| |
Vào khoảng cuối năm
1988, tôi được đọc một bài viết của bác sĩ Trần
Quang Đệ, giáo sư thạc sĩ y khoa và là cựu viện
trưởng Viện Đại Học Sài Gòn. Cụ viết mấy lời
nhắn nhủ các y sĩ gốc Việt trong một bài đăng
trên đặc san của Hiệp Hội Y Sĩ Việt Nam ở
Canada. Bài viết bằng tiếng Pháp chứa đầy chân
tình của một nhà trí thức nặng lòng với đất nước,
trong những tháng năm cuối của cuộc đời, hằng
mong sao thế hệ sau tiếp nối công cuộc xây dựng
một chương trình bảo vệ sức khỏe tân tiến và hữu
hiệu cho quê hương. Tôi đã dịch lại bài viết
sang tiếng nước nhà, và vì tôi coi đó như là lời
tâm tình bằng tiếng Việt của giáo sư Đệ với các
môn sinh y khoa, tôi đã cố gắng để không làm sai
trật những ý tưởng cao siêu của nguyên bản. Tôi
đã gửi bản dịch cho một người bạn là cháu của cụ
và sau này bản tiếng Việt đã được đăng trên báo
Hồn Việt ở Cali để tớí một số độc giả rộng lớn
hơn. Giáo sư Trần Quang Đệ đã mở đầu bài viết
bằng câu:
‘‘ Trong buổi chiều tàn bóng xế của cuộc đời,
không còn điều kiện để dậy học, cũng không còn
hành nghề, tôi thường hay tự hỏi: mình còn làm
được điều gì lợi ích?’’
Tôi nghĩ rằng
giáo sư Đệ lúc đó đã ngoài tám mươi tuổi, đã là
một giáo sư thạc sĩ đi tiền phong giảng dậy
nhiều thế hệ bác sĩ y khoa ở Pháp và nhất là đã
hy sinh mười lăm năm lợi tức dư giả ở nước người
để về nước chấn chỉnh nền đại học quốc gia, nay
cụ có thể tự mãn để tìm thú tiêu dao thanh nhàn.
Vậy mà theo lời giáo sư Đệ, cụ vẫn còn muốn có
cơ hội để góp phần gánh vác nhỏ nhoi, tầm thường
của mình cho tập đoàn y sĩ Việt Nam. Cụ viết
tiếp theo :
‘‘Tôi nói tầm thường nhỏ nhoi với hết chân thành
vì tôi nghĩ rằng tôi chưa làm tròn bổn phận công
dân. Mặt khác, tôi còn thắc mắc trong lòng vì
quê hương và dân Việt chưa cằn cỗi và tiêu diệt
mà còn phải mãi mãi tồn tại, tiến hoá không
ngừng, còn tôi, tuy còn đó mà chẳng thể làm thêm
được gì để phụng sự cho quê hương dân tộc. Tôi
hy vọng điều gì tôi để lại sau cuộc đời không
làm tôi bị liệt vào những kẻ đã làm điều sái
quấy đối với quốc gia và điều đó, cùng vơí tình
yêu hiến dâng cho nghề nghiệp, làm cho đồng bào
và tổ quốc tôi được tốt đẹp hơn.’’
Từ
ngày tôi được đọc những lời tâm sự chí tình đó
bằng tiếng Pháp, và tự mình ngồi dịch sang tiếng
Việt, tới nay cũng đã hơn một giáp, một khoảng
thời gian cho một thế hệ trẻ lớn lên, trưởng
thành trong nghề nghiệp. Và cũng là một khoảng
thời gian đưa cả một thế hệ tráng niên dần về
bóng hoàng hôn của cuộc đời. Tuy không phải là
một y sĩ nhưng tôi trân trọng lưu giữ bài của
giáo sư Trần Quang Đệ vì tôi coi những lời nhắn
nhủ của cụ như là những lời khuyên chung cho cả
lớp hậu sinh và, từ nhiều năm nay, lúc nào tôi
cũng cố gắng trong bổn phận của một người dân
gốc Việt đang sống lưu vong, xa quê nhà. Ở Đại
Học Michigan là nơi tôi đã giảng dậy trong ba
mươi năm, tuy không có hạn tuổi về hưu cho những
giáo sư chính ngạch, nhưng tôi cũng đã xin nghỉ
vào đầu mùa xuân của năm 1999. Và cũng như vị
thầy tiền bối đã làm cách đây nhiều năm, mới
đây theo lời yêu cầu của một vị chủ nhiệm một tờ
báo tranh đấu cho Nhân Quyền tôi đã viết một bài
bằng tiếng Anh với đề là: ‘‘In The
Twilight of My Career as an
Educator’’. Qua bài viết, nói về cảm
nghĩ cuả mình trong ánh hoàng hôn của cuộc đời
một nhà giáo, tôi nhìn lại chặng đường đã qua,
duyệt những thành quả của thế hệ trẻ Việt đang
vươn lên ở hải ngoại, của những thanh thiếu niên,
cả nam và nữ mà tôi đã được tiếp xúc và nói
chuyện với họ, để rồi tự hỏi rằng: mình còn làm
được điều gì lợi ích cho cộng đồng người Việt
tỵ nạn cộng sản, và rồi đây cho quốc gia và dân
tộc?
Theo đề nghị của ông Viện truởng Đại Học
Michigan, trong buổi họp cuối năm 1998, Hội Đồng
Nhiếp Chính đã vinh tặng tôi chức vị Professor
Emeritus of Aerospace Engineering, một chức vị
hoàn toàn có tính cách hành chánh để tôi được
tiếp tục hưởng những quyền lợi và xử dụng những
phương tiện của đại học như những giáo sư tại
chức. Điều này cũng tránh cho tôi phải dùng
những danh từ như cựu giáo sư, cựu tư lệnh, ...
, và một số những từ khác về những chức vụ đã
khoác lên vai tôi dàn trải suốt một nửa thế kỷ
kể từ khi bước chân vào đời. Nhưng điều làm cho
tôi cảm kích hơn nữa là cùng một lúc tôi nhận
được bản tuyên dương của hội đồng, lồng trong
khung kính với triện đóng của đại học, và chữ ký
của ông Viện trưởng Lee C. Bollinger, một luật
gia lỗi lạc về hiến pháp Hoa Kỳ, và cũng là một
trong những người đã được những Đại Học Harvard
và Columbia chú ý đến và muốn mời vào chức vụ
Viện trưởng . Đoạn cuối của bảng tuyên dương
được viết như sau :
‘‘Besides his outstanding career as a researcher
and educator, Professor Vinh is widely
recognized for his leadership and mentor-ship to
the Vietnamese community . A widely-read
novelist and poet, he was awarded the
prestigious Vietnam National Literature Prize in
1961. He has been much in demand as a speaker
for Vietnamese organizations on such topics as
education, culture, society, and the future of
Vietnam and the Vietnamese people. He is widely
recognized as a role model within the Vietnamese
community in North America and elsewhere’’.
