| |
Định
cư ở Na Uy hơn ba năm, sau khi ổn định công việc
làm ăn và việc học hành cho mấy đứa con, tôi tổ
chức một chuyến Âu du bằng xe hơi. Chiếc xe Ford
của tôi vừa cũ kỹ vừa nhỏ, không thể nào vượt
qua một chặng đường trên dưới bảy ngàn cây số,
và dĩ nhiên cũng không đủ chỗ cho một gia đình
lớn nhỏ tám người.
Lại nghe mấy người bạn tới trước “hù”, bảo là
trên xa lộ Âu châu vào mùa hè, chạy một cái xe
cũ có thể bị giữ lại giữa đường và nộp tiền phạt
vì cái tội làm trở ngại giao thông. Tôi mướn một
cái xe mới toanh mười hai chỗ ngồi, có máy lạnh
và kính mát đàng hoàng. Tôi không muốn bất cứ
điều gì làm mất cái hứng thú cho cuộc hành trình
đầu tiên của chúng tôi trên những đất nước mà
trước đây tôi đã từng một thời mơ ước nhưng
chẳng bao giờ nghĩ là có một ngày được đi qua.
Tôi và đứa con trai lớn vừa mới đủ tuổi lấy bằng
lái xe thay nhau làm tài xế. Bà xã và cô con gái
lớn chịu trách nhiệm xem bản đồ và theo dõi lộ
trình.
Tuần lễ đầu tiên, chúng tôi rất thích thú khi đi
qua những vùng đất xa lạ, mà ngày trước tôi chỉ
biết mơ hồ qua sách vở. Sau một ngày, băng qua
hai đất nước hiền hòa Thụy Điển, rồi Đan Mạch,
chúng tôi sang Hamburg, thành phố lớn cực bắc
của Tây Đức. Thời gian này nước Đức còn chia đôi,
nên vừa mới đến ranh giới là không khí đã căng
thẳng. Cảnh sát với súng ống đầy người, trông
mặt người nào cũng đằng đằng sát khí làm tôi nhớ
tới hình ảnh của Hitler trong bộ phim dài chiếu
mỗi tuần trên truyền hình Nauy. Vừa mới thoát ra
cảnh chiến tranh tù đày ở quê nhà, lại được định
cư tại một quốc gia ban phát giải Nobel Hòa Bình,
tôi không muốn phải ngộp thở trên quê hương của
ông Hitler, nên sau khi qua khỏi Frankfurt, tôi
rẽ sang Hòa Lan.
Một đất nước nghe như huyền thoại: nằm dưới mặt
nước biển trung bình, có một con đập dài nhất
thế giới, cũng là một xa lộ băng qua biển. Chạy
xe trên con đập này, tôi cứ ngỡ mình đang lái
tàu chạy giữa biển khơi. Xứ sở của hoa tulip,
với những chiếc quạt gió cùng những con kênh đào
thơ mộng. Ở thủ đô Amsterdam, có một nơi dành
cho những người nghiện đến nhận thuốc phiện miễn
phí của chính phủ; nguyên cả một khu phố lớn dọc
theo bờ sông thơ mộng lại là một khu dành cho
mấy cô gái điếm đủ sắc dân. Đây là một cơ sở
kinh doanh, có đóng thuế cho nhà nước, nên được
cảnh sát bảo vệ. Trước mỗi nhà là một cái tủ
kiếng, bày hàng thật cho khách bốn phương chiêm
ngưỡng. Hàng thật là một hay hai cô gái thoát y,
dĩ nhiên phải là đẹp, đứng như những pho tượng
nữ thần Hy lạp. Chúng tôi ghé thăm gia đình mấy
ngưòi bạn cùng quê, sống rải rác khắp nơi. May
mà đất nước Hòa Lan này không rộng lắm, lái xe
từ bắc xuống nam chỉ mất khoảng bốn tiếng đồng
hồ. Dừng lại nhà một người bạn ở Bergen op Zoom,
thành phố biển phía nam chúng tôi tha hồ ăn sò
huyết và những con “hàu”. Mấy loại này ở đây chỉ
cần lội xuống biển mười phút là mang lên cả
thùng nướng ngay tại chỗ. Hôm sau, chúng tôi
sang Bỉ, Lục Xâm Bảo, và cuối cùng đến Pháp.
Điểm đến cuối cùng cũng là nơi quan trọng nhất
mà chúng tôi muốn đến. Tôi dành một nửa thời
gian, hai tuần lễ còn lại, cho cái xứ sở mà lúc
còn nhỏ, khi học lịch sử thì tôi thù ghét, nhưng
khi học văn chương thì tôi lại mê thích nó. Nào
là tháp Eiffel bên dòng sông Seine tình tự, nào
là nhà thờ Notre Dame cổ kính mà tôi mơ hồ thấy
trong phim Thằng Gù ở nhà thờ Đức Bà, nào là
vườn Luxembourg, nơi hẹn hò của bao cặp tình
nhân. Chúng tôi ở trong khách sạn của một người
Hà Nội, sang Pháp lập nghiệp từ hơn năm mươi năm
trước. Khách sạn nằm trên con phố chính trong
quận 13, nơi có đông người Việt Nam sinh sống.
Hơn một tuần ở Paris, chúng tôi xuôi về miền Nam
nước Pháp. Thành phố Nice nằm bên bờ Địa Trung
Hải, gần thành phố Cannes, nơi qui tụ những tài
tử điện ảnh hằng năm, và không xa đất nước
Monaco với những sòng bài và những chuyện tình
nóng bỏng của mấy nàng công chúa. Mười ngày nằm
trên thành phố biển này, tôi tạm quên những bất
hạnh trong quá khứ và những gì đang xảy ra trên
quả đất có quá nhiều phiền muộn này.
