| |
Phi lộ:
Việt
Hải xin cám ơn nhà văn Quang Hành HVĐ đã đọc bài
cho thơ cảm đề:
"Mênh mang
bát ngát hải hà
Bụi
trong nước đục lỡ làng tình duyên"
Một
cuộc đời trôi vào dĩ vãng, một chuyện tình lỡ
chìm sâu vào Thung lủng Tình yêu. Có những đáng
yêu và đáng nhớ trong tâm hồn tôi.
Gửi
các bạn San Fernando Valley: Dương Viết Điền,
Peter Morita, Nguyễn Ngọc Minh, Nguyễn Tấn Pháp,
Lâm Xuân Quang, Lâm Quốc Dân, Nguyễn Đình Phú,
Nguyễn Khánh Hồng, Phong Vũ, Mười Trương, Lê Thế
Bằng, Phạm Khanh, Nguyễn Đại Nghĩa, và...
VH.
Thung
Lủng Tình Yêu
“Gọi gió
lên thung lũng hồng, mây trôi bềnh bồng.
Hạt
nắng lunh linh tím dần, mong mênh thu vàng.
Còn
đó em yêu dỗi hờn, long lanh lệ buồn.
Còn
đó sương vây kín đầy, cho tình ngất ngây.
Tình
xa trên thung lũng hồng,
Tình
nhớ trên thung lũng hồng.
Ngàn
sau rồi sẽ khóc thầm,
Tình
yêu vụt theo lời gió.
Tình
xa trên thung lũng hồng,
Tình
nhớ trên thung lũng hồng.
Ngàn
sau tình cũng lỡ rồi,
Tình
yêu vỗ cánh mà đi...”
Tôi
chăm chú lắng nghe nhạc phẩm yêu đương nói về
cái thung lủng đáng yêu trên Đà Lạt mà nhạc sĩ
Phạm Mạnh Cương đặt là thung lủng hồng, giọng ca
Khánh Ly vẫn du dương tiếp diễn trong khi hai
anh em chúng tôi vẫn bàn luận về một cái tên để
Việt ngữ hóa tên Mỹ của cái thung lủng bao la,
rất đáng yêu, mà trong đó có nhiều vùng đồi núi
trùng điệp, những con dốc thiên nhiên khúc khuỷu,
cong quẹo như Đà Lại ở quê nhà, rất dễ thương,
tôi muốn đặt nó như tựa bài ca này, nhưng anh
thi sĩ Hạ Ái Khanh lại đề nghị tên là “Thung
Lủng Tình Yêu” vì nhiều bạn bè anh trước đây,
đến nơi này họ gặp ngỡ nhau và yêu nhau tại đây.
Tôi không mảy may từ chối, vì tôi đã bỏ lại con
tim lại nơi đây một tình yêu tuyệt vời trong đời.
Hơn nữa
màu hồng vốn dĩ tượng trưng cho tình yêu, chúng
tôi đồng ý cái thung lủng tên Mỹ này qua tên ưu
ái là Thung Lủng Tình Yêu (TLTY). Cái không gian
TLTY thật dễ thương và êm đềm của vùng đồi núi
từ Universal City, qua Sherman Oaks, Encino,
Tarzana, Woodland Hills, Calababasas, Agoura
Hills, Hidden Hills, bọc về Chatswoth,
Northridge, Mission Hills, North Hills, Burbank,
Glendale, rồi vòng về North Hollywood để giáp
với Universal City nơi có phim trường nổi tiếng
Universal Studios. Thật vậy, TLTY hay SFV tạo ra
không biết bao cuộc tình đến rồi dừng chân hay
trong một bối cảnh khác đến rồi chia tay. Tôi
sắp viết ra đây môt chuyện tình của tôi tại nơi
được bao quanh bởi nhiều đồi núi thơ mộng, bởi
nhiều kỷ niệm khó quên, như tựa đề màu hồng của
sự gắn bó không nguôi của chuyện này.
“Thiên lý
ơi, con che tờ báo cho đỡ chói nắng và đứng đây
để mẹ về lều lấy nón cho con nhé”, tôi khẽ chào
người phụ nữ xinh xắn xếp hàng vào mess hall
đứng kế sau tôi đang dặn dò cô con gái nhỏ của
nàng, tôi đoán có lẽ cháu không hơn 6 tuổi. Tôi
bảo nàng cứ đi đi tôi giữ chổ và trông chừng
giùm cháu cho nàng. Người phụ nữ có đôi mắt đen
huyền tròn xoe qua ánh mắt cho thấy sự biết ơn
của nàng đối với lời đề nghị của tôi.
Tôi
bắt chuyên làm quen với Thiên Lý: “Cháu ở trại
mấy ?”
Cháu
nhỏ nhẹ đáp”: “Dạ, trại 4”
Tôi
hỏi tiếp: “Chú cũng ở trại 4 ngay gần căn đầu ra
mess hall này. Thiên Lý sang chỉ có mẹ thôi à?”