Nếu
tôi là một giáo sư Việt Học thì chắc không ai
thấy ngạc nhiên về câu tuyên dương ở trên. Nhưng
vì tôi lại là một giáo sư chuyên giảng dậy và
làm khảo cứu về toán học và khoa học không gian
nên theo tôi nghĩ thì sự ghi nhận đó đã chứng tỏ
rằng những bạn đồng nghiệp và giới chức đại học
ở Michigan đã biết tôn trọng những cố gắng
ngoại vi của tôi ngoài sự đóng góp chuyên môn
vào sự phát triển nền khoa học không gian Hoa Kỳ
cả trong hai phương diện huấn luyện và khảo cứu.
Suốt hai thập niên cuối của thế kỷ 20, vào những
dịp đi dự những hôị nghị khoa học và thuyết
trình theo lời mời của nhiều đại học từ Âu sang
Á và Mỹ châu, kể cả hai miền Nam và Bắc Mỹ và
xuống cả Úc châu, tới những đô thị nào mà có
đông người Việt cư ngụ tôi đều dành thì giờ để
tiếp xúc và nói chuyện với người đồng hương, đặc
biệt là với giới trẻ, niềm hy vọng cho tương lai
sáng lạn của chúng ta. Qua những chuyến đi, tôi
đã quan sát và được biết những cố gắng, những
đấu tranh và thành công của ngươì Việt ở khắp
năm châu.
Vào
năm 1992, ở một hội nghị để luận về sự thiếu hụt
những chuyên gia ở Gia Nã Đại, ông William
Winegard, lúc đó là Bộ Trưởng Khoa Học và Kỹ
Thuật đã nói rằng: ‘‘Chúng ta không thể nào
có một xã hội có sự ganh đua để tiến hóa, nếu
không có nhân sự có khả năng để ganh đua’’.
Nhân loại đã bước sang thế kỷ 21 và sau hai mươi
lăm năm kể từ ngày lớp người Việt tỵ nạn đầu
tiên đặt chân xuống Hoa Kỳ, hiện nay kể cả những
con cháu đời thứ hai và đời thứ ba, dân tộc
chúng ta đã có vào khoảng một triệu rưởi người
sinh sống trên giải đất này, và như thế đã trở
thành một nhân lượng đáng kể, còn lớn hơn dân số
của nhiều tiểu bang trong Hợp Chủng Quốc. Vậy
chúng ta thử đặt câu hỏi là chúng ta có phải là
một sắc tộc đóng góp hữu hiệu vào sự ganh đua để
tiến hóa của Hoa Kỳ hay không ?
Nếu
ai nhìn vào bất kỳ một sự phát triển nào trên
giải đất Hoa Kỳ cũng phải công nhận rằng có sự
đóng góp của ngươì dân gốc Việt. Lấy một thí dụ
là theo Bộ Thương Mại thì có hơn 300 người Mỹ
gốc Việt đã có ít ra là 3 bằng sáng chế cho mỗi
người. Riêng kỹ sư Đoàn Chính Trung, hiện nay là
một trong những phó chủ tịch của Micron
Corporation ở tỉnh Boise, tiểu bang Idaho , đã
được cấp 132 bằng sáng chế. Người Việt Nam đặc
biệt là xuất sắc trong những ngành kỹ thuật và
khoa học bao gồm cả y, nha và dược học. Trong số
hàng trăm trường y khoa ở khắp mọi nơi, nếu chỉ
kể những trường thật nổi tiếng như ở những đại
học Harvard, Yale, Johns Hopkins ở miền Đông và
Michigan, Chicago, Northwestern ở miền Trung Tây
. . . cho tới những trường ở miền Tây như
Stanford và những đại học của California ở San
Francisco, Los Angeles . . . thì ở nơi nào người
ta cũng thấy những sinh viên Việt Nam mặc áo
trắng chuyên cần theo học những lớp ở giảng
đường hay theo thầy tập sự ở các bệnh viện và
nhiều người đã tốt nghiệp ở khoảng đầu lớp khi
ra trường. Theo một ước lượng thật dè dặt thì
hiện nay ở Hoa Kỳ có vào khoảng 4200 bác sĩ gốc
Việt đang hành nghề và như thế thì cứ một ngàn
người chúng ta lại có 4 bác sĩ. Nói chung cho
toàn thể đất nước thì tỷ lệ này chỉ có được ở
những vùng thật trù phú.
Nhiều bác sĩ, ở
lớp đàn em và con cháu sau này, cũng đã trở
thành giáo sư y khoa ở những đại học danh tiếng
như những vị thầy tiền bối khi xưa. Một trong
những người nổi tiếng là bác sĩ Nghiêm Đạo Đại,
giáo sư tại trường đại học y khoa ở Pittsburgh
và là người đã đưa ra một phẫu thuật tân kỳ khi
ghép tụy tạng cho những người mắc bệnh tiểu
đường loại I. Ông cũng đã đăng gần hai trăm bài
khảo cứu trên những báo y khoa ở Bắc Mỹ. Trên
một tờ báo y học ở miền Hoa Thịnh Đốn, hàng năm
có đăng một danh sách các bác sĩ ưu hạng do
chính các bạn đồng nghiệp chọn lựa. Đọc trên tập
san ta có thể thấy trong bốn năm liền tên bác sĩ
Trịnh Đức Phương trong bộ môn y khoa truyền
nhiễm. Một người em trai của bác sĩ cũng là giáo
sư y khoa ở đại học nổi tiếng Johns Hopkins. Ở
thành phố Long Beach thuộc tiểu bang California,
khi tới thăm bệnh viện và phòng khảo cứu về
chứng bệnh Parkinson của hệ thần kinh của bác sĩ
Trương Dũng chúng ta có thể gặp nhiều bệnh nhân
đã vì nghe tiếng ông mà từ nước ngoài tới xin
chữa chạy.
Cách đây hơn nửa thế kỷ, khi chúng ta còn sống
êm đềm ở nước nhà thì ngoại trừ ở thành phố
Sàigòn là một nơi đô thị rộn rịp, còn ở các tỉnh
khác từ Nam chí Bắc thì chiếc xe đạp hai bánh là
phương tiện di chuyển thông thường của mọi người.
Vậy mà giờ đây, thế hệ trẻ Việt Nam khi gia nhập
quân đội Hoa Kỳ đã không ngần ngại chấp nhận
những thử thách tập luyện tân kỳ như lái những
phi cơ phản lực siêu thanh. Một bạn trẻ đã được
Tổng Thống Hoa Kỳ W. J. Clinton nhắc đến trong
một bài diễn văn quốc tế như là một tấm gương
thành công đặc sắc của người Việt di cư là anh
Trần Như Hoàng, người đã tốt nghiệp thủ khoa từ
Trường Sĩ Quan Không Quân Hoa Kỳ ỏ Colorado
Springs. Sau này anh lại được học bổng Rhodes là
một học bổng thật danh tiếng để đi tu nghiệp ở
Anh Quốc trước khi trở về theo học và tốt nghiệp
bác sĩ y khoa tại đại học Harvard. Bây giờ anh
là một bác sĩ không quân chuyên về giải phẫu vi
ti, phục vụ ở San Antonio, tiểu bang Texas cùng
với người vợ hiền cũng là một bác sĩ y khoa.
