| |

Chân dung thiếu nữ của Lefebvre. Tại phương Tây,
hình ảnh người thiếu nữ là biểu tượng của vẻ đẹp
nhân loại
Không gì hiện hữu như cái đẹp và cũng không gì
khó nắm bắt như cái đẹp. Người ta ví việc nghiên
cứu về cái đẹp như tìm hiểu một cái cây có nhiều
cành và luôn phát triển, vì cái đẹp luôn luôn
tồn tại trong xã hội, trong thiên nhiên và nghệ
thuật. Bởi vậy, cuộc luận bàn về sắc đẹp có thể
có khởi đầu, nhưng không bao giờ có kết thúc...
Cái đẹp trong mắt... triết gia
Bản chất và ý nghĩa của Cái đẹp là một trong
những chủ đề chính của môn triết học có tên là
“Mỹ học”. Triết gia Immanuel Kant, người đề ra
luận thuyết Mỹ học đầy sức ảnh hưởng, nhấn mạnh
rằng Cái đẹp có cả đặc trưng chủ quan và khách
quan.
Nhưng ông cũng nhấn mạnh rằng khi người ta gọi
một đối tượng nào đó là đẹp, “sự đánh giá này
không chỉ đơn thuần cho riêng anh ta, mà cho tất
cả mọi người, và rồi nói về cái đẹp đó như thể
là những gì thuộc quyền sở hữu của anh ta.
Quan điểm chung đều cho rằng cái đẹp tồn tại
trong sự hiện diện của tất cả những vật và người
được cho là tốt. Một quả táo ngon sẽ được đón
nhận như là một thứ đẹp đẽ hơn quả táo giập.
Và đương nhiên, đa phần công chúng nhận định
rằng cứ người hấp dẫn về mặt ngoại hình đều tốt,
tốt cả thể chất lẫn tâm hồn. Đặc biệt, những
người này được cho là đương nhiên đã sở hữu một
loạt những nét tích cực và nhân cách tốt”.
Hơn nữa, các kỹ năng của con người có tính phát
triển và có thể thay đổi nhận thức về cái đẹp.
Một anh phó mộc coi ngôi nhà nghiêng là xấu, và
nhiều bác thợ cả thậm chí còn nhìn được rằng góc
lệch của ngôi nhà đó chừng nửa độ.
Tương tự, nhiều nhạc sĩ có thể nhận biết một
quãng trưởng lệch âm, hoặc quá cao hoặc quá thấp,
trong 2% khoảng cách tới quãng tiếp theo. Đa số
mọi người đều nắm được những quan niệm mỹ học
tương ứng với công việc hoặc sở thích mà họ rất
am hiểu.
Có thể thấy được luận thuyết sớm nhất về Cái đẹp
trong những tác phẩm của các triết gia tiên
phong cổ đại Hy Lạp từ giai đoạn tiền Socrates,
như Pythagoras. Trường phái của triết gia kiêm
nhà toán học Pythagoras đã nhận ra mối liên hệ
giữa Toán học và Cái đẹp.
Đặc biệt, họ nhấn mạnh rằng những vật có sự cân
xứng tương ứng với “Tỷ lệ Vàng” (Golden Ratio)
dường như trông hấp dẫn hơn hẳn. Nền tảng của
kiến trúc học cổ đại Hy Lạp nằm chính ở quan
niệm về tính đối xứng và tỷ lệ cân đối. Những
nghiên cứu hiện đại cũng chỉ ra rằng người có
nét mặt đối xứng và đạt được tỷ lệ tương ứng với
“Tỷ lệ Vàng” thường đẹp hơn những gương mặt
không có các nét này.
Thần Vệ nữ qua nét vẽ của danh họa Sandro
Botticelli
Những nền tảng do các nghệ sĩ Hy Lạp và La Mã cổ
đại xây dựng còn đưa ra quy chuẩn về Cái đẹp của
nam giới trong nền văn minh Phương Tây. Một
người đàn ông La Mã lý tưởng phải cao lớn, vạm
vỡ, chân dài, với mái tóc dầy, trán rộng và cao
– một biểu hiện của sự thông minh – mắt to, mày
rậm, mũi cao, miệng nhỏ và hàm bạnh. Sự kết hợp
của các yếu tố này, cũng như ngày nay, sẽ tạo ra
một vẻ đẹp nam tính cực kỳ ấn tượng.