Cháu
lại đáp: “Ba bị kẹt lại, chỉ Mẹ và con đi thôi”
Khi
hàng lảnh cơm trước mess hall bắt đầu dài hơn,
tôi bảo Thiên Lý ra đứng trước tôi. Mẹ Thiên Lý
trở lai và nàng cảm ơn tôi. Hai mẹ con Thiên Lý
lấy xong thức ăn ra bàn ngôi và khi tôi cầm điã
cơm đi ngang mẹ Thiên Lý mời tôi ngồi chung ăn
cho vui. Tôi đồng ý và đặt phần ăn trưa xuống
bàn. vừa ăn chúng tôi trao đổi những mẫu chuyện
sơ giao về đời sống tại trại tị nạn Orote Point
bên Guam và trại Pendleton này. Tôi hỏi tên nàng.
Nàng
cười e ấp trả lời: “Mai hay Lệ Mai”.
Tôi
đáp lời: “Tên cô đẹp lắm, Mai là loài hoa quí mà
người ta chưng vào dịp tết, cho ngày vui đầu năm.
Còn lệ là đẹp, cũng có thể là e ấp, là thẹn
thùng, là mắc cỡ. Lệ cũng là nước mắt, đúng
không ?”
Mai trả
lời: “Thú thật Mai chưa bao giờ nghỉ đến ý nghiã
tên mình, có thể vì lớn lên với nó, mình thấy
quá quen thuộc và ít khi thắc mắc hay tìm hiểu
nó nữa cho đến khi anh hỏi và được anh phân tích
luôn ý nghĩa. À, anh đi một mình sao ?”
“Vâng, tôi
đi chỉ một mình và vì một mình nên dễ đi hơn !”,
tôi trả lời với câu nói bao hàm nhiều ý nghiã
mông lung pha chút dí dỏm.
“Nếu anh
độc thân thì ông bà cụ, anh chị em có ai đi
không ?”, Mai thắc mắc.
“Ông bà cụ
tôi lớn tuổi rồi và ở miệt Cần Thơ, tôi không
nghỉ ông bà đã ra đi, nhưng cậu em trai trong
đơn vị hải quân đóng ở Vũng Tàu có thể ra đi.
Mấy hôm nay tôi thường ra phòng thông tin dò la
tin tức hay nhắn tin cậu ấy, nhưng không có tin
tức gì cả”, tôi trả lời nàng.
Nàng
hỏi về tôi và ước mơ về tương lai sau khi xuất
trại. Tôi cho nàng biết khi xưa tôi có dịp tu
nghiệp tại hai căn cứ không quân Lackland bên
Texas và McClelland bên Cali. Tôi kể nàng nghe
về Texas và Cali những tôi đã qua và đời sống
tại Mỹ theo sự hiểu biết trong ký ức cũ tồn đọng
của tôi. Nàng như bao người khác chưa từng đặt
chân đến Mỹ nên không thể hình dung hay cảm nhận
được đời sống ngoài trại tị nạn như thế nào và
nàng rất băn khoăn, lo lắng về tương lai.
Tôi
hỏi nàng tại sao ra đi có 2 mẹ con, Mai thoáng
buồn trên mặt trả lời: “Anh ấy làm tại bộ Tổng
Tham Mưu vì xếp kêu ở lại cố thủ. Hơn nữa mẹ ảnh
không chịu đi, nên ảnh đưa mẹ con Mai đi trước”.
Khi
số người vô nhà ăn càng đông, tôi đề nghị ra về
và nhường chổ lại cho các thực khách khác vào
sau đang đứng chờ bàn ghế ngồi. Tôi gom tât cả
rác đem đi vứt và hẹn Mai buổi cơm chiều. Trên
bước đường lưu lạc được gọi là di tản hay rồi tị
nạn mà thực tế nó lại như chuyến đi nghỉ hè bất
đắc dĩ vì mùa hè trong tháng 6 và tháng 7 từ hải
đảo Guam đến vùng Oceanside, nam California có
trại tị nạn Pendleton, có khí hậu nóng trong cái
dịu của gió biển. Guam có bãi biển xanh chạy dài
quanh hải đảo, khí hậu nhiệt đới tương tự như
Nha Trang, như Phan Thiết của quê nhà...
Oceanside tuôn gió mát vào vùng trại tị nạn
Pendleton, nên kỷ niệm của tôi và Mai đã chia sẻ
với nhau những tháng ngày bên nhau trong các
sinh hoạt thường nhật của trại tị nan như làm
thiện nguyện cho cơ quan Red Cross, như xem
chung bên nhau những buổi ca hát, chiếu phim
trong trại, những buổi cơm chùa trong các mess
hall,... và dĩ nhiên gồm luôn những giây phút
tâm tình, thủ thỉ có nhau.
