cuộc đời của
Hoàng Hậu Nam Phương gắn bó như thế nào
với đất nước.
Nam Phương Hoàng Hậu là một người vợ hiền
thục và nhân từ. Suốt những năm ở ngôi
Hoàng hậu cho đến khi từ giã cõi đời không
hề có một tiếng thị phi, một lời than
trách. Bà được ghi nhận trong lịch sử như
một Hoàng hậu mẫu mực. Nam Phương Hoàng
Hậu, tên thật Nguyễn Hữu Thị Lan là vợ của
Hoàng Đế Bảo Đại. Bà là vị hoàng hậu duy
nhất được phong khi còn sống của nhà
Nguyễn, cũng là hoàng hậu cuối cùng của
chế độ phong kiến Việt Nam.
Bà khuê danh là Nguyễn Hữu Thị Lan, sinh
ngày 4 tháng 12, 1914 tại Gò Công, Tiền
Giang, xuất thân trong một gia đình Công
giáo giàu có bậc nhất miền Nam thời bấy
giờ, do đó bà còn có tên thánh là Marie
Thérèse. Bà là con gái của đại điền chủ
Nguyễn Hữu Hào và là cháu ngoại của ông Lê
Phát Đạt, tức Huyện Sỹ. Lê Phát Đạt là
người bỏ tiền xây dựng Nhà Thờ ở đường Bùi
Chu cũ, hiện nay là nhà thờ Huyện Sỹ,
đường Tôn Thất Tùng, Quận 1, Sài Gòn và
nhà thờ Hạnh Thông Tây ở Gò Vấp (nhà thờ
Chí Hòa đường Cách mạng tháng 8 - Q. Tân
Bình được xây dựng với số tiền dư khi xây
dựng xong nhà thờ Huyện Sỹ)
Năm 1926, Marie Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan,
khi đó 12 tuổi, được gia đình cho sang
Pháp học tại trường Couvent des Oiseaux,
một trường nữ danh tiếng ở Paris do các nữ
tu điều hành. Tháng 9 năm 1932, sau khi
thi đậu Tú tài, Nguyễn Hữu Thị Lan về nước
trên con tàu D’Artagnan của hãng
Messagerie Maritime. Vua Bảo Đại hồi loan
cũng đi cùng chuyến tàu đó nhưng hai người
không gặp nhau.
Gần một năm sau đó, trong một buổi dạ tiệc
tại khách sạn La Palace tại Đà Lạt do Toàn
quyền Đông Dương và viên Đốc lí thành phố
sắp đặt, Nguyễn Hữu Thị Lan và Bảo Đại đã
gặp nhau.
Về cuộc tình duyên đó, Bảo Đại có viết
trong cuốn Con rồng Việt Nam: "Sau lần hội ngộ
đầu tiên ấy, thỉnh thoảng chúng tôi lại
gặp nhau để trao đổi tâm tình. Marie
Thérèse thường nhắc đến những kỷ niệm ở
trường Couvent des Oiseaux một cách thích
thú. Cũng như tôi, Marie Thérèse rất thích
thể thao và âm nhạc. Nàng có vẻ đẹp dịu
dàng của người miền
Nam pha một chút Tây phương. Do vậy mà tôi
đã chọn từ kép Nam Phương để đặt danh hiệu
cho nàng.
Các vị Tiên Đế của tôi cũng thường hướng
về người đàn bà miền Nam. Nếu tôi nhớ
không sai thì trước Hoàng hậu Nam Phương,
có đến bảy phụ nữ miền Nam đã từng là chủ
nhân của Hoàng thành Huế. Khi chọn phụ nữ
miền Nam làm vợ, hình như đức Tiên Đế và
tôi đều nghĩ rằng trước kia đức Thế Tổ Cao
Hoàng đã được nhân dân miền Nam yểm trợ
trong việc khôi phục giang sơn. Chính đó
là sự ràng buộc tình cảm giữa Hoàng triều
Huế với người dân miền Nam".