Quyền năng của Sắc đẹp
Xuyên suốt trong lịch sử, Cái đẹp thường được
liên tưởng tới những gì tốt đẹp. Tương tự, thái
cực đối lập với Cái đẹp thường bị coi là xấu xí
và cũng bị gắn với những điều xấu xa. Ví dụ như
các mụ phù thủy thường được miêu tả với những
nét ngoại hình và tính cách rất khó chịu.
Sự tương phản này được thu nhỏ lại qua những câu
chuyện cổ tích như “Người đẹp ngủ trong rừng”.
Tương tự, theo đại văn hào Goethe trong tác phẩm
“Elective Affinities” năm 1809 của ông, thì sắc
đẹp là “một vị khách được nghênh đón ở khắp mọi
nơi”.
Mặc dù phong cách và thời trang luôn biến đổi
mạnh mẽ, nhưng nghiên cứu về sự giao thoa giữa
các nền văn hóa cho thấy rất nhiều sự tương đồng
trong nhận thức của con người về sắc đẹp. Ví dụ
như một đôi mắt to và làn da sáng của cả đàn ông
và đàn bà, đều được coi là đẹp ở tất cả các nền
văn hóa.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng những nét trẻ thơ
luôn có sự hấp dẫn, và vì thế cũng được coi là
đẹp. Sự trẻ trung nói chung cũng thường đồng
nghĩa với Cái đẹp. Có một bằng chứng rõ ràng
rằng thói thiên vị những gương mặt đẹp đã xuất
hiện từ lúc đứa bé mới phát triển, và tiêu chuẩn
của sự hấp dẫn thường là giống nhau ở mọi nền
văn hóa.
Tác phẩm điêu khắc nổi tiếng của
Michelangelo-David-được coi là tiêu biểu cho vẻ
đẹp nam tính
Một gương mặt duyên dáng có thể được coi là
thích hợp để lựa chọn bạn đời vì sự cân đối và
hoàn toàn không có khiếm khuyết chính là dấu
hiệu cho thấy những mặt quan trọng của chất
lượng bạn tình, như sức khỏe chẳng hạn. Cũng có
khả năng là những sự nổi trội này đơn giản là
sản phẩm phụ từ cách mà bộ não của chúng ta xử
lý thông tin.
Một chỉ số sắc đẹp phụ nữ đã được các nhà nghiên
cứu khám phá ra là tỷ lệ vòng eo - vòng hông
(waist-to-hip ratio,WHR) vào khoảng 0,70 cho phụ
nữ. Khái niệm WHR do nhà tâm lý học Devendra
Singh (thuộc trường Đại học Texas-Mỹ) phát triển.
Các nhà sinh lý học đã cho rằng tỷ lệ này còn
chỉ ra gần như chính xác khả năng sinh sản của
phụ nữ. Theo truyền thống ở thời tiền hiện đại,
khi việc tìm kiếm thức ăn còn khó khăn, những
người thừa cân thường được coi là hấp dẫn hơn
người mảnh mai.
“Cái nết” và “Cái đẹp”
Vẻ đẹp nội tâm là khái niệm mô tả khía cạnh tích
cực của những gì không thể nhìn nhận được từ vẻ
ngoài hình thể. Trong khi muôn loài thường sử
dụng những đường nét cơ thể và kích thích tố để
hấp dẫn bạn tình, thì con người lại cho rằng lựa
chọn của họ còn phải dựa vào vẻ đẹp nội tâm. Và
những đặc tính - gồm lòng nhân hậu, sự mẫn cảm,
dịu dàng hoặc vị tha, sáng tạo và trí thông minh
- được cho là đáng tôn thờ nhất kể từ thời cổ
xưa.
Mô tả “cái đẹp” của một ai đó, dù trên góc độ
một cá nhân hay sự đồng thuận của cộng đồng,
thường dựa trên một vài sự kết hợp của vẻ đẹp
nội tâm, trong đó có những nhân tố tâm lý học
như tính cách, sự thông minh, sự duyên dáng và
thanh lịch; và vẻ đẹp xa hơn gồm nhân tố thể
hình, như sức khỏe, sự trẻ trung...