Vào năm 1999,
những ai coi tin tức truyền hình toàn quốc về lễ
mãn khóa tại Trường Sĩ Quan Hải Quân Hoa Kỳ ở
Annapolis đều được thấy một thiếu nữ Việt Nam là
cô Nguyễn Thị Cẩm Vân đậu Á khoa ở một lớp có
tới 737 sinh viên sĩ quan, cả nam lẫn nữ. Qua
những buổi nói chuyện ở nhiều nơi, tôi đã gặp
nhiều người gốc Việt là những sĩ quan cao cấp
trong quân đội, có người là bác sĩ đại tá quân y
chỉ huy một hệ thống bệnh viện ở cả một vùng
rộng lớn. Thế hệ trẻ hơn có người đã lên tới cấp
bậc trung tá và cũng đã có nhiều người từng tham
dự chiến cuộc Vùng Vịnh ở Trung Đông. Một trong
những sĩ quan trẻ tôi đã gặp và hỏi chuyện là
thiếu tá không quân Phạm Hoàng Thư, một huấn
luyện viên trên phản lực cơ siêu thanh F-16 .
Cũng như tôi đã
từng đào tạo nhiều kỹ sư chế tạo phi cơ, anh đã
là người huấn luyện những phi công xử dụng và
như thế cả hai thế hệ chúng tôi đều đã đóng góp
hữu hiệu vào sự phát triển của đất nước tạm dung
này. Cộng đồng người Việt cũng đã có người đại
diện trong hàng ngũ những phi hành gia không
gian. Đó là tiến sĩ Trịnh Hữu Châu, tên Mỹ là
Egene H. Trinh, một nhà vật lý học lỗi lạc ở
tuổi năm mươi vào đầu thế kỷ mới, và là người
đã được bay vào không gian bao la trên con
thuyền con thoi vào đầu tháng bẩy năm 1995.
Ngoài ông ra cũng có hàng trăm kỹ sư và khoa học
gia khác làm việc trong đủ mọi ngành chuyên môn
về hàng không và không gian. Ở các hãng kỹ nghệ
tư cũng có nhiều người đạt được những thành tích
đặc sắc. Chúng ta có thể kể trường hợp của tiến
sĩ Cai Văn Khiêm. Với nhiều bằng phát minh thực
dụng, anh đã là kỹ sư trẻ nhất đạt tới điạ vị là
Chief Division Technologist của Hugues Aircraft
Company.
Người Á Đông vốn tôn trọng sự học nên một số
những người thành đạt đã đi theo ngành giáo dục.
Ở hai bên bờ Đại Tây Dương, dưói trời Âu cũng
như dưói trời Mỹ, ở những đại học nổi tiếng, dù
cho là ở Sorbonne hay ở Harvard, hay ở một nơi
nào mà sự giảng dậy có được một trình độ cao cấp
là ta cũng thấy có những giáo sư người Việt ở đủ
mọi ngành. Không phải là chỉ ở Âu châu hay Mỹ
châu mà người mình mới đóng vai giảng dậy chữ
nghĩa, mà qua những lần thăm viếng phương xa,
tôi đã được gặp và nói chuyện với những giáo sư
gốc Việt ở Đông Kinh, đất nước Phù Tang, và ở
Melbourne, Sydney hay là ở Brisbane, tận mãi Úc
châu về Nam bán cầu.
Những
thành công của người Việt không phải chỉ được
biết đến trong giới hạn cộng đồng chúng ta mà
thôi, mà nhiều lần đã được giới thiệu đến đại
chúng Hoa Kỳ qua những cơ quan truyền thông quốc
gia. Ở Đại Học California ở San Diego, một chiếc
máy do giáo sư Nguyễn Hữu Xương chế tạo đã được
National Institutes of Health (NIH) công nhận là
một nguồn khảo cứu quốc gia. Với sự tài trợ để
duy trì và điều hành của NIH, chiếc máy mà các
nhà khảo cứu sinh hóa học, phải ghi tên để đợi
đến lượt được được xử dụng, gọi là Xương
Machine, đã giúp rất nhiều cho sự nghiên cứu các
tế bào liên hệ đến ung thư. Ở Gia Nã Đại, bà
Hoàng Thiếu Quân đã là người phụ nữ đầu tiên
được bổ nhiệm làm Giám Đốc Tài Chánh cho Thành
Phố Montréal, với ngân sách hàng năm lên tới ba
tỷ Gia kim. Một tin tức nữa mà tôi đã được đọc
trong một đặc san kỷ niệm lễ về hưu trí của giáo
sư Lê Thành Trai của Đại Học Notre Dame ở South
Bend, Indiana, là bà đã là phụ nữ đầu tiên được
bổ nhiệm là giáo sư thực thụ tại Trường Luật
Khoa. Trong suốt hai mươi năm, cho tới ngày giáo
sư Trai nghỉ hưu vào năm 1997, bà đã là người
độc nhất phụ trách dậy môn Luật Thương Mại,
ngoài những phần chuyên môn khác, và như vậy tất
cả các sinh viên luật tốt nghiệp trong khoảng
thời gian đó đều đã thụ huấn bà.
Những
nhân vật nổi tiếng lẫy lừng như những người kể
trên, thuộc thế hệ đầu tiên của người Việt di cư,
phần lớn đều là những người đã có căn bản học
lực theo chương trình Pháp, và không ít thì
nhiều cũng đã có kinh nghiệm sống ở nước ngoài,
nên đã dễ dàng hội nhập vào xã hội mới. Điều này
cũng đúng cho những tài năng ở thế hệ thứ hai,
những em đã lớn lên ở trên dải đất này. Nhiều
bạn trẻ đã đạt được những thành tích thật đặc
biệt. Ở Massachusetts Institute of Technology,
mà mọi người thường biết đến dưới tên đọc ngắn
gọn là MIT, anh Nguyễn Tuệ đã đạt được một kỷ
lục phi thường là đậu được năm bằng cử nhân kể
từ Vật Lý và Toán học cho tới Kỹ Thuật Điện Tử
để rồi sau cùng lấy thêm một bằng cao học và một
bằng tiến sĩ về kỹ thuật nguyên tử lực. Như thế
là anh đã đoạt được bẩy văn bằng trong vòng bẩy
năm tại đại học nổi tiếng MIT. Vào tháng Năm năm
1996, ở một buổi loan tin trong ngày cho toàn
quốc, đài truyền hình ABC đã chọn một bạn trẻ
Việt Nam là bác sĩ Nguyễn Ngọc Quang là người
được vinh danh trong tuần lễ (ABC Person’s of
the Week).
Khi còn là sinh
viên, anh đã bị một tai nạn xe hơi làm hư hại
nặng tới não bộ. Vậy mà sau này anh đã cố gắng
luyện tập để học lại được tất cả những gì bị
quên lãng để rồi tốt nghiệp bác sĩ với hạng danh
dự ở Trường Y Khoa Baylor ở Texas. Những người Á
Đông, và đặc biệt là những người Việt Nam, thì
thường là hâm mộ thể thao, nhưng ít ai có đủ tầm
vóc và sức khỏe để chơi môn bóng bầu dục.