Một
hôm Mai thông báo cho tôi biết là nàng vừa được
một gia đình Mỹ bảo lảnh ra tại vùng biển La
Jolla, vùng ngoại ô thành phố San Diego, nàng
vui vì muốn xuất trại định cư sớm. Tin nàng cho
làm tôi chẳng vui, nhưng tôi cố che giấu bằng
nỗi vui giả tạo khi chúc mừng nàng. Với tôi cuộc
sống độc thân, chẳng có thân nhân, chẳng có gia
đình thì ở đâu cũng vậy. Vã lại ở lâu trong trại
này lắm lúc lại là nguồn vui, thoải mái, nên tôi
chẳng vội vàng xin xuất trại. Mỗi ngày xếp hàng
ăn cơm chùa, còn nếu đi làm thiện nguyện cũng
giết được thì giờ nhàn hạ, rảnh rỗi.
Thế
là nàng ra trại và thỉnh thoảng gọi vào trại
thăm tôi. Mai cho biết gia đình bảo lảnh rất tốt
giúp nàng tìm việc làm tại một ngân hàng địa
phương như một bank teller, tôi lại chúc mừng
cho nàng lòng tôi lại cô đơn thêm. Mai kể tôi
nghe đời sống bên ngoài và khuyên tôi sớm xuất
trại. Một ngày kia, cậu em của tôi từ trại tị
nan Fort Chaffee, Arkansas được một nhà thờ
thuộc giáo hội Mormon bảo lảnh ra thành phố
Provo, Utah.. Từ đó cậu em tôi là Tiến tìm ra
tông tích tôi và nhờ nhà thờ này kiếm người bảo
trợ cho tôi. Em trai tôi khuyên tôi nên xuất
trại vì sớm muộn gì các trại sẽ đóng cửa hết,
hãy ra ngoài tìm việc làm, nhìn xung quanh trại
mỗi ngày người ta lủ lượt xuất trại, người ta
hoan hỉ vui mừng kéo nhau ra đi, số trại viên
vơi dần, tôi siêu lòng Mai và em tôi sẽ từ bỏ
những ngày ăn cơm chùa tại mess hall nơi đây.
Tôi
đặt chân lên vùng đồi núi Woodland Hills lúc 6
giờ chiều mùa đông khi mặt trời đã lặn sau rặng
đồi hùng vỹ từ hướng tây. Tôi được một gia đình
Mỹ trẻ chiếu cố, nhận bảo trợ và họ lo cho tôi
khá chu đáo. Ông bà bảo trợ là cặp vợ chồng trẻ,
không con cái, tốt bụng, họ có nếp sống sung túc,
nhưng rất đạo đức và có tôn giáo. Người chồng,
John McIntyre làm kỹ sư âm thanh ánh sáng cho
một hãng phim lớn tại Hollywood, người vợ
Melanie McIntyre làm giám đốc nhân viên cho một
công ty điện tử, bà hứa tìm việc cho tôi và từ
từ tôi sẽ ổn định cuộc sống của tôi tai Mỹ.
Trong ngôi nhà đồ xộ và tráng lệ này giờ đây tôi
lạc lỏng như con mèo ướt, xa lạ với nếp sống mới
và nhớ trại tị nạn nhiều hơn, nhớ kỷ niêm xếp
hàng lảnh cơm chùa bên mẹ con Mai.
Sau
tháng đầu tiên tại thành phố đồi núi này, Mai
gọi điện thoại thông báo sẽ lên thăm tôi. Người
bạn gái Sharon tức con ông bà bảo trợ làm tài xế
chở mẹ con nàng lên thăm tôi. Cả một chiều thứ
sáu sau một tuần làm việc vất vã ở hãng về,
nhưng lòng tôi nôn nao cả buổi, tôi không cảm
thấy đói bụng như mọi lần, mà chỉ cảm nhận cái
khao khát hay đói của tiếng điện thoại reo.
Chuông điện thoại reo, chúng tôi nói chuyện
không lâu trong phone, nhưng bao tiếng cười thi
thầm, tiếng tình tự khúc khích, tiếng thủ thỉ
hẹn hò, bao lời tâm sự ngọt ngào nhất được trao
đổi như đôi tình nhân đã quen nhau từ lâu lắm
rồi, để rồi tôi cảm thấy lòng mình gắn bó với
hình ảnh Mai nhiều hơn lúc nào hết. Có lẽ vì tôi
cô đơn và phải lòng Mai chăng?
Nàng
trong chiếc áo đầm vàng hoa cúc hay màu vàng hoa
mai của cái tên nàng, nàng trông thật thật trẻ
trung, dễ thương, thật là quyến rũ trong ánh mắt
của tôi, đi sau nàng là Thiên Lý và Sharon. Tôi
giới thiệu khách với ông bà McIntyre, chúng tôi
ra một nhà hàng địa phương dùng bửa trưa sau đó
tôi rủ Mai, Thiên Lý và Sharon ra thăm bờ biển
gần nhà nhất là biển Malibu, nắng chiều nhạt dần,
gió biển thật lạnh mà khách của tôi không mang
theo áo đủ ấm, tôi đã thủ sẵn 3 cái áo khoác
jacket của tôi chia cho mỗi người. Tôi khoác cho
Thiên Lý chiếc nhỏ nhất, dù vậy áo vẫn rộng
thùng thình cho thân hình cháu nên cháu trông
như cô hề bé tí hon. Mai cám ơn tôi bằng lời nói
và trong ánh mắt trìu mến khi tôi tỏ vẽ săn sóc
cho con nàng. Sharon và Thiên Lý đi dạo ra hướng
bãi cát gần bờ sóng. Tôi và Mai bách bộ chậm rãi
trên bờ đá và vừa đi vừa thì thầm.