Rời Nice, chúng tôi trở lại Paris trước khi về
Nauy. Trời mùa hè đang nóng, bà xã và mấy cô con
gái của tôi đề nghị chạy ban đêm, vừa cho mát
vừa được ngắm những thành phố rực rỡ trong ánh
đèn. Nhìn trên bản đồ, tôi thấy trên đường đến
thành phố Lyon, mình có thể dừng lại Grenoble
rồi rẽ sang Genève của Thụy Sĩ, xem thử nơi đã
cho ra đời cái hiệp định làm khốn khổ quê hương
mình ra sao. Như được trở lại thời trận mạc xa
xưa, tôi gọi cả bầu đoàn thê tử lại để ban bố “
lệnh hành quân”. Chúng tôi không đi theo xa lộ
85 mà chọn con tỉnh lộ nhỏ trực chỉ Grenoble.
Tôi đích thân xem bản đồ hướng dẫn cho cậu con
trai làm tài xế.
Rời Nice lúc 7 giờ tối. Sau hơn ba giờ từ “tuyến
xuất phát”, tôi mới biết là mình đã sai lầm khi
xử dụng con đường tắt này. Bởi chúng tôi bắt đầu
chạy qua một khoảng rừng và những đồng lúa mì
mênh mông, không thấy một bóng người. Đang mơ
màng thì nhìn thấy phía đầu xe bốc khói. Tôi ra
dấu cho đứa con trai dừng lại, bảo cả nhà xuống
xe gấp. Khói trước xe vẫn còn bốc lên mờ mịt.
Tôi tái mặt, vì bao nhiêu năm nay, từ lúc còn ở
Việt Nam cũng như sang đây, ngoài việc cầm
vô-lăng và đổ xăng ra tôi có biết gì về xe cộ
nữa đâu. Chờ cho khói tan hết và rờ vào nắp xe
thấy không còn nóng, tôi mở nắp xe lên bảo cậu
con trai rọi đèn pin vào máy nhìn thử. Đến đường
cùng thì làm như phản xạ tự nhiên vậy thôi, chứ
tôi có biết cái gì trong máy đâu mà xem. Nhìn
quanh một chặp, tôi cảm giác có điều gì lạ lạ.
Cuối cùng tôi mơí phát hiện là sợi dây cu-roa
không còn nữa. Nước trong bình đã bốc hơi không
còn một giọt. Thấy tôi xách đèn pin trở lại, bà
vợ và đám con gái đang nằm trên bờ ruọâng lúa mì,
ngồi bật dậy. Nghe tôi ra lệnh “đóng quân tại vị
trí” vì xe hư không biết khi nào mới chạy được,
bà vợ xỉ vả cho tôi một trận, bảo hèn chi ngày
xưa ông đánh giặc thua là phải, đừng có đổ thừa
tại tụi Mỹ nó phản bội bỏ miền Nam.
Tôi bảo đám đàn bà con gái lên xe nằm và khóa
cửa lại cẩn thận, vì biết đâu khu này có thú dữ.
Đàn bà coi dữ vậy chứ nhát gan, ríu rít tuân
lệnh. Tôi và thằng con trai đi vòng vòng xem có
nhà cửa gì không. Nhưng tất cả đều tối om, tĩnh
mịch. Đến gần một giờ sáng, khi tôi đang nằm mơ
màng trên ruộng lúa thì nghe có tiếng động.
Dường như là tiếng của một loại động cơ nào đó,
càng lúc càng gần hơn. Một lúc sau, tôi thấy có
ánh đèn từ khu ruộng lúa chay ra. Một chiếc máy
cày. Ai đi cày ruộng vào giờ này ? Chưa kịp tìm
câu trả lời cho thắc mắc của mình, chiếc máy cày
đã dừng lại trước mặt tôi. Qua ánh đèn xe, tôi
thấy một người đàn ông trẻ, có lẽ là người Pháp,
bước xuống tiến lại phía chúng tôi. Cử chỉ anh
ta không phải là một người gian. Tôi yên tâm.
Anh hỏi chúng tôi bằng tiếng Pháp, anh nói từng
chữ vì sợ chúng tôi không hiểu :
- Chắc là xe các anh bị hư ? Có cần tôi giúp
điều gì không ?
Lúc còn đi học, Pháp văn là sinh ngữ chính của
tôi. Vậy mà lâu quá không xử dụng, tôi hiểu
tiếng được tiếng mất, vừa trả lời vừa ra dấu :
- Xe tôi bị đứt dây cu-roa, khô hết nước, không
chạy được nữa.
- Các anh ở tỉnh nào tới ?
- Chúng tôi từ Na Uy sang, chứ không phải ở Pháp.
Trên đường từ Nice về, thì xe bị hỏng.
Anh bảo bây giờ đã khuya rồi, nhà anh cũng ở gần
đây, anh sẽ giúp chúng tôi kéo xe về nghỉ tạm,
rồi ngày mai sẽ tính. Tôi mừng rỡ gật đầu. Anh
ra dấu cho tất cả chúng tôi lên xe.
Chiếc máy cày kéo xe và chúng tôi chạy lòng vòng
chỉ khoảng mười phút thì về đến nhà. Trời tối,
tôi không thấy gì ngoài mấy cái nhà khá lớn nằm
dưới những tàng cây. Anh đưa chúng tôi vào một
gian phòng rộng, mang thêm vài tấm nệm và mấy
cái mền mỏng. Một chặp sau anh lại mang vào bánh
mì, phô- mát, và một ấm cà phê nóng, rồi chúc
mọi người ngủ ngon.
