|
Trên phố chợ đông đúc ồn ào của
một buổi sáng chủ nhật, tôi gặp Hân.
Nhận ra tôi, Hân mừng rỡ. Tôi mời
cô vào một tiệm ăn gần đấy để thăm hỏi. Trước
những câu hỏi dồn dập của tôi, Hân chậm rãi trả
lời, cho biết:
"Hân vượt biên một mình, ba má
còn ở lại bên ấy"
Nước mắt cô ràn rụa chảy ra, cô
nói trong nước mắt:
"Cái giá phải trả quá đắt"
Tôi không biết nói gì để an ủi,
tận cùng của đau đớn, chỉ nên im lặng chia xẻ
thôi. Tôi đưa cô thêm tấm khăn giấy thấm nước
mắt.
Sau cùng thì tôi cũng nói được
đôi ba câu cho cô an lòng. Đến đây được là mừng
rồi. Hãy bỏ qua những đau buồn. Hân còn
trẻ,tương lai còn dài. Xứ này là xứ của tự do,
cố gắng sẽ thành công. Sau những câu thông
thường như thế, tôi bỗng chợt nhớ đến một người.
Không biết có nên hỏi thăm không. Hỏi như thế
nào.
"Xóm mình, có còn ai đi được qua
đây không?"
Hân lắc đầu: "Hân cũng có dò hỏi
nhưng chưa biết ai, hiện giờ Hân ở với gia đình
người bác. Đang đi học thêm để có việc làm rồi
bảo lãnh cho ba má sang, đó là ý nguyện cuối
cùng của Hân"
"Đám bạn cũ của mình trong ca
đoàn thế nào?"
"Sau khi anh đi thì tình hình
căng lắm, họ đâu còn để cho sinh họat nữa"
Tôi ngập ngừng hỏi thăm người đàn
ông ấy:
"Thế Cha P. ra sao"
Hân cho biết:
"Ông ấy đang chuyên dịch các tác
phẩm Anh Pháp ra tiếng Việt để kiếm sống, cũng
tạm ổn."
Hân lảng qua chuyện khác, hỏi
thăm tôi đã lập gia đình chưa. Tôi lắc đầu nói
bù đầu đi học đi làm thêm trong bao nhiêu năm,
bây gìờ thong thả thì thấy đời mình đã rêu phong
rồi.
"Anh thấy Hân có già đi nhiều
không? Hỏi thật đó"
Tôi nhìn Hân cười, làm sao có thể
trả lời câu hỏi như thế trước một cô gái có
tiếng là xinh đẹp, cô gái ngày xưa mình đã từng
say mê trong thầm lặng. So sánh hình ảnh Thúy
Hân ngày ấy với bây giờ thì thật là khốn khổ cho
tôi. Tôi không dại gì làm cho cô buồn lòng trong
lúc này. Người đàn bà nào cũng muốn mình trẻ mãi
không già. Có lẽ họ cho rằng chỉ nhan sắc mới có
thể làm cho người khác quý trọng mình. Riêng tôi,
thấy rằng họ còn đáng quý ở nhiều điểm khác.
Tôi mỉm cuời: "Thời gian biến
động vừa qua đã giúp Hân hiểu đời sống quý chừng
nào, đó là điều quan trọng nhất"
Hân nói: " Lúc này anh nói chuyện
hay lắm."
"Vì, tôi không còn sợ Hân nữa"
"Tại sao lại sợ?"
Tôi không trả lời, vì không sợ có
nghĩa là không còn yêu.
Trước kia, cô đã không hiểu, thì
bây giờ có hiểu cũng vô ích thôi. Đừng tưởng
rằng tình yêu có giá trị muôn thu, mãi mãi ngự
trị trong mỗi người yêu. Người ta thần thánh hóa
nó chỉ một lúc nào đó thôi. Ở một giai đoạn cao
độ, người ta có thể nói đến cái chết nếu không
được yêu nhau. Sau khi nếm mùi thập tử nhất sinh
của chuyến vượt biên, tôi bình thường hóa mọi
chuyện trong đời sống. Vượt qua được cái chết,
là có thể vượt qua tất cả. Đời sống xuất hiện
với tôi cùng với cơ duyên của nó. Không bất ngờ,
không biến cố.
Tôi xin địa chỉ và số điện thoại
của cô, hẹn sẽ gặp lại.