Tôi bổng
vuốt tóc nàng trong cơn gió thổi tóc bay bềnh
bồng, tôi hôn lên bờ tóc ấy, rồi choàng vai dìu
nàng đi tiếp. Tôi hỏi thăm về tin tức bên gia
đình nàng. Mai cho biết không được tin tức về
chồng, nàng không biết số phận ba của Thiên Lý
và lại không có liên lạc được với bên nhà chồng.
Nàng cho biết đã liên lạc được với hai người chị
gái của nàng mà một định cư tại Chicago và người
kia ở Orlando, Florida. Tôi nói tôi rất mong
hoặc tôi dọn về San Diego ở gần với nàng, hoặc
nàng có ý định dọn lên đây với tôi trên này.
Nàng tỏ vẽ hài lòng với cái thành phố nhiều đồi
núi Woodland Hills duyên dáng và yên tĩnh này,
một địa danh trong Thung LủngTình Yêu nơi tôi
đang ở. Những năm tháng sau đó chúng tôi thường
lui tới thăm hỏi nhau vào dịp lễ lạc hay cuối
tuần. Chúng tôi thực sự làm quen với đoạn đường
dài thăm thẳm của Freeway 405 nối liền hai thành
phố Los Angeles và San Diego.
Hè 1978,
Thiên Lý sang Chicago thăm chị Lệ Hằng khi nghỉ
hè 3 tháng, tôi và nàng gần gủi nhau hơn, tôi
xin nghỉ phép một tháng xuống sống chung với
nàng, lúc này nàng đã dời về vùng Mira Mesa,
hướng bắc San Diego. Mỗi chiều chúng tôi thường
ghé thăm gia đình bảo trợ của nàng và ghé hóng
mát tại bờ biển thật thơ mộng La Jolla. Hôm
tháng Tám sinh nhật của nàng, chúng tôi thuê
khách sạn tại bờ biển này sau khi đi xem ciné và
ăn tối về, tôi thấy nguồn hạnh phúc trong tình
yêu của chúng tôi càng thiết tha và càng gắn bó
hơn. Cho đến lúc này tôi và nàng thực sự yêu
nhau như hình với bóng, một tình yêu nhiều đam
mê của nụ hôn nồng cháy nhất, nhiều kỷ niệm nhớ
nhung ràng buộc, nhiều chia sẻ cần thiết của
cuộc sống thường nhật và chúng tôi sẽ khó lòng
gỡ ra được hay rời bỏ nhau vì sự quyến luyến của
những tâm hồn thật sự đã trao nhau và sự đồng bộ
của nhịp đập con tim.
Hai
năm sau đó tôi đã mua một căn nhà tại vùng phía
tây thành phố này là vùng West Hills khá thanh
lịch, tôi gợi ý rủ nàng dọn lên ở chung, nàng
nhờ tôi hỏi trường gần nhà nhất cho cháu Thiên
Lý theo học, lúc này cháu đổi tên Mỹ là Tiffany,
theo học bậc junior high. Tôi đã chuẩn bị các
giai đoạn cần thiết cho cháu Tiffany học trên
này và nàng yên tâm dọn về TLTY với tôi. Nàng
tìm được việc làm trong hệ thống ngân hàng Great
Western Savings Bank tại Northridge, lúc này
nàng theo học các lớp chuyên nghiệp về tài chánh
và địa ốc. Tôi thấy nàng rất có năng khiếu về
ngành tài chánh và ngân hàng tôi khuyến khích
nàng học thêm. Cũng trong thời gian này tôi đã
xong cái văn bằng kỷ sư computer tại trường đại
học 4 năm CSU-Northridge. Chúng tôi có những gì
đã từng ước mơ như từ mái ấm hạnh phúc gia đình,
rồi cả hai có việc làm ổn định đến đời sống sung
túc.
Mai rất
thích nấu nướng và trồng cây kiểng xung quanh
nhà. Khí hậu tại vùng TLTY này rất nóng vào mùa
hè, do đó những cây ăn trái vùng nhiệt đới rất
dễ sinh sống như xoài, ổi xá lị, mận hồng đào,
mãng cầu, thanh long, nhãn, trái vải, hoa lài,
dạ lý hương, hoa sứ,... nhà chúng tôi đều có
trồng. Về mùa đông khí hậu tại đây chỉ lạnh vừa
đủ như Đà Lạt nên lý tưởng cho các loài hoa hợp
khí trời lạnh ẩm như hoa hồng, hoa đào, hoa
phong lan hay hoa ngọc lan Việt Nam. Cây ăn trái
và cây kiểng là niềm vui thú điền viên mà tôi
theo cái sở thích thanh tao này của nàng. Nghe
kể lại ngày xưa gia đình ba má nàng có nhà ở Thủ
Đức, Biên Hòa và Đà Lạt có trồng nhiều cây ăn
trái và ba nàng là tay thiện nghệ chơi kiểng
bonsai và các loại lan rừng hiếm quý.