Lạ nhà, nhưng có lẽ vì mệt quá, nên khi chúng
tôi thức dậy thì trời đã sáng tự lúc nào. Kim
của chiếc đồng hồ lớn treo trên tường chỉ 8 giờ
10 phút. Mở cửa sổ nhìn ra ngoài, tôi mới biết
đây là một nông trại khá lớn. Chưa kịp gọi bà vợ
và mấy đứa con dậy xem, thì có tiếng gõ cửa. Anh
bạn trẻ tốt bụng tối hôm qua đến dắt tôi chỉ khu
nhà tắm, nhà vệ sinh, rồi dặn tôi khoảng 45 phút
nữa, anh sẽ trở lại đón chúng tôi ăn sáng.
Ngồi vào bàn ăn, anh giới thiệu vợ và hai đứa
con nhỏ. Cô vợ khá xinh, vui vẻ, lúc nào miệng
cũng cười, vừa nói vừa làm dấu với mấy đứa con
gái của tôi.
- Các anh là người Việt nam ? anh ta vừa bưng
tách cà phê vừa hỏi.
- Nhưng làm sao anh biết được vì ở Bắc Âu cũng
có nhiều người Tàu, người Đại Hàn, người Thái
Lan và cả người Nhật nữa? Tôi không trả lời mà
hỏi ngược lại anh.
- Tôi không nói được nhưng hiểu một ít tiếng
Việt. Bà ngoại tôi là người Việt Nam mà. Mẹ tôi
cũng sinh ra và lớn lên ở Việt Nam. Lúc còn sống
bà nhớ Việt Nam lắm và thường kể cho chúng tôi
nghe những thắng cảnh bên ấy. Đặc biệt, bà
thường nhắc đến một thành phố có tên là Đà Lạt.
Bà bảo nơi đó thật thơ mộng và có những nơi hò
hẹn thật dễ thương cho những cặp tình nhân. Tội
nghiệp, bà mới mất hơn hai năm nay, trong một
tai nạn xe hơi cùng cô em gái duy nhất của tôi.
Ăn điểm tâm xong, anh đưa chúng tôi vào thăm
phòng đọc sách. Một tấm bản đồ Việt Nam thật to
treo trên vách. Anh chỉ cho chúng tôi thành phố
Đà Lạt mà mẹ anh thường kể cho anh và cô em gái
nghe mỗi lần bà nhớ về quê mẹ.
Càng lúc chúng tôi càng thấy gần gũi và thân
thiết với gia đình anh bạn trẻ có một chút gốc
gác Việt Nam này. Anh bảo vợ anh đưa chúng tôi
đi thăm khu nuôi bò sữa và vắt đem về vài lít
sữa tươi để chúng tôi dùng thử, trong khi anh
lấy xe chạy ra phố tìm mua sợi giây cu-roa để
thay cho xe chúng tôi. Mấy cô con gái của tôi
rất thích thú khi được cô chủ nhà chỉ cho cách
vắt sữa bò. Sau đó chúng tôi vào thăm một vườn
nho.
Khi trở về, thì anh ta đã sửa xong cái xe và
đang cho máy nổ thử. Thấy chúng tôi, anh cười
đưa ngón tay cái lên báo hiệu là xe đã tốt. Anh
tắt máy xe và giao chìa khóa lại cho tôi. Tôi
chưa kịp trả tiền sợi giây cu-roa và nói lời cám
ơn thì anh đã vỗ vai mời chúng tôi ở lại chơi
với gia đình anh vài hôm. Anh bảo là lâu lắm anh
mới gặp được những người đến từ quê ngoại. Thấy
ông bà chủ hiếu khách, phong cảnh ở đây hữu tình,
lại có sẵn sữa tươi và rượu nho, bà xã và mấy cô
con gái cười nheo mắt nhìn tôi. Tôi hiểu ý và
nói với anh là chúng tôi chỉ có thể ở lại một
đêm. Trưa ngày mai chúng tôi phải lên đường.
Ăn cơm chiều xong, trời dịu mát, anh đề nghị
chúng tôi đi thăm khu vườn cam nằm trên ngọn đồi.
Vào vườn cam, chúng tôi có cảm giác như lạc vào
một chốn thiên thai nào đó. Những hàng cam thẳng
tắp, trĩu vàng những quả, mùi hoa cam toả ra
thơm cả một góc trời. Giữa vườn cam là một công
viên nhỏ, trồng đủ các loại hoa. Bên kia công
viên, ngay giữa đỉnh đồi là khu nghĩa trang nhỏ
của gia đình. Vợ chồng anh mời chúng tôi đến
thăm mộ của ba má anh và cô em gái. Ba ngôi mộ
xây đơn giản, nhưng lại có nét đẹp cổ kính. Trên
mỗi mộ bia đều có một tấm ảnh lồng trong khung
kiến. Đến trước từng ngôi mộ, tôi cung kính cúi
đầu, chấp hai tay trước ngực và đọc thầm từng
tên khắc đậm trên bia. Khi đọc đến tên người mẹ:
JACQUELINE CUVÉRO GAULTIER - tôi bỗng giật mình.
Cái tên này tôi thấy quen quen. Bà mất lúc tròn
50 tuổi. Nhìn tấm ảnh thật lâu, tôi nghĩ đến một
người.
Khi về nhà, tôi ngỏ ý muốn xem những tấm ảnh lúc
cha mẹ anh còn trẻ. Anh bạn chủ nhà mang đến cho
chúng tôi mấy quyển album. Bà xã và mấy cô con
gái thì tranh nhau xem quyển album lúc ông bà
làm đám cưới và nức nở khen mấy cái áo của cô
dâu. Riêng tôi dành lấy tập album cũ với những
tấm ảnh đen trắng mà nhiều cái đã ngã màu vàng.
