 |
| |
Yêu
Nữ
(Nguyễn
Thạch
Giang)
Thi rớt
vào đại
học, tôi
lấy
chồng.
Bởi làm
thân con
gái,
trước
sau gì
cũng có
chồng,
tôi lấy
chồng
cho rồi.
Nếu là
một tài
tử điện
ảnh,
tiêu
chuẩn
kén
chồng
của tôi
sẽ theo
thứ tự
ưu tiên
như sau:
Thứ nhất,
chàng
phải đẹp
trai (tôi
luôn
luôn mê
kép đẹp).
Thứ nhì,
chàng
phải có
học thức,
và có
địa vị
cao
trọng
trong xã
hội. Sau
cùng,
chàng
phải có
nhiều
tiền. Đó
là câu
trả lời
cho câu
hỏi:
“Mẫu
người
đàn ông
lý tưởng
của cô
như thế
nào?”
Nhưng
thực tế,
tôi chỉ
là một
đứa con
gái tầm
thường,
thi rớt
lên rớt
xuống.
Nên
chồng
của tôi
chỉ là
một
Thiếu úy
Pháo
binh.
Chàng là
dân “đề
lô” .
Chàng
của tôi
không
cao,
không
thấp,
không
mập,
không ốm.
Không
xấu,
không
đẹp.
Không
nghèo
hèn mà
cũng
chẳng
giàu
sang.
Nói tóm
tắt,
chàng là
người
trung
bình về
mọi
phương
diện.
Lấy
chồng
lúc 20
tuổi,
thuở đó
tôi cứ
tưởng
mình đã
đủ khôn
lớn, để
có chồng.
Giờ đây,
đôi lúc
ngồi
tính sổ
lại đoạn
trường…
hiến
binh,
tôi cứ
tiếc cho
tuổi trẻ,
và cứ tự
hỏi tại
sao tôi
có thể
lấy
chồng ở
cái tuổi
“con nít
trân”
như vậy
cho được
chứ.
Tôi quen
chàng sơ
sơ rồi
lấy đại
làm
chồng.
Tôi
quyết
định có
hơi vội
vàng,
một phần
cũng vì
áp lực
của ông
già, bà
già dữ
quá!
Không
phải ba
má tôi
muốn gã
tôi cho
chàng.
Không,
ông bả
muốn tôi
lấy một
người
bạn của
gia đình;
“Chú
Hùng”.
Ông chú
này là
bạn của
Ba Má
tôi.
Tuổi của
ổng
không
nhỏ hơn
tuổi của
Ba tôi
bao
nhiêu.
Được một
cái chú
Hùng có
rất
nhiều
tiền.
Chú lại
là người
có học
thức (nghe
đâu cử
nhân
Luật gì
đó). Chú
lại có
địa vị
trong xã
hội.
Nhưng
than ôi!
Cái tuổi
trẻ khờ
dại của
tôi chỉ
“yêu”
được mấy
chàng
thanh
niên trẻ
tuổi,
đẹp trai.
Còn tiền
bạc, tôi
chẳng
màng, dù
đôi khi
tôi
chẳng có
một đồng
xu dính
túi.
Cái số
của tôi
rất kỳ
cục.
Nhiều
lúc tôi
tự hỏi
tại sao
nó có
thể ngộ
nghĩnh
đến như
vậy được.
Tôi chưa
từng
thấy đứa
bạn gái
nào
giống
như tôi
cả. Tôi
thường
được hoặc
là mấy
đứa con
nít nhỏ
tuổi hơn
mình
chọc
ghẹo,
nếu
không,
thì cũng
mấy ông
xồn xồn
theo tán
tỉnh.
Điều này
đôi lúc
làm cho
tôi tức
tối ghê
lắm. Hồi
tôi học
lớp 6,
lớp 7,
chuyên
môn bị
mấy anh
chàng
lớp 11,
lớp 12
ghé mắt
xanh.
Chừng
tôi học
lớp 12,
mấy đứa
con nít
lớp 9,
lớp 10
gửi thư
tình.
Trong
khi tôi
phải
lòng một
tên học
trò cùng
lớp, thì
có ít
nhứt hai
ông già
muốn hỏi
cưới tôi
làm vợ!