Trở về nhà, tôi nhớ lại Hân.
Không phải Hân bây giờ, mà Thúy Hân ngày ấy. Đó
là quãng thời gian sau bảy mươi lăm. Chúng tôi
cùng ở chung một xóm. Nhưng trước kia tôi không
thể nào làm quen được cô. Hân con nhà giàu, lại
xinh đẹp. Nhà cô nuôi con chó bẹc-giê luôn gầm
gừ với những tên con trai nào lảng vảng trước
cổng. Dù học thuộc lòng những câu nói văn chương
bóng bẩy trước khi gặp người đẹp, tiếng sủa hung
dữ của nó cũng làm bay mất hồn vía và bay luôn
cả lời hay ý đẹp. Tôi là đứa nhát gái, lại nhát
luôn cả chó. Làm sao quen được nàng
Thế mà sau bảy lăm, mọi chuyện
đều thay đổi một cách ngược đời, ai cũng biết.
Nhờ thế tôi mới được quen Hân. Hân mời tôi vào
hát chung với ca đoàn trong họ Đạo của nhà thờ.
Tôi trả lời tôi không có đạo, cũng chẳng tin
tưởng gì ở Chúa, Đức Mẹ thì làm sao tôi hát nổi
những bản nhạc thánh. Nhưng Hân nói: "Anh cứ vào
sinh hoạt và hát chung với nhau, anh sẽ tìm thấy
niềm tin ".Tôi bằng lòng, đây là một dịp may cho
tôi gần gũi với nàng. Tôi là thằng con trai mới
lớn, việc gì phải ràng buộc lôi thôi với Chúa
với Phật.
Từ ngày ấy, tôi chăm chỉ đến nhà
thờ vào sáng thứ bảy, chủ nhật để đồng ca dưới
sụ điều khiển của Cha P. Để có thể hát vững nhịp,
tôi phải học thuộc lời các bản nhạc. Mẹ tôi lo
lắng hỏi: "Này, mày định đi đạo đó hả". Tôi trả
lời cho yên lòng mẹ:
"Thay vì đi ngồi quán cà phê cho
bọn công an để ý, con đi nhà thờ cho được phúc
mà".
Sau đó theo lời đề nghị của Cha
P. những ngày thường, nếu người nào rảnh xin đến
hát giúp lễ buổi sáng vào lúc 5 giờ sáng. Hân là
giọng ca nồng cốt của ban nhạc, không thể nào từ
chối. Vì thế tôi cũng không thể nào từ chối.
Sáng nào tôi cũng dậy từ lúc chuông đổ hồi một,
tỉnh táo đến nhà thờ trong lúc mọi người đang
say ngủ. Các cụ bà có đạo trong xóm mến phục tôi,
họ nghĩ rằng Chúa đã soi sáng cho tôi. Nhưng tôi
hiểu hơn họ, nếu không yêu Hân, tôi không phải
nhọc công dậy sớm đến thế. Và cũng không có gì
hạnh phúc hơn khi tin rằng Hân đang có cảm tình
với tôi. Sẽ yêu tôi. Mặc dù tôi chưa hề ngỏ ý,
và Hân cũng chưa biểu lộ tình cảm của mình. Vì
nàng là một thiếu nữ kín đáo, và cốt cách. Hy
vọng nào cũng có khả năng linh dược, nhất là hy
vọng được yêu.
Đi nhà thờ sáng chủ nhật, là đi
tham dự một lễ hội có tính cách thiêng liêng,
lại vừa gặp gỡ nhau. Đây là dịp cho mọi người
tìm lại được không khí an lành của những ngày cũ.
Nhà thờ không đủ sức chứa, vì không dự liệu sự
nẩy mầm của lòng tin tôn giáo đến mức độ mãnh
liệt đến thế. Phải đi sớm trước nửa giờ may ra
mới có chỗ đứng.
Trong vòm không gian cao cả của
giáo đường, ánh sáng chan hòa với mùi trầm hương.
Mọi người đang chiêm ngắm, khẩn cầu. Tiếng hát
của Thúy Hân từ từ cất cao... lạy thánh nữ Đồng
Trinh, xin cho lòng con hoan lạc đón mừng ơn
mừng cứu độ từ trời cao... Tiếng hát thần thánh
như giòng suối mát tẩy sạch nỗi đau tuyệt vọng.