Bỗng tôi lạnh người khi xem những tấm ảnh của mẹ
anh thời con gái, đặc biệt là tấm ảnh có mái tóc
cắt ngắn giống ca sĩ Sylvie Vartan thời cô ta
đang nổi tiếng. Chẳng lẽ lại là nàng ? – Không
thể nào ! Tôi lắc đầu nói thầm trong miệng.
******
Năm học lớp đệ nhất trường Võ Tánh, Nha Trang,
dù học không giỏi nhưng tôi cũng cố gắng để được
trở thành một thằng sinh viên, dù chỉ là loại
sinh viên hạng bét, và cũng để khỏi phụ lòng
thương yêu, lo lắng của cha tôi, suốt một đời
làm gà trống nuôi con. Vậy mà tôi bị một lúc hai
cái tai ương. Tự dưng có một nàng con gái, mà
lại là con gái đẹp, yêu tôi. Đang ngụp lặn trong
tình yêu thì ông Trời phạt tôi : phận nhà nghèo
mà lại đèo bồng yêu người đẹp, nên giáng cho tôi
một cơn bệnh thập tử nhất sinh. Vì vậy khi bạn
bè vác lều chỏng đi thi, thì tôi đang nằm bất
động ở nhà thương tư của bác sĩ Thạch ở đường
Trần Quí Cáp. Ba tháng sau, khi vừa xuất viện về
tiếp tục điều trị tại nhà, tôi nhận được bức thư
tạ từ. Người đẹp đi lấy chồng. Tôi bỏ thành phố
Nha Trang, bây giờ với tôi là thành phố buồn,
vào Sài gòn lang thang kiếm việc làm thuê để có
tiền đi học tiếp. Học được ba năm thì tôi vào
lính.
Khi chân ướt chân ráo vào Sài Gòn, tôi chẳng có
ai quen, ngoài một bà cô họ xa, trước lấy chồng
Tây. Chồng chết, bà ở với mấy đứa con mang hai
dòng máu ở sau khu tiệm phở Tàu Bay, Tàu Thủy,
trên đường Lý Thái Tổ. Tôi không ngờ trong khu
này đa số là những gia đình có con lai Pháp,
trắng có đen có, được toà đại sứ Pháp cưu mang
lo lắng từ việc sinh sống tới việc học hành. Hầu
hết đều mang quốc tịch Pháp và được theo học ở
các trường Tây Sài Gòn, Đà Lạt. Những ngày cuối
tuần tôi thường ghé lại đây chơi. Đang cô đơn
ngơ ngác thì được mấy người con của bà cô họ
giới thiệu cho tôi nhập bầy với đám Tây lai này.
Họ cũng dễ thương và dĩ nhiên là có phong cách
tây lắm. Chiều cuối tuần họ thường tụ tập để ăn
uống và nhảy đầm. Anh con cả của bà cô họ tôi là
trưởng nhóm, chỉ định một cô bé tóc vàng, có mái
tóc ngắn và đôi mắt thật dễ thương dạy tôi nhảy
đầm và cũng làm partner cho tôi khi có tiệc tùng.
Nghe mọi người trong nhóm gọi cô là Sylvie
Vartan, tôi cũng gọi theo, nhưng biết vì khuôn
mặt và mái tóc của cô giống người ca sĩ Pháp
đang được ái mộ này nên bè bạn gọi đùa, chứ đó
không phải là tên thật của cô.
Chỉ đi chơi với nhóm một vài lần gì đó, thì tôi
vào quân trường Thủ Đức. Hôm lễ gắn alpha, thấy
anh em mời thân nhân bạn bè nhiều quá, tôi cũng
tủi thân. Gia đình tôi và một số bạn bè thân ở
tận Nha Trang, còn ở Sài Gòn này thì tôi tứ cố
vô thân. Cuối cùng tôi nghĩ đến ba người con lai
Tây của bà cô họ và mời họ đến dự lễ gắn alpha,
rồi sau đó cùng đi dự tiệc với tôi. Hôm ấy cả ba
người đều đến và còn dẫn theo nàng con gái
Sylvie Vartan. Họ rất thích thú với khung cảnh
quân trường và sinh hoạt của lính. Ai cũng chụp
chung với tôi một tấm ảnh có mang cầu đai alpha.
Sau đó, trong những lần về phép ngắn ngủi, tôi
cũng có ghé thăm họ một đôi lần. Đêm ra trường,
họ cũng đến dự. Sau đó đưa tôi về Sài Gòn, họ
làm một buổi tiệc chia tay tôi, và lần này tổ
chức tại nhà cô gái có tên Sylvie Vartan. Gia
đình cô không ở trong khu Lý Thái Tổ mà có một
biệt thự riêng, khá xinh, nằm trên một con hẻm
lớn trên Tân Định.
Tôi không gặp ai trong gia đình của cô hôm ấy,
chỉ xem tấm ảnh người cha ruột của cô chụp với
mẹ cô khi còn rất trẻ, và cả tấm ảnh chụp gia
đình cô bây giờ, với ông cha Việt Nam, một người
em gái cũng lai Tây như cô và hai người em nhỏ
cùng mẹ khác cha. Mẹ cô có nhan sắc, nên ông
chồng mới sau này thuộc lọai nhà giàu. Tôi nghĩ
như thế.