Nhưng nay
chúng ta đã có anh Nguyễn Đạt, khi còn là sinh
viên ở Texas A & M University đã chiếm được giải
Lombardi vào năm 1998 là giải hàng năm dành cho
người phòng vệ tiền đạo xuất sắc nhất trên toàn
quốc. Sau đó anh còn được lựa chọn để làm cầu
thủ nhà nghề cho Hội Bóng Dallas. Vào cuối thiên
niên kỷ vừa qua, tất cả những người Việt Nam, dù
ở trên đất nước hay đang sinh sống ở hải ngoại,
ai cũng cảm thấy hãnh diện về sự thành công vẻ
vang của nhà đạo diễn phim ảnh trẻ tuổi Tony Bùi,
người đã đoạt ba giải thưởng quan trọng là Grand
Jury Prize, Audience Award và Cinematography
Award với cuốn phim Three Seasons. Sau cùng,
một chuyện cũng nên nhắc lại là vào ngày 21
tháng Bảy năm 1999, đài phát thanh National
Public Radio, là một đài phát thanh toàn quốc
với những lời phẩm bình văn chương và chính trị
rất được lắng nghe, đã có một buổi phát thanh
đặc biệt trong chương trình ‘‘Talk of the
Nation’’ để kỷ niệm sinh nhật bách niên của ký
gỉả và văn hào Ernest Hemingway, một trong những
người đã mang giải Nobel về văn chương cho Hoa
Kỳ. Thường ngày là có hàng triệu người theo giõi
chương trình này, nhưng ít ai có thể nghĩ rằng
một học giả trẻ tuổi người Việt đã góp phần vào
việc viết bài khảo luận và trong buổi phát thanh
anh cũng đã giả dọng nói của Hemingway trong màn
đối thoại giữa tác giả nổi tiếng này và một nữ
văn sĩ người Pháp ở Paris vào những năm cuối hai
mươi.
Ngoài những sự việc kể trên, còn nhiều tin tức
thành công khác của giới trẻ Việt Nam, thường
hay được loan tin sâu rộng trong cộng đồng chúng
ta ở hải ngoại, nhưng lại ít khi đuợc chú ý và
quảng bá tới quần chúng Mỹ. Tuy vậy có một số
học giả mà tôi quen biết, là những người thực
tâm ngưỡng mộ nền văn hoá Việt Nam và có những
chương trình khảo cứu về sự hội nhập của người
mình vào miền đất mới, đã viết một số bài trung
thực, nêu lên những thành công đáng khen ngợi
của giới trẻ. Trong nguyệt san Scientific
American, số tháng Hai năm 1992, có một bài viết
của các tiến sĩ Caplan, Choy và Whitmore thuộc
đại học Michigan về sự thành công ở học đường
của các học sinh đến từ Đông Dương. Bài viết dựa
trên những cuộc phỏng vấn và sưu tầm tài liệu,
hầu hết là ở những cộng đồng lớn của ngươì Việt
ở Seattle, San Jose, Orange County và Houston và
các tác giả đã quy định rằng sự học hành tấn tới
của các em là nhờ ở sự liên hệ gia đình, phụ mẫu
đã có nhiều hy sinh, đã khuyến khích con em và
đã tạo nên một không khí đầm ấm, hạnh phúc dưới
mái nhà, rất thuận lợi cho sự mở mang trí tuệ
của con cái. Gia đình chúng tôi cũng có kinh
nghiệm về điều này. Để nuôi dưỡng bốn đứa con
trở nên những người hữu dụng, chúng tôi cũng đã
phải gánh chịu nhiều khó khăn, khổ sở, nhất là
trong những năm đầu di cư, khi mà ở chung quanh
không có ai là họ hàng thân thích, và thiếu bóng
cả những người đồng hương. Chúng tôi tới Mỹ từ
sớm vào năm 1962, nhờ ở một học bổng đặc biệt
của Không Quân Hoa Kỳ (USAF). Thoạt mới nghe thì
ai cũng nghĩ rằng sang trước được ít lâu cũng
giúp thêm cho tôi được phần nào trong sự nghiệp.
Thật ra thì không hẳn như vậy. Trong những năm
đầu tiên bước chân vào ngành giáo dục và nghiên
cứu khoa học, giữa những bạn đồng nghiệp, tôi
thật cảm thấy cô đơn và lạc lõng. Đi tới đâu tôi
cũng trở thành giáo sư Việt Nam đầu tiên được
tuyển lựa, và tự mình phải chứng tỏ khả năng của
những người con Rồng cháu Tiên, lúc đó còn xa lạ
đối với xứ này. Nhiều lúc tôi nghĩ đến câu
‘‘one is a lonely number’’, là tựa đề của
một cuốn truyện và cũng là tên của một cuốn phim,
với tôi lúc đó có nghiã là số một là một số cô
đơn.
Tôi
xin kể lại câu chuyện từ đầu. Vào trước năm tôi
xin nghỉ hưu, tuần báo US News and World Report,
trong số đặc biệt phát hành hàng năm để xếp hạng
những trường đại học Hoa Kỳ, theo từng cỡ, lớn
hay nhỏ, và từng ngành chuyên môn, thì Trường Kỹ
Thuật (College of Engineering) ở Đại Học
Michigan được xếp thứ ba, sau trường MIT và Đại
Học Stanford ở California. Nếu kể theo chuyên
khoa thì về môn Kỹ Thuật Hàng Không và Không
Gian (Aerospace Engineering), phân khoa này ở
Michigan được xếp thứ tư, sau những trường MIT,
California Institute of Technology, gọi tắt là
Caltech, và Đại Học Stanford. Vì tôi đã dậy ở
Michigan được ba mươi năm, và được bổ nhiệm làm
giáo sư thực thụ từ năm 1972, nên tất nhiên là
tôi đã có công lao đóng góp xứng đáng vào thành
tích được xếp hạng cao của trường. Chính ở Đại
Học Michigan là nơi tôi được một lần tặng giải
xuất sắc về giáo dục và hai lần được tặng giải
xuất sắc về khảo cứu cũng đã phải công nhận là ở
Phân Khoa Hàng Không và Không Gian tôi là người
có kỷ lục đã đào tạo được nhiều tiến sĩ, cả nam
lẫn nữ. Vào đầu năm 1962, khi tôi chuẩn bị giấy
tờ để gửi xin nhập học vào các đại học Hoa Kỳ,
tôi đã đề theo thứ tự ưu tiên là MIT rồi sau đến
Đại Học Stanford. Trong trường hợp tôi phải theo
học một trường đại học công lập, thì tôi đề ưu
tiên là Đại Học California ở Berkeley, rồi sau
đến Đại Học Michigan ỏ Ann Arbor. Đó là những
trường đại học có uy tín ở Á châu là những
trường đại học giỏi đã đào tạo được nhiều chuyên
gia nổi tiếng, và trong ban giáo sư cùng giữa
những cựu sinh viên có nhiều người được giải
Nobel về khoa học.