Hoàng hậu Nam Phương cũng nhắc lại: "Hôm đó ông Darle,
Đốc Lí thành phố Đà Lạt gởi giấy mời cậu
Lê Phát An tôi và tôi đến dự dạ tiệc ở
Hôtel Palace. Tôi không muốn đi nhưng cậu
An tôi năn nỉ và hứa với tôi là chỉ đến
tham dự một chút và vái chào nhà Vua xong
là về nên tôi phải đi một cách miễn cưỡng
và tôi cũng chỉ trang điểm sơ sài thôi.
Chúng tôi đến trễ nên buổi tiệc đã bắt đầu
từ lâu. Cậu tôi kéo ghế định ngồi ngoài
hiên thì ông Darle trông thấy, ông ta chạy
đến chào chúng tôi rồi nắm tay cậu tôi kéo
chúng tôi vô nhà. Vừa đi ông vừa nói:
- Ông và cô phải đến bái yết Hoàng thượng
mới được.
Khi cánh cửa phòng khách vừa mở, tôi thấy
vua Bảo Đại ngồi trên chiếc ghế bành chính
giữa nhà. Ông Darle bước tới bên cạnh Vua
rồi nghiêng mình cúi chào và kính cẩn nói:
-Votre Majesté, Monsieur Lê Phát An et sa
nièce, Mademoiselle Marie Thérèse. (Tâu
Hoàng thượng, đây là ông Lê Phát An và
người cháu gái, cô Marie Thérèse)
Nhờ các nữ tu ở trường Couvent des Oiseaux
từng chỉ dạy nên tôi biết phải làm gì để
tỏ lòng tôn kính đối với bậc Quân Vương,
vì vậy tôi đã không ngần ngại đến trước
mặt Hoàng Đế, quỳ một gối và cúi đầu sát
nền nhà cho đến khi thấy bàn tay cậu tôi
kéo tôi dậy, tôi mới đứng lên. Vua gật đầu
chào tôi đúng lúc tiếng nhạc vừa trỗi theo
nhịp điệu Tango, Ngài ngỏ lời mời và dìu
tôi ra sàn nhảy rồi chúng tôi bắt đầu nói
chuyện.
Về sau, khi đã trở thành vợ chồng, Ngài
mới cho tôi biết hôm đó Ngài rất chú ý
cách phục sức đơn sơ của tôi. Tôi nghĩ
rằng tôi được nhà Vua lưu ý một phần do
trong suốt buổi dạ tiệc chỉ có tôi là
người đàn bà Việt Nam duy nhất nói tiếng
Pháp và theo hành lễ đúng cung cách lễ
nghi Âu tây đối với Ngài".
Bảo Đại say mê Nguyễn Hữu Thị Lan, ông
viết lại: Lan có một vẻ đẹp thùy mị của
người con gái miền Nam, hiền lành và quyến
rũ làm tôi say mê. Và khi Bảo Đại hỏi cưới
thì gia đình Nguyễn Hữu Thị Lan ra điều
kiện:
Nguyễn Hữu Thị Lan phải được tấn phong
Hoàng Hậu Chánh Cung ngay trong ngày cưới.
Được giữ nguyên đạo Công Giáo, và các con
khi sinh ra phải được rửa tội theo giáo
luật Công giáo và giữ đạo.
Riêng Bảo Đại thì vẫn giữ đạo cũ là Phật
giáo.
Phải được Tòa Thánh cho phép đặc biệt hai
người lấy nhau và giữ hai tôn giáo khác
nhau.
Nguyễn Hữu Thị Lan là người nổi tiếng xinh
đẹp, từng ba năm liền đạt giải hoa hậu
Đông Dương, nhưng bà mang quốc tịch Pháp
và theo Công giáo. Vì vậy cuộc hôn nhân
giữa Bảo Đại và Nguyễn Hữu Thị Lan gặp
phải rất nhiều phản đối. Trước Hoàng Tộc,
Bảo Đại đã nói: "Trẫm cưới vợ cho trẫm
đâu phải cưới cho cụ Tôn Thất Hân và Triều
đình."