Tới hơn hai giờ sáng tiệc mới tàn. Khi nói lời
chia tay, không hiểu vì xa họ không biết khi nào
gặp lại hay vì nghĩ đến đời lính chiến nay mai
trên rừng núi cao nguyên mà tôi chạnh lòng, muốn
khóc. Nàng cũng nhìn tôi nghẹn ngào. Khi mọi
người đi tìm áo khoác và mang giày, nàng kéo tôi
ra phía sau, tặng tôi một tấm ảnh, rồi bất ngờ
hôn tôi trên má.
Ngồi trên máy bay ra trình diện đơn vị, bất chợt
nhớ đến nàng, tôi mở xách tay ra tìm tấm ảnh.
Nàng có mái tóc thật dễ thương, nhìn kỹ đúng là
giống cô ca sĩ Sylvie Vartan. Sau tấm ảnh nàng
viết một câu ngắn ngủi : À toi, avec tout mon
coeur. Phía dưới cô chỉ ghi là người có mái tóc
Sylvie Vartan
Nhớ tới nụ hôn bất ngờ tối hôm qua, tôi đưa tay
lên sờ má, thấy vẫn còn thoang thoảng một mùi
hương. Tôi mỉm cười và nói thầm một mình : Đúng
là lãng mạn như Tây.
Tôi ra đơn vị đúng vào lúc chiến trưòng cao
nguyên bắt đầu sôi động, cùng lúc nhóm người
Thượng Fulro nổi loạn, giết một số sĩ quan, viên
chức hành chánh người Kinh, chiếm một vài nơi,
đặc biệt là tỉnh Quảng Đức và một vài quận lỵ.
Đơn vị tôi đang tiếp viện cho chiến trường Quảng
Nhiêu còn mịt mờ lửa đạn ở bắc Ban Mê Thuột thì
được lệnh di chuyển về phi trường Phụng Dực, xử
dụng máy bay dân sự của hàng không Việt Nam để
đáp xuống Nhơn Cơ, một phi trường bỏ hoang nằm
cách tỉnh lỵ Quảng Đức khoảng ba mươi cây số, do
một đơn vị Lực Lượng Đặc Biệt mũ xanh của ta
kiểm soát. Thằng trung đội trưởng mới ra trường
như tôi làm sao có khả năng để ứng phó với một
chiến trường nửa ta nửa địch, mà trong sách vở
quân trường không hề nói tới. Lòng tôi thật băn
khoăn. Nhưng cuối cùng thì mục tiêu cuộc hành
quân Dân Thắng này cũng đạt được. Đơn vị tôi
không hề tốn một viên đạn. Mấy lãnh tụ người
Thượng thấy quân chủ lực bao vây bốn hướng, cộng
với lời thuyết phục tài ba của vị chỉ huy nào đó,
đã ra lệnh cho những lực lượng người Thượng
buông súng.
Nằm trong cái tỉnh khỉ ho cò gáy mà dân chúng
sống rải rác trong các buôn làng hầu hết là
người Thượng, mấy thằng lính trẻ như tôi chỉ có
buồn muốn khóc. Ai cũng mong sớm chuyển đi tỉnh
khác Vậy mà riêng tiểu đoàn của tôi được lệnh
nằm lại đây để giữ an ninh cho dinh điền Đạo
Nghĩa nằm trong một thung lũng gần biên giới Cam
Bốt. Một trong những dinh điền do tổng thống Ngô
đình Diệm sáng lập vừa để thu hút di dân sau
1954, vừa là một trọng điểm chiến lược.
Ra trường đã hơn hai năm. Đời lính cao nguyên
thật là vất vả và buồn. Nhiều lúc nằm giữa rừng
già, nghe tiếng chim kêu vượn hú, tôi thường
chạnh lòng nhớ tới thời còn đi học, và khuôn mặt
những người quen. Đôi khi tôi cũng chợt nhớ tới
cô con gái lai Tây và lấy tấm ảnh ra xem. Đến
bây giờ tôi cũng không biết tên thật của nàng.
Mà biết để làm gì. Vì giữa nàng với tôi là cả
một thế giới cách biệt. Tôi, một thằng lính trận,
gốc gác nhà nghèo, không biết sống chết ra sao.
Còn nàng lại là một cô con gái lai Tây, xinh đẹp
và quí phái. Nàng quen với tôi, thích tôi một
chút, cũng là cái thích lãng mạn của một tiểu
thư sống trong thành phố lâu ngày được bất ngờ
ra thăm một vùng dân giả, thế thôi.
Ở Quảng Đức gần hai năm, đánh nhau một vài trận,
tôi được mấy cái huy chương rồi lên làm đại đội
trưởng. Trong mấy thằng đại đội trưởng, tôi là
thằng trẻ nhất, và cũng nghèo kinh nghiệm chiến
trường nhất. “Ra trường gần hai năm rồi mà trông
mày vẫn cứ như thư sinh”. Ông tiểu đoàn trưởng
bảo tôi như thế trước khi cho tôi dẫn đại đội
“solo” xuống núi biệt phái cho Tiểu khu Lâm Đồng
Đoàn xe chở đại đội tôi vừa vào ranh giới Lâm
Đồng, tôi nhận lệnh ông tiểu khu trưởng, trực
chỉ đến khu cầu Đại Ngà để giữ an ninh cho công
binh làm lại mấy cây cầu trên quốc lộ 20, từ Sài
Gòn chạy lên Đà Lạt, vừa bị VC giựt sập hai đêm
trước.