Hình như mọi người trong lúc ấy nín thở để nghe
nàng hát. Đức Mẹ đang hiện ra trong lòng mọi
nguời, Thiên Chúa đang ban ơn sủng. Đó là mãnh
lực của thánh ca. Mãnh lực của Thúy Hân.
Sau buổi lễ, nhiều cô cậu chờ đón
để được gặp mặt người hát làm quen, nhưng Hân
luôn luôn tránh đám đông. Sau đấy ca đoàn sinh
họat chung với nhau, chia xẻ những vui buồn
trong nhóm cùng với cha P. Đấy là một linh mục
trầm tĩnh, có năng khiếu về âm nhạc. Hân cho tôi
biết ít nhiều về Cha, như đã từng du học tại
Pháp, Bỉ, và có cả các bằng cấp về triết học
Đông phương. Hân nói Cha muốn thay đổi các nghi
thức hành lễ cho phù hợp với phong tục Việt Nam,
vì thánh lễ có vẻ Tây Phương quá.Thấy tôi có vẻ
quý phục Cha, Hân càng được dịp nói nhiều hơn.
Hân biết nhiều chuyện của nhà thờ, trong khi tôi
chẳng để ý gì. Không phải vì Hân mà tôi qúy
trọng Cha P, cá nhân của Cha đã là điều làm cho
người khác tôn trọng. Trước khi được làm linh
mục, có lẽ tư cách cá nhân phải được huấn luyện
kỹ càng, từng chi tiết nhỏ. Huấn luyện từng câu
nói, ánh mắt, một cái bắt tay hay một nụ cười.
Đó là một mẫu người phải có khả năng thu hút
niềm tin nơi kẻ khác. Bọn trẻ tụi tôi kính trọng
là phải.
Có lần một người trong ca đoàn
nói đùa: "Cha P đẹp trai, học giỏi đi tu thật
uổng quá."
Hân tức thì đáp ngay:
"Phục vụ cho Chúa mà uổng sao?"
Tôi thì nghĩ rằng, nhờ đi tu Cha
P mới được trở thành người đàn ông như thế . Nếu
không, chắc gì được may mắn đời trọng vọng. Và
có người đẹp như Thúy Hân ca tụng đến thế. Nhiều
lần tôi mời Hân đi ăn sáng riêng với tôi, nhưng
nàng đều từ chối viện cớ này cớ nọ. Tôi cảm thấy
sợ và lo lắng.
Sống dưới chế độ cộng sản, ai
cũng biết sợ. Người ta sợ cả tiếng chó sủa đêm,
như báo hiệu một sự bắt bớ tù đày. Mẹ tôi còn sợ
đến cả cái thùng rác. Vì nó có thể nói cho người
hàng xóm biết rằng, trong đó có cả mấy cái xương
gà. Thỉnh thỏang Mẹ tôi dúi thêm ít tiền còm cho
chú đổ rác.Trong vô số các nỗi sợ của mọi người,
tôi cũng có nỗi sợ của tôi. Đó là Hân và Cha P .
Mỗi lần gặp một trong hai người, tôi không biết
phải nói gì cho họ vui lòng, cho đúng với ý muốn
của tôi. Một người tôi yêu và một người làm tôi
lo lắng.
Cha P là một con người có kiến
thức rộng, ăn nói diễn tả mạch lạc chính xác,
dáng dấp trang nhã, một người đàn ông lịch duyệt
đúng nghĩa. Còn tôi chỉ là một thằng con trai
chưa xong bằng cấp đại học. Nói năng thì ấp a ấp
úng, chẳng ra làm sao. Khi cần phải nói những
lời tình cảm, thì tôi không mở miệng được. Nhất
là lúc đứng trước con gái. Có lẽ biết thế, thỉnh
thoảng Hân khen tôi có giọng hát trầm ấm. Nhờ
vậy tôi bớt mặc cảm, có thêm can đảm tiếp tục
hát cho ca đoàn. Có lần khi đứng cạnh để hát
chung bè, Hân chê tôi hôi mùi khói thuốc. Tôi
bực mình bỏ hát đi ra ngoài. Hân tìm tôi xin lỗi:
"Anh không nên hút thuốc nhiều,
có hại"
Tôi định nói: "Nếu em yêu anh,
thì anh bỏ hết." Nhưng không dám.