Hôn lễ được tổ chức ngày 20 tháng 3 1934 ở
Huế. Khi đó Bảo Đại đúng 21 tuổi, còn
Nguyễn Hữu Thị Lan 19 tuổi. Ngay ngày hôm
sau, lễ tấn phong Hoàng Hậu được diễn ra
rất trọng thể ở điện Dưỡng Tâm. Nhà vua
phong Hoàng Hậu tước vị Nam Phương Hoàng
Hậu. Sự kiện Nguyễn Hữu Thị Lan được tấn
phong Hoàng hậu ngay sau khi cưới là một
biệt lệ đối với các vợ vua triều Nguyễn.
Vì mười hai đời vua Nguyễn trước, các bà
vợ vua chỉ được phong tước Vương phi, đến
khi chết mới được truy phong Hoàng hậu.
Vua Bảo Đại có giải thích
thêm về hai chữ Nam Phương như sau:
"Tôi đã chọn tên trị vì cho bà Hoàng
Hậu mới là Nam Phương. Nam Phương có nghĩa
là hương thơm của miền Nam và tôi cũng ra
một chỉ dụ đặc biệt cho phép bà được phục
sức màu vàng – màu dành riêng cho Hoàng Đế".
Sau lễ cưới, vua Bảo Đại cùng hoàng hậu
Nam Phương dọn về ở tại điện Kiến Trung
thuộc khu vực cấm thành. Điện này xây cất
từ thời vua Khải Định nhưng được sửa chữa
và tân trang các tiện nghi Tây phương vào
đầu triều vua Bảo Đại.
Đêm ngày 4 tháng 1 năm 1936, người dân Huế
nghe những tiếng súng bắn mừng báo tin Nam
Phương đã hạ sanh, và lờ mờ sáng lại một
lần nữa 7 tiếng súng thần công làm lay
động cả Hoàng Thành, báo hiệu Hoàng hậu
Nam phương đã sinh một hoàng tử. Người đó
chính là Đông cung Thái tử Bảo Long.
Hoàng hậu Nam Phương cùng
Vua Bảo Đại có tất cả 5 người con.
Thái tử Bảo Long, sinh ngày 4 tháng 1 năm
1936
Công chúa Phương Mai, sinh ngày 1 tháng 8
năm 1937
Công chúa Phương Liên, sinh ngày 3 tháng
11 năm 1938
Công chúa Phương Dung, sinh ngày 5 tháng 2
năm 1942
Hoàng tử Bảo Thắng, sinh ngày 9 tháng 12
năm 1943
Khi đó công việc hàng ngày của hoàng hậu
Nam Phương là dạy dỗ các hoàng tử, công
chúa. Thỉnh thoảng bà phải cùng các quan ở
Bộ Lễ bàn thảo các lễ tiệc trong cung đình,
lo việc cúng giỗ các Tiên đế và đi vấn an
sức khỏe các bà Tiên cung và Hoàng thái
hậu Từ Cung, tức mẹ vua Bảo Đại. Hoàng hậu
Nam Phương còn tham gia các việc xã hội và
từ thiện. Hàng năm bà đều tham dự các buổi
phát giải thưởng cho các học sinh giỏi tổ
chức tại trung tâm Accueil gần nhà Dòng
Chúa Cứu Thế. Theo lời nữ sĩ Đạm Phương
thì có lần Hoàng hậu Nam Phương bảo bà làm
đơn xin phép Bộ Giáo Dục đem môn nữ
công gia chánh vào học đường.
Hoàng hậu Nam Phương cũng xuất hiện thường
xuyên bên cạnh Bảo Đại trong các nghi lễ
ngoại giao như đón tiếp Thống chế Tưởng
Giới Thạch của Đài Loan, Quốc Vương Soupha
Vangvong nước Lào hoặc Quốc vương Sihanouk
của Cao Miên... Lần vua Bảo Đại tự mình
lái xe hơi đi thăm Nam Vang cũng có mặt
Hoàng hậu tháp tùng. Là người Công giáo,
hoàng hậu Nam Phương đã đem lại hòa khí
giữa các chức sắc đạo Công giáo ở Việt Nam
với Hoàng tộc nhà Nguyễn, vốn trước đó có
những quan hệ căng thẳng kéo dài.