Đến vị trí, tôi phối hợp với một đại đội địa
phương quân đã có mặt tại chỗ và một đơn vị công
binh mới từ Đà Lạt xuống, bố trí quân theo nhu
cầu. Riêng ban chỉ huy đại đội cùng trung đội vũ
khí nặng nằm trên một đồn điền trà có cao độ tốt
cho việc phòng thủ và yểm trợ hỏa lực. Phía duới
khu đồn điền này là cầu Đại Ngà, cây cầu dài
nhất vừa bị phá hoại.
Sau khi công binh làm xong mấy cái cầu tạm, lưu
thông họat động trở lại. Do ứ động mấy hôm trước,
nên ngày đầu tiên có khá nhiều xe đò từ Sài Gòn
chạy lên Đà Lạt. Hơn nữa bây giờ đang là mùa hè,
người Sài Gòn rủ nhau lên Đà Lạt nghỉ mát. Để
bảo đảm an ninh, trước khi xe chạy vào khu quân
sự, đều phải dừng lại, tất cả hành khách xuống
xe để được kiểm soát giấy tờ. Trạm kiểm soát là
một căn nhà bằng ván do công binh vừa mới dựng
lên, toán quân báo của đại đội tôi phối họp cùng
với ba nhân viên cảnh sát đảm trách. Mỗi ngày
tôi lái xe đi kiểm tra các cây cầu và thường ghé
lại ngồi nghỉ trong trạm kiểm soát này.
Buổi chiều, trời vừa tắt nắng, tôi định trở về
vị trí đóng quân, thì một đoàn xe đò chạy tới.
“Có lẽ đây là mấy cái xe cuối cùng từ Sàigon lên”.
Anh cảnh sát bảo với tôi như thế. Trong số những
hành khách xuống xe bước qua cái cổng chắn làm
bằng kẻm gai dã chiến, tôi để ý tới một cô gái
tóc vàng, mặc một cái jupe màu vàng sậm. Khi cô
móc ví lấy giấây tờ, ngước mặt lên nhìn anh cảnh
sát, tôi thấy thật quen và vội chạy ra
- À, cô Sylvie Vartan, cô lên đây làm gì ?
Tôi hỏi bất ngờ, rồi quay sang bảo anh cảnh sát
: cô này là người nhà của tôi. Anh cảnh sát trao
lại cho tôi tấm thẻ căn cước bằng tiếng tây mà
anh chưa kịp hiểu.
Cô nhìn tôi cười rạng rỡ :
- Anh là anh Ninh, phải không ? Mấy năm rồi tụi
mình không gặp. Em lên Đà Lạt đón cô em về Sài
Gòn nghỉ hè. Nó học trên Lycée Domaine de Marie
- Tôi đóng quân trong đồn điền trà nằm trên đồi
cao kia. –Tôi vừa nói vừa chỉ tay về hướng đồn
điền -. Đẹp lắm, và ông chủ hình như cũng là
người Pháp. Mời cô ghé lại chỗ tôi chơi. Tôi sẽ
đón chuyến xe sau gởi cô về Đà Lạt.
Cô ngần ngừ một chút rồi gật đầu. Tôi đưa cô lại
xe lấy túi hành lý và nói với anh tài xế:
- Cô này là người nhà của tôi, cô ở lại đây chơi
với tôi rồi lên Đà Lạt sau.
Anh tài xế trẻ, nhìn tôi nhoẻn miệng cười.
Tối hôm ấy nàng ở lại với tôi. Có lẽ nàng cũng
biết là chuyến xe của nàng là chuyến cuối cùng.
Chẳng còn có chuyến sau nào để tôi gởi nàng lên
Đà Lạt, như lúc tôi hăm hở nói với nàng, mà
không biết là mình đang nói dối.
Giữa cảnh núi rừng, nàng đẹp rực rỡ như một bông
hoa. Không biết nàng đã nói gì vơí ông chủ người
tây, ông dành riêng cho cô một phòng ngủ và mời
chúng tôi dùng bữa cơm chiều với ông. Bữa cơm
đầy đủ hương vị tây, mà chai rượu chát ông khoe
đã gởi mua từ bên Pháp. Sau bữa cơm, tôi đưa
nàng đi dạo trong đồn điền trà.
Bây giờ đang là mùa hè, bầu trời trong vắt, ánh
trăng tỏa vàng xuống cả một đồi trà. Đêm cao
nguyên trời bắt đầu lành lạnh, thơ mộng như một
muà thu. Chúng tôi nắm tay nhau bước tung tăng
dưới ánh trăng, nghe từng nhịp đâp của trái tim
giữa một vùng đất trời tĩnh mịch. Nàng kể cho
tôi nghe về một ước mơ của nàng : muốn có lần
trở về quê cha, thăm ngôi mộ của người và bà nội
già còn đang sống ở đó với mấy người cô. Quê nội
nàng đẹp lắm lại là một đất nước với nhiều thi
ca lãng mạn. Chúng tôi đã xuống cuối chân đồi,
nghe tiếng nước chảy từ một con suối nhỏ. Nàng
bảo tôi dừng lại và dìu tôi đến ngồi xuống một
bãi cỏ. Bên kia con suối là một cánh đồng cỏ
rộng mênh mông
- Anh có thấy gì lạ không ?
Tôi đang ngơ ngác, thì nàng chỉ cho tôi mấy hàng
cây bên kia bờ suối
- Bây giờ là mùa hè, mà sao có nhiều lá vàng
đang rơi. Anh không thấy sao?
Nàng âu yếm dựa sát vào tôi và hỏi tôi có biết
bài thơ Les feuilles mortes của Jacques Prevert
không ?
- Lúc học Littérature francaise, anh có học,
nhưng lâu quá, anh chỉ còn nhớ một đôi câu. Bài
thơ thật hay và cảm động.
Tôi đã đổi cách xưng hô tự lúc nào không biết.