Trời đất!
Thật là
tréo
ngoe,
tréo
cẳng
ngỗng.
Chú Hùng
là bạn
của ba
tôi, mỗi
khi chú
đến nhà,
tôi lễ
phép
vòng tay
chào hỏi.
Đôi lúc
tôi rót
nước trà,
có khi
tôi mời
chú một
miếng
mứt,
miếng
bánh tôi
vừa mới
học được
của con
nhỏ bạn.
Tôi
nhiều
chuyện
kể chú
Hùng về
một bài
thơ nào
mà tôi
thích,
tôi hát
chú Hùng
nghe một
bài ca
nào tôi
yêu. Chú
Hùng ăn
bánh, ăn
mứt của
tôi làm.
Chú Hùng
nghe tôi
hát. Chú
“mê” tôi
hồi nào
không ai
hay. Tới
chừng
chú ngỏ
ý muốn
cưới tôi
làm vợ,
cả nhà
bật ngửa.
Vậy mà
Ba, Má
tôi cũng
chịu. Ba
tôi nói,
thời
buổi này
tìm đâu
ra được
người
đàng
hoàng,
tử tế
như chú
Hùng.
Tôi tức
giận cho
cái số
phận oái
ăm của
mình.
Tôi muốn
thách
thức với
ông tơ,
bà
nguyệt.
Tôi bạo
gan cải
số trời.
Tôi lấy
thiếu uý
Trần,
một
người
tôi vừa
quen khi
đi coi
phim “La
fille de
Ryan” (có
Robert
Mitchum
đóng)
chiếu ở
Mini
Rex. Chú
Hùng
buồn bã,
xin đổi
về làm
việc ở
Cần Thơ,
sau này
chú Hùng
lấy vợ.
“Vợ chú
không
trẻ hơn
tôi mấy.
Chú cưới
về cho
đỡ lạnh
lùng.”
Đám cưới
xong,
chúng
tôi chưa
kịp
hưởng
tuần
trăng
mật,
trăng
đường gì
cả,
chàng
phải trở
ra đơn
vị, bởi
chàng là
lính tác
chiến.
Một câu
thơ nào
đó của
Hữu Loan
muôn đời
vẫn có ý
nghĩa
cho
nhiều
cặp vợ
chồng
son
trong
thời
chinh
chiến.
“Cưới
nhau
xong là
đi”.
Tiểu
đoàn của
chàng
đóng tại
một địa
danh nào
đó bắt
đầu bằng
chữ “Lệ”
ở tỉnh
Pleiku.
Chàng
nói lúc
ông Diệm
nắm
chính
quyền,
Ngô tổng
thống
đưa dân
miền
Trung
lên cao
nguyên
khai
hoang,
lập ấp,
lập Khu
Dinh
Điền,
Khu Trù
Mật. Bà
Nhu đã
mang chữ
lót tên
“Lệ” của
bà đặt
cho
nhiều
nơi ở
ngoài ấy.
Lệ Trung,
Lệ Thanh,
Lệ Ngọc,
Lệ Kim,
Lệ Minh…
chàng
nói lúc
Dinh Độc
Lập bị
dội bom,
một đứa
con gái
nhỏ của
bà Nhu
tử nạn.
Bà mang
xác đứa
con đó
chôn tại
một nơi
mang tên
người
con vắn
số của
bà. Tôi
hỏi làm
sao
chàng
biết.
Chàng
cười hì
hì, nghe
người ta
kể như
vậy.
Đơn vị
chồng
tôi đóng
quân tại
một nơi
đèo heo
hút gió,
nên
chàng bỏ
tôi ở
lại Sài
Gòn.
Thành ra,
mang
tiếng có
chồng,
tôi vẫn
phòng
không,
gối
chiếc.
Thời giờ
trống
trải
chẳng
biết làm
gì, tôi
đi học
Anh văn
ở trường
Nguyễn
Ngọc
Linh.