Nhưng tôi chưa
kịp gửi đơn đi thì đã được tin từ cơ quan cấp
phát học bổng ở Hoa Kỳ là họ đã chọn sẵn cho tôi
để nhập học, hoặc là trường Đại Học Arizona ở
Tucson, hay là trường Đại Học Colorado ở
Boulder. Những trường này là những trường công
lập vào hạng khá, nhưng không được xếp hạng vào
25 trường đứng đầu bảng. Vì tôi ưa thích miền
núi non nên đã chọn Colorado để tới học. Tuần
lễ đầu tiên ở trường, khi được hướng dẫn đi ghi
tên và chọn lớp thì tôi khám phá ra được rằng
đại học này, và ngay cả toàn tiểu bang Colorado
chăng nữa, thì chưa bao giờ đã cấp phát văn bằng
tiến sĩ về môn Khoa Học Hàng Không và Không Gian,
vì môn này lúc đó còn mới mẻ. Tuy vậy tôi vẫn
chuyên tâm vào học và vào ngày 14 tháng Chạp năm
1964, tức là sau hai năm và bốn tháng kể từ ngày
tôi tới Colorado, tên tôi được ghi vào lịch sử
của tiểu bang như là người đầu tiên được cấp văn
bằng tiến sĩ về môn Hàng Không và Không Gian.
Năm sau đó tôi cũng được mời làm giảng sư tại
Đại Học California ở Berkeley, nhưng tôi từ chối
để ở lại trong ban giảng huấn của Đại Học
Colorado. Tuy vậy vào năm 1967 tôi cũng đã tới
Berkeley làm giáo sư thỉnh giảng để dậy một khóa
học. Và đúng mười năm, sau khi tôi được nhắc
khéo là vì tôi còn bỡ ngỡ với nền học vấn ở Hoa
Kỳ nên nếu đến theo học ngay ở Michigan thì thật
là một cao vọng, tôi được thăng chức giáo sư
thực thụ ở trường này.
Trong những
năm qua, khi tiếp xúc với giới trẻ ở khắp năm
châu, tôi thường được hỏi là tôi đã cộng tác thế
nào với Nha Quản Trị Hàng Không và Không Gian
Quốc Gia (National Aeronautics and Space
Administration, gọi tắt là NASA), và trong quãng
đời làm công tác khoa học, sáng tác nào đã làm
tôi thích thú nhất. Trong giòng họ tôi, nguyên
quán ở Nam Định, có rất ít người ra làm quan dù
rằng theo trong gia phả, trong các tổ tiên đã có
những người đỗ đại khoa, nhưng có xuất chính
rồi ít lâu sau cũng cáo quan về nhà dậy học.
Cũng vì vậy mà từ khi ra trường tôi đã đi theo
những bước chân của các bậc tiền nhân mà chọn
con đường giáo dục.
Trải hương thơm
theo gió, tôi muốn hoàn trả lại bốn phương những
gì tôi đã thu lượm được trong cuộc đời tầm học,
và như thế dậy học và viết những tài liệu khảo
cứu là con đường hữu hiệu nhất để thực hiện điều
này. Nhưng thực sự ra, để trở thành giáo sư đại
học ở đất nước này lại không phải dễ dàng như
khi chúng ta còn ở trên quê hương mà theo thông
lệ sự tuyển lựa chỉ căn cứ vào một văn bằng tiến
sĩ là đủ. Từ nhiều năm nay, chúng tôi là những
người trong ngành giáo dục ở đủ mọi bộ môn ở các
đại học Bắc Mỹ đã lập ra một hội thân hữu gọi là
Vietnamese North-American University Professors,
viết tắt là VNAUP, để trao đổi tin tức qua máy
điện tử và họp với nhau mỗi năm một lần, nhưng
tựu trung chúng tôi tuy giầu thiện chí, nhưng
thực lực vẫn còn nghèo nàn, thưa thớt. Danh sách
hội viên, nhất là những đồng nghiệp trẻ, vẫn
chưa được dài như chúng tôi mong muốn.
Được chọn làm giáo
sư ở một trường đại học tại Hoa Kỳ hay Gia Nã
Đại, đặc biệt là ở những đại học có uy tín,
trước hết phải qua một cuộc tuyển lựa rất gay
go, khởi đầu với vào khoảng trên dưới một trăm
ứng sinh, để rồi chọn ra một người, qua nhiều
giai đoạn từ giới thiệu đến tham khảo, phỏng vấn,
và khi được vào chung kết, trong một danh sách
từ 3 đến 5 người, ứng viên phải đến làm một bài
thuyết trình để toàn thể các giáo sư và sinh
viên trong phân khoa có dịp được thẩm định.
Lúc được bổ nhiệm
làm giảng sư, với những người mới ra trường, thì
theo thông lệ chỉ có hạn kỳ là ba năm, rồi sau
đó nếu công việc dậy học và khảo cứu được tiến
triển điều hòa thì được triển hạn thêm ba năm
nữa. Sau thời gian sáu năm thử thách ấy, những
giáo sư thâm niên hơn mới họp bàn để duyệt xét
thành tích của người bạn đồng nghiệp trước khi
đề nghị lên hội đồng khoa xin lưu nhiệm vĩnh
viễn. Dù đã qua được sự gạn lọc này cũng không
chắc chắn là được nhận ngay vào chính ngạch vì
tôi đã nhìn thấy những trường hợp đề nghị này
cho một vài giáo sư Hoa Kỳ được gửi đi nhưng
không được hội đồng khoa chấp thuận. Chính những
trở ngại đó đã làm cho một số những tài năng trẻ
Việt Nam chọn đi những ngành khác đỡ chông gai
hơn. Trong trường hợp của tôi, một khi đã quyết
tâm theo ngành giáo dục và khảo cứu, tôi cũng
phải hành xử theo như các bạn đồng nghiệp khác
để được ở cùng một bình diện với họ. Ở các đại
học có một thành ngữ mà ai cũng nhớ là ‘‘Publish
or Perish’’ có nghĩa là không công bố được trên
sách báo chuyên môn những sáng tác hay những kết
quả khảo cứu của mình thì sẽ bại liệt.
Tuy theo bề ngoài
mà nói thì khi cứu xét sự lưu nhiệm các giáo sư
chưa vào chính ngạch, ở đại học nào cũng công bố
trên giấy tờ thứ tự ưu tiên là giảng huấn rồi
mới đến khảo cứu, hay sáng tác cho những giáo sư
theo khoa học nhân văn, và sau cùng sẽ đến sự
phụ giúp công việc hành chánh trong đại học, như
dự các buổi họp, lãnh những nhiệm vụ được giao
phó hay tự tình nguyện, nhưng trên thực tế các
giáo sư được đánh giá qua những kết quả khảo cứu,
được thể hiện bằng những bài đăng trên những báo
chuyên khoa, những cuốn sách đã xuất bản, và
những lần được mời đi thuyết trình ở các đại học
trong và ngoài nước hay ở những hội nghị tầm vóc
quốc gia và quốc tế.