Nàng cất tiếng khe khẽ hát bài thơ Les Feuilles
Mortes được phổ nhạc. Hát xong bài hát nàng chậm
rãi đọc lại mấy câu :
Mais la vie sépare ceux qui s’aiment Tout
doucement, sans faire de bruit Et la mer efface
sur le sable Les pas des amants désunis. Tôi hỏi
sao nàng dám đổi lời một bài thơ hay của tác giả.
Nàng không trả lời mà ôm tôi hôn thật lâu. Trong
say mê tôi cảm thấy có cái gì lành lạnh trên gò
má. Tôi sờ tay lên mân mê: nước mắt.
Nàng ôm tôi ngồi khóc, nàng bảo là nàng có nhiều
bạn bè, nhưng nàng có cảm tình thật nhiều với
tôi từ khi nhìn tôi mặc áo lính. Nàng thấy ở tôi
có cái gì khác lạ so với mọi chàng trai lai Pháp
mà nàng quen. Và cũng ở nơi tôi nàng được thấy
lại hình ảnh của cha nàng. Cũng làm lính cả một
thời trai trẻ, rời quê hương, rồi chết sớm ở xứ
người bỏ laị mẹ và hai chị em nàng.“Những người
con gái mang hai dòng máu. Buồn lắm phải không
anh ?” mấy lần nàng hỏi tôi như thế.
Đêm hôm ấy nàng không ngủ trong căn phòng sang
trọng mà ông chủ đồn điền đã dành sẵn cho nàng.
Nàng ra ngồi trong căn lều phủ poncho của tôi
cùng uống trà tươi mà tâm sự thâu đêm. Nàng rủ
tôi ngày mai cùng nàng lên Đà Lạt vài ngày để
nàng làm thủ tục đón cô em gái về và đưa nàng đi
thăm các thắng cảnh thơ mộng ở đây.
Sáng hôm sau, tôi lên máy gọi về trung tâm hành
quân tiểu khu Lâm Đồng gặp ông tiểu khu trưởng,
xin ông cho ba ngày phép và được xử dụng chiếc
xe jeep của TK biệt phái, đón người vợ sắp cưới
vừa mới lên Đà Lạt. Tôi tả oán thêm là cả một
năm nay, phải tham dự nhiều cuộc hành quân, nên
hai đứa chưa được gặp nhau. Ông tiểu khu trưởng
tốt bụng, vui vẻ chấp thuận, và dặn dò tôi phải
bàn giao công việc thật kỹ càng cho anh đại đội
phó.
Ba ngày ở Đà Lạt là ba ngày thần tiên nhất trong
đời lính của tôi. Sau khi đưa nàng đến trường
thăm cô em gái và làm một số thủ tục cần thiết,
chúng tôi lấy phòng ở khách sạn Palace nằm trên
một ngọn đồi cao gần hồ Xuân Hương và cách khu
phố Hòa Bình không xa lắm. Ban ngày chúng tôi đi
tắm ở thác Cam Ly, thăm hồ Than Thở, cởi ngựa ở
sân Cù, bơi thuyền trên hồ Xuân Hương. Buổi tối
đi ăn bê thui, uống rượu vang, rồi ra nhà Thủy
Tạ ngồi tâm tình đến khuya. Ngày hôm sau, chúng
tôi rời thành phố. Sau khi thuởng thức cà phê
Tùng, chúng tôi chạy về hướng thác Prenn. Nàng
chỉ đường cho tôi tìm đến một hotel nằm trên núi,
ông chủ cũng là một người Tây. Lấy phòng và gởi
hành lý xong, chúng tôi đi bộ xuống thác Prenn,
nằm không xa phía dưới. Nàng kéo tôi xuống tắm
dưới dòng thác. Hai đứa ôm nhau trong cái lạnh
của nước từ trên núi cao đổ xuống. Nàng dắt tôi
chạy vào khu rừng phía sau để đùa với mấy con
khỉ, con gấu và cả một con cọp nữa trong vườn
bách thú. Rồi nàng đi trốn, giả vờ làm nàng Jane
mắc nạn để bắt tôi làm Tarzan đi cứu. Nàng hò la
và ôm tôi cười vang cả một khu rừng.
Trong ba ngày, nàng đã cho tôi tất cả những gì
hạnh phúc nhất mà không đòi hỏi ở tôi bất cứ một
điều gì. Hôm cuối cùng, tôi đưa nàng trở lại
trường Domaine De Marie để gặp lại em nàng. Ngồi
trên xe, nàng trầm ngâm không nói một lời. Đến
cổng trường, nàng bảo tôi dừng lại. Nàng hôn tôi
thật lâu. Tôi nghe tiếng nàng khóc. Tôi định nói
một lời gì đó, nhưng nàng lấy một ngón tay để
trên miệng tôi, không cho tôi nói, rồi bảo tôi
ngồi yên trên xe chờ nàng. Hơn hai mươi phút sau
nàng chạy ra, cầm tay tôi và trao cho tôi một tờ
giấy nhỏ, rồi vụt chạy vào phía sau trường. Trên
mảnh giấy nàng viết vội vàng bằng tiếng Việt.:
Xin cám ơn và tạm biệt anh ở đây. Em và đứa em
của em sẽ về Sàigòn vào sáng sớm ngày mai. Anh
hãy trở lại đơn vị, đừng chờ và cũng đừng tìm em
nữa. Hôn anh.
Tôi vội vàng bước xuống xe, chưa biết gọi nàng
bằng tên gì, thì nàng đã mất hút phía sau trường.
Tôi ngồi trên xe nhìn thẫn thờ vào khu trường.