Hè
đến cháu Tiffany được nghỉ, Mai lấy vé máy bay
cho gia đình sang Florida thăm chị Lệ Hằng của
nàng. Bước xuống phi trường Orlando, anh chị
nàng đưa chúng tôi về nhà. Nhà chị Hằng khá gần
bờ biển rất hữu tình thuộc vùng tình Indialantic
Beach, trong một khu phố nhỏ hiền hòa. Chúng tôi
ghé thăm vài vùng biển khá đẹp như biển South
Daytona Beach, Cocoa Beach, bờ biển có trung tâm
không gian Florida's Canaveral National Space
Center, rồi thăm khu Vườn Địa Đàng nổi tiếng hầu
như các du khách ở xa mới đến thường ghé qua là
Disneyworld. Dĩ nhiên cháu Tiffany rất thích, dù
rằng cháu khá quen thuộc với Disneyland của Cali.
Đi các trò chơi mà người lớn chúng tôi thật sự
hòa đồng sinh hoạt với Tiffany và 3 đứa cháu con
chị Hằng. Khu trò chơi Epcot phô trương văn hóa
đa quốc và những kỳ quan thế giới của nhiều nước,
khu Magic Kingdom có Space Mountains, khu nhà ma
Hauted Mansion, khu Big Thunder Mountain
Railroad khá vui, khu Pirates of the Caribbean
mà bên Cali cũng có, ... một ngày thật vui vẽ
cho các cháu, nhưng sang ngày đi biển Cocoa
Beach là ngày gia đình buồn thảm.
Sau khi
thăm viếng cầu Cocoa Beach pier, chúng tôi ghé
xuống bải tắm, bờ biển dài có cát trắng thu hút
cái thị giác của bờ biển Nha Trang hay Phan
Thiết trong trí nhớ của tôi vẫn còn trong kỷ
niệm. Biển Florida ấm và không lạnh như bên miền
tây Cali, sóng tại đây khá nhiều nên rất lý
tưởng cho những tay đua bộ môn surfing, lướt ván
trên sóng. Hai cháu Tiffany và Jefferey bị sóng
cuốn trôi ra thật xa, khi được tin chị Hằng hô
hoán lên tôi và một thanh niên Mỹ chơi môn lướt
sóng bơi theo giành giật lại hai cháu nạn nhân
của những con sóng dử, tôi nắm được tay Tiffany
choàng qua vai rồi bơi vào theo thế thả nổi và
nhìn về phía bờ có nhiều người hơn ra tiếp cứu,
chàng thanh niên Mỹ đem cháu Jeffrey vào bờ
trước tôi.
Vì uống
khá nhiều nước nhân viên thực hiện các phương
pháp hô hấp nhân tạo, Jeffrey tĩnh dậy trước,
phần Tiffany sắc mặt vẫn còn tái xanh, xe cứu
thương đưa cháu vào nhà thương, tôi phóng lên đi
theo xe cứu thương, nhìn qua cửa kính tôi thấy
xe chị Hằng và Lệ Mai theo sau, tôi đã chứng
kiến nàng khóc nhiều và bối rối lắm khi cháu
được đưa vào bờ, nàng sợ cho phần số đứa con duy
nhất này. Vì trời đã về chiều, bác sĩ quyết định
giữ Tiffany lại qua đêm, cháu được rút nước
trong người ra, mặc dù đã tĩnh lại, nhưng vẫn
còn yếu, cháu bị sốt và được truyền nước biển.
Tối hôm đó
tôi và Mai nán lại tại nhà thương. Mai bảo chị
Hằng về nhà, nàng và tôi ngủ lại nhà thương, Mai
ngủ trên ghế trong phòng Tiffany, tôi ra ngủ
ngồi ngoài phòng lounge, thỉnh thoảng ghé vào
thăm Mai và Tiffany. Sáng hôm sau Tiffany được
cho về. Tiffany ôm tôi khóc và cháu nói tiếng
cám ơn. Tôi đã từ lâu hướng dẫn cháu nhiều lảnh
vực, nên cháu xem tôi như người thầy hoặc người
cha đỡ đầu vì tôi kèm cháu học, tôi nấu nướng
những món ăn mà cháu thích, tôi lo thuốc men cho
hai mẹ con Mai, nên sau này Mai kêu Tiffany gọi
tôi là “Ba”. Tiếng “Ba” mà cháu Tifany gọi thật
trìu mến mà tôi vui lòng nhận lấy. Thế là chúng
tôi cắt ngắn chuyến đi 4 ngày, về Cali sớm hơn
dự định ban đầu.