Tất cả những điều
này liên hệ với nhau. Muốn làm khảo cứu, tìm ra
những điều mới lạ, ở một thời đại văn minh tuyệt
đỉnh, ai cũng cần có một ngân khoản, thường thì
do một cơ quan quốc gia, hay một xí nghiệp đài
thọ, và muốn xin được những tài trợ này giáo sư
phải sẵn có một uy tín trong lãnh vực của mình,
nghiã là đã phải có một số những bài khảo luận
đăng trên sách báo, và muốn viết được những bài
này lại cần phải có những phuơng tiện để làm
khảo cứu nghiã là phải có ngân sách để quản lý.
Trong cái vòng lẩn quẩn đó, nhiều người không
tìm ra đầu mối bắt đầu từ đâu, và đã phải giải
nghệ, nghiã là đi tìm cách tiến thân theo con
đường khác. Tôi cũng đã trải qua những năm thử
thách đó trong xã hội rất mực cạnh tranh ở Hoa
Kỳ, và trong phần vụ nghiên cứu cũng đã xin được
những ngân khoản khảo cứu của các cơ quan chính
phủ và kỹ nghệ tư.
Vì tôi làm
việc về lý thuyết nên đã dùng những nguồn tài
trợ này làm học bổng cho những nghiên cứu sinh
của tôi, giúp cho họ qua được khoa kỳ. Những kết
quả khảo cứu, hoặc được đăng trên các nguyệt san
khoa học và kỹ thuật như những bài khảo luận,
hay dưới hình thức những bản báo cáo chuyên
ngành, đều được phổ biến qua các thư viện chuyên
môn trên toàn thế giới. Một số những báo cáo
chuyên môn tôi viết ra, hoặc đứng tên một mình,
hoặc làm chung với các bạn đồng nghiệp hay các
môn sinh, đã được Không Quân Hoa Kỳ (USAF), hay
NASA là những cơ quan đã trợ cấp ngân khoản, in
ra như là nhũng tài liệu chuyên môn (technical
report).
Những tài liệu này
đều có thể tìm được ở các thư viện, hay gửi mua
ở Clearinghouse for Federal Scientific and
Technical Information địa chỉ gửi về là
Springfield, Virginia 22151. Trong niên học
1974-1975 tôi được mời sang Pháp để làm khảo cứu
ở Office National d’Etudes et de Recherches
Aérospatiales gọi tắt là ONERA, ở Châtillon là
vùng ngoại ô của Paris, và làm giáo sư thăm
viếng ở Trường Quốc Gia Cao Đẳng Hàng Không và
Không Gian Pháp, thường được các sinh viên các
Truờng Lớn ở Pháp ưu ái gọi tắt là SupAéro.
Trong thời gian này tôi cũng viết mấy bài về
toán học và qũy đạo tối ưu để đăng trên nguyệt
san khoa học La Recherche Aérospatiale của ONERA,
và sau này có hai bài viết chung với những khoa
học gia người Pháp lại được chuyển dịch sang Anh
ngữ và đăng như là báo cáo kỹ thuật của Cơ Quan
Không Gian Âu Châu (European Space Agency).
Một vài bài báo tôi
viết với nghiên cứu sinh, đăng trên báo chuyên
môn ở Hoa Kỳ cũng đã được dịch sang Nga ngữ và
đăng lại ở Liên Sô. Sau này, khi chế độ cộng sản
sụp đổ ở Đông Âu, sự trao đổi văn hoá và khoa
học được cởi mở, tôi cũng đã viết chung bài với
một viện sĩ khoa học người Nga và bài nào cũng
được in theo hai văn bản ở hai trời Âu và Mỹ.
Nhờ những hoạt động như thế, cùng với ba cuốn
sách giáo khoa tôi đã viết và được dùng ở các
nơi trên thế giới, mà những đóng góp của tôi vào
khoa học không gian được chú ý ở Âu châu. Một
báo cáo kỹ thuật đặc biệt do tôi ký tên được ấn
hành bởi North Atlantic Treaty Organization
thường được biết đến như là Liên Minh NATO vào
năm 1990. Tổ chức này, tuy là liên minh chính
trị và quân sự Bắc Đại Tây Dương, nhưng cũng có
một ủy ban cố vấn kỹ thuật gọi là Advisory Group
for Aeronautical Recherche and Development, viết
tắt là AGARD, hàng năm vẫn tổ chức những khoá
hội thảo.
Tại một kỳ hội luận
về Flight Mechanics of Space Flight, vào những
ngày 13-16 tháng Một năm 1989 ở Luxembourg tại
Âu châu, để những chuyên gia thuộc các nước
trong liên minh trình bầy những dự án đóng góp
của nước họ vào chương trình bay vào không gian,
tôi được mời để làm tổng thư kỶ viết báo cáo kỹ
thuật của buổi họp. Sự việc này cũng là một vinh
dự đặc biệt cho tôi, vì giấy mời được sự hội ý
và thoả thuận của hai vị đồng chủ tịch buổi hội
luận, một vị người Pháp và một vị người Mỹ. Bản
báo cáo của tôi, định phẩm hơn ba mươi bài
thuyết trình kỹ thuật của mười bốn quốc gia
trong ba ngày hội luận ở Luxembourg, được xếp
loại chuyên môn theo thủ tục của AGARD như là
một Technical Evaluation Report (TER), đã được
ấn hành năm sau đó sau khi đã được hai vị đồng
chủ tịch duyệt y. Tuy theo khế ước ký kết cho
chuyến đi này tôi còn được ba tháng sau hội nghị
để viết bài tổng kết nhưng theo lời yêu cầu của
vị đồng chủ tịch người Pháp, ở buổi kết thúc tôi
được mời trình bầy trong vòng nửa giờ những nhận
xét của tôi về những cao điểm của cuộc hội luận.
Khi giới thiệu tôi ông chủ tịch hội nghị cũng
dùng những lời lẽ thật trịnh trọng.
Ngoài những ngân khoản trợ cấp khảo cứu từ NASA,
gửi thẳng đến đại học để nơi này thiết lập ngân
sách cho tôi điều hành, có một lần trong một
chương trình dành cho các giáo sư đại học vào
mùa hè năm 1982 tôi làm việc trực tiếp trong ba
tháng tại Jet Propulsion Laboratory, viết tắt là
JPL, là một cơ sở quan trọng phụ trách những
chương trình thám hiểm những hành tinh trong
Thái Dương Hệ của Hoa Kỳ, nhưng lại trực thuộc
Đại Học Caltech ở Pasadena. Ở nơi đây tôi cũng
gặp lại một số cựu sinh viên và sau này cũng
giới thiệu được một số sinh viên mới tốt nghiệp
tới làm việc. Một trong những sinh viên tôi đã
đào tạo, hiện nay vẫn làm việc tại JPL, là tiến
sĩ Jennie R. Johannessen, một nữ chuyên gia rất
xuất sắc đã là người quản nhiệm nhóm tính qũy
đạo cho vệ tinh nhân tạo Galileo bay lên thám
hiểm Mộc Tinh. Trong số vào khoảng ba mươi tiến
sĩ đã được tôi hướng dẫn tại Đại Học Colorado và
Đại Học Michigan thì có chừng một phần ba là ở
nước ngoài như Đại Hàn, Nhật Bản, Hoa Lục, Đài
Loan, Ba Tây và Pháp, còn đều là ở Hoa Kỳ, và
hầu hết đã đạt được những địa vị khả quan trong
xã hội. Giữa các môn sinh, họ vẫn liên lạc với
nhau chặt chẽ, coi người thầy cũ như là môt tụ
điểm.