Tất cả đều vắng lặng, chỉ nghe một vài tiếng lá
rơi từ những hàng cây đứng chơ vơ im lìm trước
cổng.
Tôi trở lại nhà Thủy Tạ, tìm lại bóng dáng và
mùi hương của nàng. Buổi trưa, bốn bề yên lặng.
Một con chim lạ, có dáng của một con hải âu, đậu
xuống con thuyền bơi phía trước, kêu vài tiếng,
vụt cánh bay sà xuống mặt hồ, rồi biến mất trong
rừng thông. Cả một khung trời Đà Lạt nhạt nhòa
trong nước mắt. Tôi không biết mình đã khóc tự
bao giờ.
Tôi lái xe trở về đơn vị mang theo một nỗi buồn
kỳ lạ, dường như trong lòng chỉ còn là một
khoảng trống bao la.
Suốt đêm hôm ấy, tôi lang thang trong đồi trà,
ngồi một mình bên bờ con suối nhỏ, nhìn mấy
chiếc lá vàng rơi xuống và trôi theo dòng nước,
bàng bạc dưới ánh trăng. Nửa đêm tôi trở về căn
lều cũ, đun đầy một ấm trà tươi mà không uống.
Tôi ngủ vùi từ lúc nào không biết. Thức giấc,
mặt trời đã lên cao. Tôi vội vã xách xe chạy
xuống trạm kiểm soát. Ngồi suốt cả ngày hôm ấy,
tôi vẫn không tìm thấy bóng dáng của nàng.
Hai ngày sau, khi thay bộ đồ trận ra giặt, thò
tay vào túi áo lấy mọi thứ ra, bất ngờ tôi thấy
tấm thẻ căn cước của nàng, viết bằng tiếng Pháp
do tòa đại sứ cấp. Tôi nhớ anh cảnh sát đã giao
tấm thẻ này cho tôi hôm ở trạm kiểm soát và tôi
đã quên trả lại cho nàng. Đến bây giờ tôi mới
biết được tên thật của nàng : Jacqueline Cuvéro.
May mắn trong tấm căn cước có cả địa chỉ. Tôi
gởi trả lại nàng tấm thẻ căn cước, viết kèm theo
bốn câu thơ trong bài thơ Les feuilles mortes mà
nàng yêu thích.
Les feuilles mortes se ramassent à la pelle Les
souvenirs et les regrets aussi Mais mon amour
silencieux et fidèle Sourit toujours et remercie
la vie Tôi phập phồng chờ thư hồi âm, nhưng
không thấy. Tôi viết thêm vài cái thư nữa cho
nàng nhưng tất cả đều biệt vô âm tín. Ba tháng
sau tôi xin bảy ngày phép thường niên về Sài Gòn.
Trước khi tìm đến nhà nàng, tôi trở lại khu
đường Lý Thái Tổ thăm gia đình bà cô và rủ người
anh họ cùng đi. Anh bảo là nàng cùng cô em gái
đã về định cư bên Pháp hơn hai tháng nay. Không
biết khi nào mới trở lại Việt nam.
Tôi lang thang ở Sài Gòn hai ngày thì lấy xe đò
về Nha Trang để thăm cha tôi. Nhưng ngày nào tôi
cũng đi lang thang trên bờ biển, nhìn sóng đổ
vào bờ cuốn theo tất cả mọi dấu chân mình trên
cát, và nhớ đến nàng.
Tôi trở lại đơn vị, đúng vào lúc đại đội tôi
nhận lệnh rời khỏi Lâm Đồng để di chuyển về Phan
Thiết, tăng phái cho Tiểu khu Bình Thuận, hành
quân phối hợp với một đơn vị thiết kỵ của Hoa Kỳ
vừa mới đến Việt Nam, giải toả mật khu Lê Hồng
Phong.
Kể từ ngày ấy, trên bảng tên may trên nắp áo
lính, ngay phía dưới tên tôi, có thêu một chữ
nhỏ : Jacqueline, màu vàng. Mấy chú lính bảo sao
tôi lại có tên con gái. Tôi giả vờ : tại vì tao
ái mộ bà vợ của tổng thống Kennedy.
******
Sáng ngày mai gia đình chúng tôi phải rời nông
trại GAULTIER thơ mộng này để trở về Nauy. Vợ
chồng anh chủ nhà cùng mấy cô con gái của tôi
đang rượt bắt mấy con gà Tây. Anh muốn đãi chúng
tôi một bữa ăn Tây truyền thống. Tôi đi lang
thang khắp nơi trong khu nông trại, như để cố
tìm ra những dấu tích của nàng.
Buổi chiều, khi bà xã và mấy đứa con đang ngồi ở
phòng khách, say mê theo dõi một cuốn phim trên
truyền hình, tôi một mình lặng lẽ ra vườn cam,
rồi vào khu nghĩa địa.
Tôi ngồi trước mộ nàng rất lâu, hình dung lại
hình ảnh của nàng trong những ngày cùng tôi trên
đồn điền trà ở bên cây cầu Đại Ngà và tung tăng
khắp nơi ở bờ hồ, thác Prenn và trong rừng thông
Đà Lạt.
Một cơn gió xào xạc, mấy chiếc lá vàng trên tàng
cây chầm chậm rơi xuống mộ nàng.
Tôi đưa tay sờ tấm ảnh nàng trên mộ bia, nói thì
thầm trong gió :
Et la chanson que tu chantais
Toujours, toujours je l’entendrai!
( Và bài hát mà em đã hát cho anh nghe
Mãi mãi, mãi mãi anh vẫn còn đang nghe đây! )
phạmtínanninh (Mùa hè 1988) |
|