Cuối
năm gần mùa Noel là ngày Sinh nhật của tôi và
cháu Tiffany, ngày sinh của Tiffany sau ngày
sinh của tôi đúng một tuần, nên hằng năm Mai
thường nhập lại vào một ngày weekend gần nhất để
tổ chức chung. Nàng lấy vé đi xem xiệc của đoàn
Circus Circus đang lưu diễn trên đồi Agoura
Hills, cách nhà chúng tôi nữa tiếng về hướng tây
bắc trên đường đi Santa Barbara. Những con thú
khôn ngoan biết nghe tiếng người từ cọp, sư tử,
khỉ, voi, chó và ngựa. Tiffany rất thích thú đi
cùng với cô bạn Mỹ Crystal mà chúng tôi xin ba
mẹ Crỵstal cho đi dự chung vui với sinh nhật của
chúng tôi. Cả hai Tiffany và Crystal nói chuyện
tíu tít liên hồi. Hai cô bàn về hai chú cọp bạch
hổ, lông trắng ngà và mấy chú hắc mã, ngựa đen
huyền như giống loài ngựa hoang mustang.
Hay mấy
chú chó doberman khôn ngoan và rất tinh ranh
nhảy vòng lửa. Sau đó chúng tôi ghé sang bờ hồ
Westlake. Đây là một hồ nhân tạo nhưng khá rộng
lớn, giáp ranh với biên giới hạt Ventura. Hồ có
nhiều thuyền, ca nô, club du thuyền, một góc của
hồ là khu thương mại có nhiều cửa tiệm và nhà
hàng ăn. Chúng tôi ghé vào ăn chiều tại nhà hàng
Boccacio's bán thức ăn Ý mang chút hương vị
Paris, người bồi bàn đưa chúng tôi vào một bàn
bên trong sát cửa kiếng ngó ra bờ hồ vào lúc
trời chợt tối sớm vào mùa đông, nên bên ngoài
hơi lạnh, chỉ có vài thực khác ngồi dãy bàn
ngoài trời sát cạnh bờ hồ, có lẽ họ hút thuốc
hay thích ngắm phong cảnh về đêm với muôn ngàn
ánh đèn chiếu sáng cả một góc hồ tại đây.
Trong
khung cảnh vui của những ngày cận Giáng Sinh hầu
như cái không khí rộn rã của ngày lễ bao trùm
nơi đây, đèn giáng sinh và cây thông được trang
hoàng đó đây kèm theo tiếng nhạc Noel thánh thót
như các bài Jingle Bell, Rudolph The Red Nosed
Reindeer, Joy To The World, Deck the hall, The
First Noel,... Chính nơi này khi xưa khi nàng
mới lên vùng Thung Lủng Tình Yêu tôi đã có dịp
đưa nàng đến Boccacio's hai lần, nơi của sự kín
đáo, của tình tứ, của lãng mạn, và là không gian
của kỷ niệm âu yếm tim yêu. Bờ Hồ Tây Westlake
này với cái nhà hàng Ý Boccacio's nổi danh này
đã tiếp khá nhiều đôi tình nhân đưa nhau đến đây
hẹn hò, khung cảnh trữ tình khi những người yêu
nhau muốn xa lánh chốn ồn ào mà cả hai chúng tôi
rất ưa chuộng nó từ những giây phút đầu tiên đập
vào mắt chúng tôi. Lòng tôi dâng lên một nguồn
vui hạnh phúc gia đình mà Mai đã đem đến cho tôi.
Trong cùng một ý nghỉ tương tự nàng nói cám ơn
tôi cho nàng cái không khí cần thiết của một gia
đình hạnh phúc nồng nàn, rất đầm ấm nhiều năm
rồi kể từ khi chúng tôi quen nhau.
Cái
hạnh phúc gia đình mà tôi vừa nói đoạn trên bổng
bị một luồng cuồng phong bất thần thổi tan giá
buốt tim tôi. Thiện, ông chồng nàng chưa chết
như cả nhà đều tưởng trong biến cố mất tích mà
anh đã được Việt Cộng cho thả ra từ một trại
giam ngoài bắc. Anh được người Mỹ “bốc” sang Hoa
Kỳ định cư. Chị Lệ Dung của nàng ở Chicago gọi
điên thoại thông báo cho Mai tin này mà qua
người bạn thân của chị ấy được anh Thiện nhắn
lại Mai sớm lo thủ tục bảo lảnh anh sang Mỹ. Mai
nữa vui, cũng như nữa buồn khi được tin bất ngờ.
Có thể Mai
vui vì người chồng còn sống sót và nàng lại buồn
lòng vì cái ý nghĩ mà Mai rất hoang man, rất bối
rối phải xa cách tôi. Cuối cùng, cuộc đời này
đưa nàng đến hai ngã đường của một sự chọn lựa
mà thôi. Đêm đêm khi đi ngủ Mai ôm tôi chặt,
nàng nhìn tôi mà nhạt nhòa bờ mi. Tôi hiểu và
thông cảm cho nỗi khổ tâm của nàng. Tôi khuyên
nàng sớm hoàn tất thủ tục bảo lảnh Thiện. Nàng
lo sợ cho ngày mai không biết sẽ ra sao, tương
lai của những ngày tháng tới có thể bấp bênh.