Trở
lại câu hỏi là tôi thấy thích thú nhất về sáng
tác nào thì thật khó trả lời vì trong
khi làm về khoa học tôi để chen vào một chút văn
nghệ tính, và giống như một họa sĩ vẽ tranh, tôi
không hay sao lại một tác phẩm nào đã thực hiện
trước đây. Vì vậy khi đọc lại bất kỳ bài viết
nào đã đăng, mỗi bài có một vẻ đẹp khác nhau làm
tôi vẫn thấy hào hứng như lần đầu tiên tìm ra
được phương pháp giải bài toán này còn ở trong
vòng bí hiểm.
Tháng Tám năm 1994,
tại hội nghị thường niên về cơ học không gian
của American Institute of Aeronautics and
Astronautics họp ở Scottsdale, là một nơi nghỉ
mát danh tiếng thuộc tiểu bang Arizona, ở bữa
tiệc chính có vào khoảng một ngàn kỹ sư và khoa
học gia danh tiếng tham dự, tôi được mời lĩnh
giải Mechanics and Control of Flight
Award cho năm ấy. Ngoài bằng tưởng lục và
một nút tròn để đeo vào ve áo, tôi được ông Chủ
Tịch đương nhiệm của Viện choàng vào cổ tấm huy
chương vàng danh dự. Ở một mặt tấm huy chương có
khắc hình chiếc phi cơ cánh đôi của hai anh em
Wilbur và Orville Wright chế tạo và vết chân đầu
tiên của phi hành gia Neil Armstrong in trên mặt
trăng, những hình vẽ biểu dương cho sự phát
triển khoa học hàng không và không gian Hoa Kỳ
trong thế kỷ XX. Ở mặt bên kia có khắc tên tôi
và hàng chữ tưởng thưởng ‘‘For outstanding
contributions to the mathematical theory of
optimal control, applied to the flight mechanics
of aerospace vehicles in the atmosphere and in
space’’. Được tặng giải này trước hết
phải có những đồng nghiệp đề nghị, và sau đó
được một ủy ban chọn lựa và vì mỗi năm chỉ chọn
một người nên cái hy vọng nhận đưọc huy chương
này thật không bao giờ đến vói ý tưởng tôi. Ở xã
hội này, mỗi ai nhận được huy chương cao nhất ở
một chuyên môn nào thì thường là được choàng vào
cổ lần đầu tiên ở trên bục danh dự. Sau đó nếu
bộ môn được nhiều người hâm mộ, như thường thấy
ở các môn thể thao, thì lần thứ hai lực sĩ tự
choàng huy chương vào cổ là để chụp tấm hình bán
cho báo chí hay để in trên những hộp ngũ cốc ăn
sáng. Danh dự nhận được, nay đem ra thương mại
hoá. Dĩ nhiên là tấm huy chương tôi nhận được
không có giá trị thương mại, mà chỉ hoàn toàn về
tinh thần. Nhưng tôi nghĩ sẽ có một ngày tôi
choàng lại vào cổ để tới dự liên hoan với hàng
trăm, hàng ngàn tuổi trẻ Việt ly hương khác, lúc
đó cũng đạt được những thành tích hơn người ở
mọi ngành và nhất là được quốc gia này công nhận.
Như ở trên tôi đã nêu lên nhiều gương sáng thành
công của dân tộc chúng ta là những con Rồng cháu
Tiên nhưng tôi vẫn còn thắc mắc trong lòng khi
thấy cộng đồng người Việt trên đất này chưa có
tiếng nói đưọc lắng nghe trên bình diện quốc gia.
Chỉ khi nào lời nói của cộng đồng người Việt
được chính quyền chú ý, trong hàng ngũ lãnh đạo
công và tư trên giải đất này có những khuôn mặt
gốc Lạc Hồng quen thuộc, thì lúc đó mới là mốc
thời gian để chúng ta tưng bừng mở hội liên hoan.
Để đạt được mục đích đó, chúng ta cần đến sự cố
gắng thêm nữa và sự tiếp tay của các bạn trẻ. Đó
là những điều tôi thường nhắc nhở các bạn trong
những lần đi nói chuyện và giờ đây tôi rất vui
mừng thấy xuất hiện những khuôn mặt trẻ trong
hàng ngũ lãnh đạo cộng đồng.
Tuy
không dậy nhiều kỹ sư gốc Việt nhưng tôi đã gặp
rất nhiều chuyên gia trẻ thuộc thế hệ thứ hai
của chúng ta đang làm trong các cơ quan chính
phủ liên bang và tiểu bang và ở mọi ngành kỹ
nghệ ở các nơi và tôi đã thật vui mừng khi thấy
các bạn còn lưu tâm tới cội nguồn. Do sự vận
động của các kỹ sư người Việt tại Lyndon B.
Johnson Space Center, viết tắt là JSC, tại
Houston ở Texas, trong tuần lễ vinh danh sự đóng
góp của những người Mỹ gốc Á châu, vào ngày 8
tháng Chín năm 1989, ba khoa học gia gốc Việt đã
được ghi tên vào Bảng Danh Nhân Mỹ Gốc Á (Asian
Pacific American Hall of Fame) ở Trung Tâm Không
Gian này. Theo tin đưa ra từ ban giám đốc, hình
ảnh và thành tích họat động của phi hành gia
không gian tiến sĩ Eugene Trinh thuộc JPL, giáo
sư Nguyễn Hữu Xương thuộc Đại Học California ở
San Diego và giáo sư Nguyễn Xuân Vinh thuộc Đại
Học Michigan, đã được trình bầy tại Trung Tâm
Khách Thăm Viếng trong một tuần lễ và sau đó
những tấm bích chương được tàng trữ làm tài liệu
tại thư viện của JSC. Không cứ riêng với những
người gốc Việt ở Hoa Kỳ, được coi như là sắc tộc
mới thành lập thế hệ đầu tiên di cư, những người
gốc Á châu khác như Hoa, Nhật, Ấn, Phi, vân vân
... dù đã đến lập nghiệp ở xứ này từ lâu đời, họ
cũng phải đợi đến cuối thế kỷ vừa qua mới vận
động thành công để Quốc Hội Hoa Kỳ ra sắc luật
dành tháng Năm của mỗi năm là tháng để vinh danh
những người dân Mỹ gốc Á, cũng như tháng Hai đã
được chính thức công nhận từ lâu để vinh danh
những người da đen.