Tôi để ý khi Hân đứng cạnh Cha P
tập hát, tôi cắc cớ tự hỏi Hân cảm thấy mùi vị
gì. Mùi đàn ông, hay mùi thần thánh. Thánh thần
chắc hẳn chẳng có mùi vị nào vì họ không còn có
phái tính .Chỉ có vạn vật chúng sinh đau khổ mới
phát sinh ra mùi. Mùi của chất người. Khói thuốc
trong tôi, chính là nỗi đau đớn tuyệt vọng của
một tình yêu không được đáp trả. Nỗi đau đang âm
ỉ cháy. Tôi hút thuốc nhiều, là đốt cháy cho
tiêu đi.
Từ đó trong các bản thánh ca tôi
gửi gấm chút lòng thành đơn chiếc.
Gần lễ Phục Sinh, ai nấy đều bận
rộn. Ca đoàn phải chuẩn bị cho những bản trường
ca đặc biệt cho lễ nửa đêm. Tôi bỏ lớp học ở
trường vì không muốn nghe mãi giọng điệu lên lớp
của một "phó tiến sĩ" ngoài Bắc vô. Về đến nhà,
mẹ tôi cho biết có chuyến đi ở Rạch Giá coi bộ
chắc chắn. Tôi ngán ngẩm, lần nào cũng hụt, chạy
trối chết. Tôi gật đầu vâng dạ cho mẹ vui lòng.
Mẹ nói: lui tới nhà thờ nhiều coi chừng, tụi nó
không ưa gì Chúa Phật đâu, đừng dại, chỉ khổ
thân mẹ thôi.
Tôi ra khỏi nhà, nghĩ đến Hân,
đến rủ nàng qua cha P tập hát. Nhưng Hân không
có nhà. Tôi đi thẳng đến nhà thờ. Không có Hân ở
đấy.
Tôi chậm rãi băng qua lối đi ngôi
vườn nhỏ, nơi ấy có phòng sinh hoạt của ca đoàn.
Ngôi vườn có bóng cây tỏa mát, vài bụi hoa tường
vi dại leo quanh bức tượng của Thánh Nữ. Bức
tượng có vẻ buồn bã hơn mọi ngày, không ai còn
chăm sóc ngôi vườn nữa. Mọi thứ đều hoang phế .
Cỏ dại cũng sợ không dám mọc. Trong sự hoang
vắng chạng vạng buổi chiều, tôi thấm thía một
nỗi buồn, u uất và mịt mù. Tôi chỉ mong có một
người để tâm sự.
Tôi nghe tiếng đàn dương cầm trỗi
lên rất nhẹ nhàng, bản "Chúa đã sống lại ",
tiếng đàn dịu xuống để nhường cho giọng hát cất
lên. Hân đang hát .Tôi yêu tiếng hát ấy biết là
bao!
Tôi dừng lại, Hân đang tập hát
trong căn phòng có khung cửa sổ mở toang. Tiếng
nhạc quấn theo tiếng hát reo vui hớn hở. Qua tấm
màn mỏng màu trắng, tôi thấy Hân đứng cạnh chiếc
duơng cầm. Cha P đang chăm chú dạo các phím nhạc.
Hân mặc chiếc áo dài trắng, dáng người thanh
thoát, hiện ra trước mắt tôi như hình ảnh một
thiên thần. Thiên thần đang ngợi ca vũ trụ vừa
tái sinh. Vũ trụ ấy chỉ có hai người, người đàn
và người hát.
Tôi đứng như thế mà không biết đã
bao lâu, chỉ sợ một chút động đậy của mình sẽ
làm tan biến khung ảnh kỳ diệu ấy.Và đồng thời,
tôi hiểu, tại sao Thúy Hân hát hay đến thế. Nàng
chỉ hát cho một người, với một người.
Cùng lúc ấy tôi thấy mình thật là
tầm thường tồi tệ, không một chút xứng đáng nào
với hy vọng có Hân.
Tôi từ chối góp giọng hát cho ca
đoàn vào đêm lễ Phục Sinh. Tôi nói cho Hân biết
là đang chờ người ta đưa đi. Nhưng thật ra, đêm
ấy tôi đứng chen lẫn phía dưới đám đông giáo dân,
để nghe nàng hát. Đêm phục sinh mà lòng tôi lại
chết đi.Và khi bắt gặp chiếc thánh giá trên cao,
hình tượng ông Giêsu đang nhìn tôi âu yếm. Tôi
tin chắc rằng trong đời ông ấy, cũng đã đôi lần
cảm thấy tuyệt vọng và lẻ loi.