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công.
Ngày 25 tháng 8, Chính phủ lâm thời Hồ Chí
Minh điện cho Bảo Đại yêu cầu ông ban dụ
thoái vị. Ngày 30 tháng 8 1945, Vua Bảo
Đại thoái vị trong một buổi lễ long trọng
ở Ngọ Môn, Huế, trao quốc ấn Hoàng Đế Chi
Bửu và thanh kiếm bạc nạm ngọc cho đại
diện của chính phủ lâm thời của nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa là ông Trần Huy Liệu.
Tháng 9 năm 1945, ông ra nhận chức "Cố vấn
tối cao" trong chính phủ. Ngày 16 tháng 3
1946, ông tham gia phái đoàn Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa sang thăm viếng Trung Hoa,
nhưng không trở về nước. Sau ngày toàn
quốc kháng chiến 19 tháng 12 1946, thực
dân Pháp trở lại chiếm đóng Huế. Hoàng hậu
Nam Phương cùng các con sang Pháp.
Tuy vậy, Nam Phương hoàng hậu được nhiều
người đánh giá là người thiết tha với đất
nước. Theo tài liệu của sử gia Pháp Jean
Renaud do nhà xuất bản Guy Boussac ấn hành
năm 1949:
Sau khi quân Pháp dựa vào thế lực của quân
Anh quốc để gây hấn ở miền Nam với ý đồ
tái chiếm thuộc địa Việt Nam. Lúc đó vua
Bảo Đại đã thoái vị, bà Nam Phương đang ở
tại An Định cung bên bờ sông An Cựu. Đau
lòng trước thảm cảnh mà đồng bào miền Nam,
quê hương của bà đang trực tiếp gánh chịu,
cựu Hoàng hậu Nam Phương đã gửi một thông
điệp cho bạn bè ở Á châu yêu cầu họ lên
tiếng tố cáo hành động xâm lăng của thực
dân Pháp với lời lẽ như sau:
"Kể từ tháng 3
năm 1945, nước Việt Nam đã thoát khỏi sự
đô hộ của người Pháp nhưng vì lòng tham
của một thiểu số thực dân Pháp với sự tiếp
tay của quân đội Hoàng gia Anh nên hiện
nay máu của nhân dân Việt Nam lại tiếp tục
chảy trên mảnh đất vốn đã có quá nhiều đau
khổ. Hành động này của thực dân Pháp là
trái với chủ trương của Đồng Minh mà nước
Pháp lại là một thành viên. Vậy tôi tha
thiết yêu cầu những ai đã từng đau khổ vì
chiến tranh hãy bày tỏ thái độ và hành
động để giúp chúng tôi chấm dứt chiến
tranh đang ngày đêm tàn phá đất nước tôi.
Thay mặt cho hàng chục triệu phụ nữ Việt
Nam, tôi thỉnh cầu tất cả bạn bè của tôi
và bạn bè của nước Việt
Nam hãy bênh vực cho tự do.
Xin các chính phủ của khối tự do sớm can
thiệp để kiến tạo một nền hòa bình công
minh và chân chính và xin quý vị nhận nơi
đây lòng biết ơn sâu xa của tất cả đồng
bào của chúng tôi"
Hoàng hậu Nam Phương cũng là người tiêu
biểu trong các bà mệnh phụ nhiệt tình với
“Tuần lễ Vàng”
do Việt Minh phát động tại Huế. Hôm ấy,
ngày 17 tháng 9 1945, bà là người đầu tiên
đến bên một cái bàn trải khăn đỏ rồi từ từ
tháo hết số hàng trang sức bằng vàng đang
mang trên người để cống hiến. Sau đó bà
được gắn một huy hiệu in cờ đỏ sao vàng.
Lưu Vong
Nam Phương Hoàng hậu rời Việt Nam năm
1947.