Nàng cho tôi biết về người chồng chính thức của
nàng, nàng có rất ít hạnh phúc hay cái hạnh phúc
đến quá ngắn ngủi trong tương quan hai người vào
thời chiến. Với tôi, tôi yêu nàng lắm, Mai thừa
hiểu việc này, nhưng tôi mang nặng ý nghĩ đã
chiếm đoạt cái hạnh phúc của người khác.
Khi
tôi mãi trầm ngâm suy tư về định nghiã của sự
hạnh phúc thì tôi có nhớ đọc đâu đó cái triết lý
vị tha nhân bản của Mẹ Teresa, người mà cả đời
người tận tụy hy sinh, phụng sự cho nhân loại và
Mẹ đã bảo là: "Trong cuộc sống này, có nhiều
người kém may mắn hay rất bất hạnh, chúng ta hãy
hy sinh cho họ có được hạnh phúc". Hay một ý
tưởng khác cao đẹp không kém của người y tá
người Anh quốc giàu lòng từ tâm Florence
Nightingale đã nói rằng: “Khi cho tha nhân hạnh
phúc thì chính chúng ta đã có hạnh phúc”. Trong
khi nàng đã quen thuộc cái hạnh phúc tôi đã tạo
cho ra nàng và Mai đã yêu tôi hơn mười năm rồi,
nghĩa là dài hơn cái thời gian Mai sống với
Thiện. Tôi tâm sự với nàng là nên đưa Thiện về
đây thế cho vai trò trưởng gia đình là tôi. Tôi
sẽ dọn lên Santa Clara ở với Tiến, em trai tôi.
Lúc này Tiến có một business điện tử khấm khá
cần người phụ giúp quản lý. Nếu tôi ra đi thì
khi Thiện sang sẽ không cảm thấy bơ vơ vì đoàn
tụ với vợ con, Mai sẽ giữ tiếng thơm của người
phụ nữ Việt và tôi sẽ không mang mặc cảm phản
bội với người chiến hữu trong cùng một quân đội.
Sự chia ly nhiều đoạn trường này không những làm
cho Mai khổ sở đến tận cùng tâm trí, mà chính
cháu Taffany cũng đã thố lộ là cháu cũng băn
khoăn, lo ngại không kém vì chưa hề biết ý định
ba ruột cháu sẽ ra sao, anh có đối xử với cháu
như tôi đã lo lắng cho mái ấm gia đình này không.
Hồi chiều này cháu đề nghị tôi hãy qua nhà bác
Minh, tức người bạn thân của tôi là tôi share
phòng và để gần gủi lui tới thăm nom mẹ con
Tiffany. Tôi trả lời cháu là tôi không muốn ba
cháu sẽ buồn lòng vì sự tiếp tục hiện diện của
tôi, và trấn an cháu là ba cháu là ba ruột thì
chắc chắn sẽ thương và lo cho cháu. Cần thời
gian tìm hiểu lẩn nhau như tôi đã từng trải qua,
tôi chỉ là người thay thế tạm thời khi cháu
không có cha ở gần mà thôi. Cháu ôm tôi và khóc
ràn rụa. Tôi thật sự quá xúc động khi người con
quyến luyến với mình dù không mang dòng máu của
mình.
Ngày
đi rước Thiện tại phi cảng LAX, tôi cố tình lánh
mặt bên nhà Minh, vì tôi đã dọn sang nhà Minh để
theo kế hoạch Mai vẽ ra là muốn nói chuyện, cắt
nghĩa cho Thiện nghe mọi sự việc xảy ra như thế
nào trước khi tôi ra đi. Mai sẽ kể hết nổi lòng
của nàng cho chồng nghe. Tôi đồng ý theo sự sắp
xếp của Mai. Mai và Tiffany đi rước Thiện tại
phi trường LAX, xe đổ dốc núi từ freeway 405 rẻ
vào freeway 101, cái Thung Lủng Tình Yêu, San
Fernando Valley chiều tối lên đèn sáng rực một
vùng trời thung lủng bao la, mênh mông như đón
chào người mới tới như Thiện và cũng như tiễn
đưa người dư thừa như tôi sẽ ra đi.
Qua đêm
đầu tiên ngủ tại Thung Lủng Tình Yêu này, Thiện
biết rỏ mọi sự việc tôi và Mai yêu nhau trong
thời gian chàng mất tích. Thiện muốn mời tôi về
nhà để tất cả chúng tôi cùng nói chuyện giải
quyết những khúc mắc của vấn đề. Chàng mặc cảm
thừa hưởng những tài sản mà tôi và Mai đã tạo
dựng nên, chàng khuyên chúng tôi nên tiếp tục
sống chung, chàng sẽ sang Dallas sống với người
bạn trong cùng đơn vị cũ của chàng.