Sau thánh lễ , tôi đi bộ về nhà
một mình trong đêm, lòng thanh thản, thấy thật
là dễ chịu khi biết chấp nhận.
Và chuyến đi về Rạch Giá thành
công . Tôi xa rời kỷ niệm, bắt đầu tái sinh sự
sống ở miền đất không có ám ảnh.
Lâu lắm, tôi mới nhận lại tin tức
của Hân, cô cho biết đã xin được việc làm tốt.
Cô nói thêm: ông P sắp qua đây, gia đình bảo
lãnh, thế nào cũng đến thăm anh.
Tuy hứa như thế mà chẳng thấy cô
dẫn "ông P" đến thăm tôi. Và sau đó thì cô gọi
đến, bất ngờ báo tin vui:
"Hân xin mời anh đến dự đám cưới
nhé, chỉ tổ chức đơn sơ thôi, em sẽ gửi giấy mời
anh"
Tôi ngạc nhiên:
"Sao giỏi thế, chắc chắn sẽ đến
chia vui, nhưng ông nào ở đây? "
Hân cười vang trong điện thọai:
"Không ai xa lạ gì với anh, ông P
mà."
Tôi giật mình, nhưng bình tĩnh
lại ngay:
"Thế thì nhất rồi, ông ấy là
người hiếm có trên cuộc đời trần tục này."
Hân giải thích:
"Anh ấy đã xin được phép của tòa
thánh lúc ở Việt Nam, không còn là linh mục nữa,
chắc anh ngạc nhiên lắm phải không?"
Tôi trả lời chậm rãi để tỏ cho
Hân biết tôi không ngạc nhiên:
"Hân và ông ấy đã khéo léo sắp
đặt đoạn cuối một câu chuyện tình tuyệt đẹp."
Hân cho biết:
"Chúa muốn con người hạnh phúc,
nhưng loài người hay đặt ra những lề luật khắc
khe."
Lời của ông P trong giọng nói của
Hân. Một người ly dị để lấy một người khác.
Chuyện bình thường, dù là ly dị với thần linh.
"Hân nhờ anh đến làm người chứng
trên giấy tờ nhé"
Tôi đồng ý. Tôi là người làm
chứng sự ngay lành của tình yêu hai người. Mọi
chuyện không có gì đáng ngạc nhiên, bất ngờ. Đó
không phải là một biến cố, phải xảy ra như thế
thôi. Tôi mong ước Hân sẽ còn tìm thấy hạnh phúc
trong thánh vịnh lời ca, dù rằng cuộc sống có
khi chỉ là bài ca đứt ruột.
Một hôm, lái xe ngang qua một
ngôi nhà thờ nhỏ, trông có vẻ tiêu điều vì hoang
vắng, ngôi nhà thờ gợi lại ký ức cũ. Tôi dừng xe,
đi bộ vào trong. Không gian lạnh, không một bóng
người, tôi ngồi giữa những hàng ghế trống không.
Những thần tượng trên kia trông thật lẻ loi, họ
đứng đấy chờ những con người đau khổ tới van xin
một chút may mắn. Nhưng chính họ, lại là những
người đau khổ nhất lúc ở cõi trần này.
Từ lúc qua đến đây, tôi gạt ra
ngoài hết những tình cảm vớ vẩn có thể làm xao
lãng công việc học hành, sống như một người vô
tâm vô cảm, để tiến thân vào xã hội mới. Nay
bỗng dưng, khi nhìn thấy ngôi nhà thờ nhỏ bé này,
một chút vương vấn nào đó. Nơi đây có lẽ ít giáo
dân lui tới, đèn nến cũng lù mù, không đủ thắp
sáng một lời cầu xin. Những hình tượng trên kia
đang nhìn xuống, chờ đợi gì, tôi không biết,
nhưng trông người nào cũng buồn bã lạ thường.
Trong buổi chiều chạng vạng nơi
đây, tôi nghe tiếng hát của Hân tự ngày nào...
xin cho con được mến yêu và phụng sự Chúa...
Trong nỗi tiêu điều của thần linh,
có nỗi tiêu điều của tôi.
Trần Thị Diệu Tâm
|