Bà chọn Chabrignac, một làng quê trải dài
trên vùng đồi có những mái nhà xám. Trên
khu đất rộng 160 mẫu, bà xây một biệt thự
bằng đá cẩm thạch ở giữa đồi. Kế cận lâu
đài này có một nông trại khác mang tên
”Domaine de la Perche” do Hoàng Hậu Nam
Phương mua với tài chánh riêng Bà, vốn
giàu có từ trước. Nông trại này không có
lâu đài, nhưng chỉ có một ngôi nhà dài khá
lớn, hơn 30 phòng, chung quanh là vườn Nho
và cây ăn trái như Cam Lê và Táo, xen kẻ
với vườn hoa đủ màu thi nhau nẩy nở. Bà
Nam Phương đã cho mua cơ sở xinh đẹp này
từ năm 1958. Lúc Bà Bá Tước Như Lý de la
Besse hay tin này, Bà ấy làm ngạc nhiên,
nhưng không hỏi hoặc thăm viếng Bà Nam
Phương, có lẽ vì một bà thuộc giòng Vua
cách mạng, một bà thì thuộc giòng Vua thân
Pháp. Tuy gần nhà mà xa cửa ngõ, suốt 5
năm trời hai Bà không hề gặp nhau.
Giữa đất khách, bà sống ẩn dật trong yên
tĩnh. Ngoài 2 chung cư lớn ở Neuilly và
đại lộ Opéra (Paris), bà còn sở hữu nhiều
nhà đất ở các nước Maroc, Congo, cùng
nhiều ngọc ngà, châu báu. Dân làng
Chabrignac kể rằng, bà Nam Phương giàu có,
nhưng sống thiếu hạnh phúc vì ít khi thấy
cựu Hoàng Bảo Đại tới thăm ngoài ngày hôn
lễ của công chúa Phương Liên thành hôn với
một người Pháp, Bernard Soulain ,vào tháng
1 năm 1962, là một sự kiện của vùng.
Năm 1963, vào khoảng 5 giờ chiều, cựu
hoàng hậu Nam Phương cảm thấy mệt bèn cho
người nhà đi mời Bác sỹ đến thăm mạch. Sau
khi chẩn khám, Bác sĩ cho biết bà bị viêm
họng nhẹ, chỉ uống thuốc vài hôm là khỏị
Nhưng không dè, Bác sĩ vừa rời khỏi nhà
chừng vài tiếng đồng hồ thì bà cảm thấy
khó thở. Ngươi hầu bà bèn nhờ một người
Pháp hàng xóm đi mời một Bác sĩ khác,
nhưng người Bác sĩ thứ hai chưa đến kịp
thì cựu Hoàng hậu Nam Phương đã êm ái lìa
đời ngay trong đêm đó khi vừa tròn 49 tuổi.
Ngoài hai người giúp việc trong nhà, không
có một người ruột thịt nào có mặt bên cạnh
bà trong giờ phút lâm chung, vì các con bà
đều ở tận Paris để làm việc và đi học.
Đám tang của bà được tổ chức một cách sơ
sài lặng lẽ. Ngày tang lễ, ngoài hai Hoàng
tử và ba Công chúa đi bên cạnh quan tài
của mẹ không có một người bà con nào khác.
Về phía quan chức Pháp thì chỉ có hai Quận
trưởng của Brive la Gaillarde và
Chabrignac. Trong suốt thời gian tang lễ
Cựu hoàng Bảo Đại cũng không có mặt.
Hoàng Hậu Nam Phương được chôn cất tại
nghĩa địa Chabrignac. Ngôi mộ đơn sơ với
tấm bia đá hai mặt ghi hai hàng chữ bằng
hai thứ tiếng khác nhau, mặt trước viết
chữ Hán, mặt sau viết chữ Pháp:
Bia chữ Hán:
ĐẠI NAM NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU CHI MỘ
(Mộ phần của Hoàng hậu Nam Phương nước Đại
Nam)
Bia chữ Pháp: ICI REPOSE L'IMPÉRATRICE
D'ANNAM NÉE MARIE THÉRÈSE NGUYEN HUU THI
LAN (Đây là nơi an nghỉ của Hoàng hậu An
Nam nhũ danh Maria Têrêsa Nguyễn Hữu Thị
Lan)