Tôi ân cần
bắt tay khuyên Thiện hãy ở lại, cái gia đình này
cần chàng nối tiếp và thời gian dần dà chàng sẽ
hội nhập vào nếp sống mới. Với tôi là kẻ đến sau,
tôi hiểu Thiện thua thiệt nhiều trong cuộc chiến
vừa qua, chàng cần được an ủi, cần lấy lại niềm
tin. Vã lại khi tôi dọn lên bắc Cali phụ em trai
tôi thì công việc bề bộn lắm, tôi sẽ sớm thích
nghi với hoàn cảnh mới. Một lần nữa tôi khuyên
Thiện hãy cố xây dựng nếp sống mới, sự cảm thông
sẽ hóa giải những thiếu sót do cuộc chiến đem
đến và hạnh phúc nào theo Mẹ Teresa cũng cần sự
hy sinh. Nếu tôi ra đi mà hai người có hạnh phúc
thì đó là niềm vui của tôi mà Florence
Nightingale đã nói. Tôi bắt tay và xiết chặt tay
chàng mà không quên chúc chàng thành công. Tôi
nhìn Mai và Tiffany, cả hai đều ôm mặt khóc ròng,
cơn xúc động vô biên này khiến tôi và Thiện đã
gặp nhau trong nỗi đoạn trường của sự ngỡ ngàng,
mà cả hai chúng tôi không hề muốn vì hậu quả của
sự oan nghiệt đầy bối rối để rồi cả hai chúng
đều bị xúc động mạnh vì Mai và Tiffany, hay vì
vợ con chúng tôi đều khổ sở. Giờ phút này là một
sự bàn giao gia đình chính thức cái trách nhiệm
từ người này sang người kia không hơn không kém.
Tôi
hướng vào Freeway 405 North, chiếc xe uhaul chở
đầy đồ đạc của tôi chạy phom phom trên mặt lộ mà
đoạn đường này tôi vốn quen thuộc khi tôi đã
nhiều lần lái chở Lệ Mai và Tiffany Thiên Lý lên
thăm em trai tôi, nhưng ngày hôm nay nó lại khá
mới lạ đối với tôi vì Freeway 405 hôm nay tiễn
đưa tôi đi, và lòng tôi dâng đầy nỗi cô đơn nhất
kể từ ngày tôi biết Mai. Nhìn từ kính hậu xe tôi
đang leo lên đỉnh dốc núi cao và bỏ lại sau lưng
là Thung Lủng Tình Yêu, hay một Thung Lủng Hồng
của Phạm Mạnh Cương mà nơi đó có Mai mà tôi đặt
hết con tim yêu thương cho nàng và rồi cuối cùng
tôi phải ra đi. Tôi đẩy cuộn cassette vào máy,
bản nhạc thương tâm “Biệt Ly” của Dzoãn Mẫn nói
lên cảnh bùi ngùi tâm tư khi người ở lại tiễn
đưa người ra đi:
“Biệt ly
nhớ nhung từ đây
Chiếc
lá rơi theo heo may
Người
về có hay
Biệt
ly sóng trên giòng sông
Ôi
còi tàu như xé đôi lòng
Và
mây trôi nước trôi
Ngày
tháng trôi càng lướt trôi
Mấy
phút bên nhau rồi thôi
Đến
nay bóng em mờ khuất
Người
về u buồn khắp trời
Người
ra đi với ngàn nhớ thương
Mấy
phút bên em rồi thôi
Dáng
em sống trong hồn tôi
Xa
cách ta còn tìm đâu ngày vui
Biệt
ly ước bao đường tơ
Réo
rắt trong muôn hương mơ
Thành
sầu tiễn đưa
Biệt
ly ước mong hoàng hôn
Êm
đềm về ru ấm tâm hồn
Người
yêu đương cách xa
Đành
sống vui cùng gió sương.”
Lệ
Mai yêu dấu,
Khi
hạnh phúc của đời sống được hiểu như lời của Mẹ
Teresa hay Florence Nightingale, thì sự ra đi
của anh là lời chân thành đón chào Thiện về với
em trong hạnh phúc. Anh cầu chúc em như lời hát
khi ta xa nhau: “Êm đềm về ru ấm tâm hồn”... và
Mai sẽ có nhiều hạnh phúc trong cuộc đời này !
Cám ơn Mai cho anh những kỷ niệm đáng yêu trong
bao ngày tháng đang đi vào dĩ vãng, mà với anh
nó rất có ý nghĩa cho sự hy sinh về phần anh và
em hãy nhớ rằng đời vốn rất đáng sống để tiếp
diễn cho những ngày mới. Cám ơn Thung Lủng Tình
Yêu San Fernando cho anh nhiều kỷ niệm thật êm
đềm của những chuỗi hạnh phúc đã qua. Xin chào
giả biệt thiên đường 83.
Việt
Hải Los Angeles
|
|