Một cách thông thường - dựa trên tính đồng thuận
cộng đồng hay quan điểm chung - để đánh giá vẻ
đẹp bề ngoài là tổ chức một cuộc thi sắc đẹp,
như Hoa hậu Hoàn vũ. Tuy nhiên, vẻ đẹp nội tâm
là vấn đề khó định lượng hơn nhiều cho dù các
cuộc thi sắc đẹp vẫn thường cho là cũng đã tính
đến khía cạnh này.
Một nghiên cứu mới so sánh những gì mà con người
thường chú ý để tìm sự hấp dẫn với bạn tình, lại
nhấn mạnh tới cái gọi là biểu hiện bên ngoài của
“vẻ đẹp nội tâm”. Theo đó, nghiên cứu cho rằng
con người cũng vẫn dựa vào những nét hình thể và
kích thích tố hệt như bất kỳ một loài vật nào
trong lúc tìm bạn tình.
Nghiên cứu khẳng định rằng cho dù “vẻ đẹp nội
tâm” có tác động, hay không tác động ở mức nào
đó tới thói quen chọn bạn tình của con người,
thì một số đặc điểm ngoại hình khiến người ta
suy diễn về “vẻ đẹp nội tâm” vẫn tạo ra ưu thế.
Sắc đẹp trong xã hội
Cái đẹp đề ra một quy chuẩn so sánh và nó có thể
gây ra sự bực bội và bất mãn khi không đạt được
được quy chuẩn đó. Series truyền hình hài “Ugly
Betty” nói về một cô gái hay bị chế giễu vì ăn
mặc lỗi thời, hình thức xấu xí.
Ngược lại, một người cũng có thể luôn là mục
tiêu của các vụ quấy rối nếu cô ta quá đẹp.
Trong “Malena” (bộ phim truyền hình Italy lãng
mạn với vai chính do nữ tài tử Monica Bellucci
đảm nhiệm), một cô gái có vẻ đẹp hớp hồn đã bị
chính các phụ nữ trong cộng đồng đẩy vào cảnh
nghèo khổ vì họ luôn từ chối cho cô công ăn việc
làm, do sợ rằng cô ta có thể “quyến rũ” chồng họ.
Nhưng xét một cách toàn diện, sắc đẹp thường
mang đến cho người ta ưu thế nhất định. Các nhà
nghiên cứu đã chỉ ra rằng những sinh viên trông
dễ coi thường được giáo viên cho điểm cao hơn
những bạn học có ngoại hình bình thường. Những
cặp vợ chồng hấp dẫn thường nhận được sự quan
tâm có tính cá nhân từ các bác sĩ của họ.
Nhiều nghiên cứu còn cho thấy rằng những tên tội
phạm điển trai thường lĩnh mức án nhẹ hơn hẳn
những bị cáo kém hấp dẫn. Việc một tháng bạn có
thể kiếm được thu nhập bao nhiêu, cũng bị ảnh
hưởng bởi vẻ đẹp hình thể.
Một nghiên cứu đã phát hiện rằng những người có
ngoại hình kém hấp dẫn thường thu nhập ít hơn từ
5 - 10% so với người có vẻ ngoài bình thường, và
những người này lại kiếm được ít hơn từ 3 - 8%
so với những người được coi là có diện mạo đẹp.
Sự phân biệt đối xử dựa trên ngoại hình này được
gọi là hiện tượng “lookism”.
Thuật ngữ “người đẹp” xuất hiện từ những năm
1960, thoạt đầu để chỉ những nghệ sĩ, tài tử
điện ảnh và người nổi tiếng. Ban nhạc “The
Beatles” đã nhắc tới “người đẹp” với nghĩa này
trong bài hát "Baby You're a Rich Man" phát hành
năm 1967 trong album “Magical Mystery Tour”.
Và cho tới nay, từ “người đẹp” đã được sử dụng
rộng rãi với các đối tượng khác nhau. Những
“người đẹp” này, nhờ vào ưu thế về ngoại hình và
(hoặc) về tài chính, càng gặt hái nhiều thành
công - quyền lực và sắc đẹp.
Trần Long (tổng hợp)
|
|