Từ mấy năm nay, tuy ở các công sở liên bang hay
tiểu bang, và ở một số hãng kỹ nghệ lớn vẫn có
những ngày đặc biệt trong tháng Năm dành để vinh
danh sự đóng góp của những người gốc Á châu
nhưng sắc tộc Việt Nam vẫn chưa nổi bật lên vì
nói chung địa vị trong xã hội của mình vẫn còn
khiêm nhường. Ngày 7 tháng Năm năm 1990 là một
ngày đáng ghi nhớ cho những người Mỹ gốc Á vì
trong một buổi lễ làm ở Vườn Hồng ở toà Bạch Ốc,
Tổng Thống George Bush đã ký quyết định từ nay
tháng Năm được chính thức là ‘‘Asian
Pacific American Heritage Month’’,
nghĩa là tháng Truyền Thống của những người gốc
Á châu và miền Thái Bình Dương. Cùng với nhà
cách mạng và hoạt động chính trị là bác sĩ
Nguyễn Tôn Hoàn tôi có may mắn được mời dự buổi
lễ lịch sử này. Ngoài hai chúng tôi còn ba người
đồng hương khác, tổng cộng là 5 người, so với
tổng số khách gốc Á châu được mời dự lễ giới hạn
là 200 người thì thật là ít ỏi. Tính theo sự
kiểm tra dân số vào năm ấy, cộng đồng người Việt
có ước lượng vào khoảng gần một triệu người thì
chúng ta phải có chừng 20 người được mời dự buổi
lễ mới phải. Sau buổi lễ còn có phần thuyết
trình của một vài nhân vật cao cấp trong chính
phủ, và trong khi chờ đợi, tôi đã gặp và nói
chuyện và cùng một lúc nhận ra được một số danh
nhân Á châu hiện diện.
Có những
người như Trung Tướng William S Chen, Cục Trưởng
Cục Quân Y Không Quân, Đô Đốc Ming E Chang, Tư
Lệnh Hạm Đội Thái Bình Dương, giáo sư Đại Học
Chicago Subrahmanyan Chandrasekhar, khôi nguyên
giải Nobel vật lý học mà tên tuổi đã được lưu
vào hậu thế khi mới đây, kính viễn vọng thường
trực trên không gian, sau khi phóng vào vũ trụ,
đã được đặt tên là Chandra, có những người như
nhạc sĩ đại hồ cầm Yo-Yo Ma, nữ minh tinh màn
ảnh Nancy Kwan, dân biểu Norman Y Mineta, sau
này thành bộ trưởng và tên ông được đặt cho phi
trường quốc tế ở San Jose, bang California, và
còn nhiều người khác tên tuổi và thành tích sáng
chói, làm tôi thấy phải nhận rằng trong thành
phần thiểu số người Mỹ gốc Á vào thời điểm ấy,
tức là mới mười lăm năm sau ngày ly hương và di
cư sang Hoa Kỳ, sự đóng góp của người mình vẫn
chưa nổi bật.
Từ ngày
đó, trong những dịp gặp gỡ và nói chuyện với học
sinh, sinh viên và thanh niên Việt ở khắp mọi
nơi tôi đã khuyến khích các bạn không nên tự mãn
về thành tích đã đạt được của mình mà phải luôn
luôn học hỏi, cố gắng không ngừng. Các chuyên
gia Việt ở mọi ngành, như cũng đã ý thức được sự
hợp đoàn để có sự hiện diện đặc thù của con cháu
Lạc Long trong liên minh Á châu, nên đã tranh
đấu để dành chỗ cho người mình đến làm diễn giả
ở những ngày lễ truyền thống hàng năm được tổ
chức vào tháng Năm như đã được quy định bởi sự
ký kết của Tổng Thống Hoa Kỳ.
Riêng tôi đã
được mời tới làm diễn giả danh dự ngày lễ năm
1994 tổ chức tại Ủy Ban Điều Hợp Nguyên Tử Lực
Hoa Kỳ tại đại bản doanh ở Maryland và ngày lễ
năm 2001 của Hãng DuPont tổ chức ở Đại Học
Delaware. Những lần mời này đều do đề nghị của
chuyên gia người Việt lên ban tổ chức vì thật ra
công việc làm của tôi không liên hệ gì đến
nguyên tử lực hay kỹ nghệ hoá chất để được giới
lãnh đạo của các cơ quan nói trên biết tới.
Trong những lần nói chuyện của tôi mà nếu phần
lớn thính giả là người Hoa Kỳ thì tôi thường
nhắc đến lời nói của mục sư tiến sĩ Martin
Luther King Jr. rằng: ‘‘Everybody can be
great because everybody can serve’’ để nhấn
vào điểm là dù cho sự đóng góp cuả cộng đồng
người Việt còn ít ỏi nhưng vì chúng ta có giầu
thiện chí nên cũng có thể coi như là đáng kể.
Từ
mấy năm nay tôi chỉ làm cố vấn về kỹ thuật cho
mấy chương trình khảo cứu và nhận lời dậy những
khoá học ngắn cho một vài cơ quan ở nước ngoài.
Vì đã bớt được áp lực phải đăng bài khảo cứu,
tôi có nhiều thì giờ hơn để giúp cho mấy Hội
Khuyến Học ở một vài nơi mà tôi đã tham gia như
là một cố vấn. Chúng ta đã sống ly hương được
quá một phần tư thế kỷ, và thế hệ con cháu đời
thứ hai, và tiếp nối đã bắt đầu nhập cuộc.
Là những
người đi tiên phong, cùng với nhiệm vụ mở đường,
chúng ta cũng cần hướng dẫn cho thế hệ đi sau
theo cho đúng hướng và không có gì quan trọng
hơn là làm cho con cháu nhớ đến cội nguồn, giữ
cho tiếng Việt được bảo tồn đời đời ở hải ngoại.
Để đóng góp vào sáng tác văn học Việt ở một xứ
văn minh nhất trên thế giới, và để cung cấp thêm
tài liệu đọc tiếng nước nhà cho các bạn trẻ,
tôi đã soạn xong một cuốn sách đề là ‘‘Vui
Đời Toán Học’’, với mục đích
quảng bá đến mọi người rằng toán học không phải
là một môn học khô khan mà lại cần thiết cho đời
sống của con người, và tôi đã tìm thấy nguồn vui
trong môn học này trong một thời gian dài hơn
một nửa thế kỷ. Bài viết này là bài mở đầu cho
cuốn sách. Cùng một lúc với mấy dòng chữ kể sơ
qua cuộc đời tầm học của tôi, tôi đã nhắc tới
những thành tích đóng góp vào sự mở mang phồn
thịnh ở xứ này của những người đồng hương với
nỗi vui mừng rằng cộng đồng Việt ở hải ngoại
đang ở trên đà tiến triển mạnh mẽ.
Rồi
đây, trải hương thơm theo gió, chúng ta sẽ đưa
đến khắp nơi trên giải đất này những vẻ đẹp
trong truyền thống văn hoá của quê hương.
|
|