Hàng
ngày tôi
thường
mặc mini
jupe
thật
ngắn,
mang
giày
bata
trắng,
khi tan
trường
về, tôi
ôm cặp
bước đi
nhún
nhảy như
một con
chim
non. Má
tôi quở,
coi bộ
tướng
con
Phương
Huệ, có
chồng
rồi cứ
như con
nít.
Khi tan
học, tôi
thường
ghé qua
ăn bánh
cuốn,
bánh chả,
uống đậu
đỏ bánh
lọt ở
mấy xe
bán thức
ăn dọc
lề đường
Trần Quý
Cáp. Một
hôm đang
mút cà
rem cây,
tôi bắt
gặp một
thằng
nhỏ ngó
mình lom
lom,
thằng bé
này
khoái
tôi dữ.
Tôi đi
bộ, ôm
cặp nhún
nhảy
trên lề
đường,
nó dẫn
xe đạp
đi kè kè
một bên
mông. Nó
làm
thinh đi
theo tôi
cho tới
khi tôi
về đến
nhà. Đôi
lúc nó
láp giáp
một điều
gì đó
bên tai,
tôi
không
trả lời
và cố
nín cười.
Nó xưng
tên Trí,
học lớp
11
trường
Pétrus
Ký. Nó
hỏi còn
Huệ, lớp
mấy,
trường
nào.
Chúa ơi!
Sao nó
biết tôi
tên Huệ.
Cái kiểu
nói
chuyện
xưng tên
của nó
nghe sao
mà dễ
thương,
bé bỏng
hiền
lành quá
đỗi.
Chắc nó
tưởng
tôi cũng
cỡ lớp
10, lớp
11 là
cùng chứ
gì.
Thằng
Trí bắt
đầu gửi
thư tình.
Tôi chìa
bàn tay
có đeo
nhẫn
nhận thư.
Ngón tay
tôi đeo
nhẫn sờ
sờ vậy
mà nó
không
chịu
thấy. Mà
sự đời
có nhiều
chuyện
éo le.
Thiếu
khối gì
người có
gia đình
mà họ có
bao giờ
chịu đeo
nhẫn
cưới đâu.
Trong
khi mấy
đứa con
gái độc
thân,
hàng
trăm,
hàng vạn
đứa
thích
đeo nhẫn
ở ngón
áp út.
Chiếc
nhẫn ấy
thực sự
chẳng
nói lên
một điều
gì rõ
ràng cả.
Thư tình
của
thằng
Trí mùi
tận mạng.
Chữ viết
hoa hoè,
hoa sói,
bay nhảy
như chim,
như bướm.
Lời lẽ
ướt nhẹp
như văn
chương
Quỳnh
Dao. Tôi
kể cho
chồng
tôi biết,
tôi gửi
thư tình
cho
chàng
xem đỡ
buồn lúc
hành
quân.
Tôi nghĩ
chàng sẽ
không
nghi ngờ…
gì cái
tiết
trinh
của tôi.
Nhưng
chàng
viết thư
trả lời
bảo dẹp
cái vụ
ấy đi,
tội
nghiệp
thằng
nhỏ.
Tình
hình
chiến sự
trở nên
sôi động,
Trần
điện tín
bảo tôi
ra “ở”
với
chàng.
Tinh
thần
chồng
tôi có
hơi
xuống
thấp.
Chàng
cần một
“người
vợ” ở kề
cận để
chia sẻ
mùi
chiến
tranh.
Nhưng
khi có
tôi ở
một bên,
chàng
càng khó
tính,
khó lo
liệu hơn
nữa.
Vừa
xuống
phi
trường
Cù Hanh,
Pleiku
thì cũng
vừa có
lệnh tạm
ngưng
các
chuyến
bay của
hàng
không
Việt
Nam. Tôi
đến với
Trần khi
đơn vị
chàng bị
vây tứ
phía,
suốt
ngày ở
dưới hầm
chờ pháo
kích.
Sau cùng,
chàng
liều
mạng
xách xe
đưa tôi
về thị
xã
Pleiku,
đúng lúc
thành
phố đang
xôn xao
di tản
chiến
thuật.
Thế là
tôi và
Trần
nhập vào
đoàn
người
lội suối,
băng
rừng
theo con
lộ 7
kinh
hoàng
tìm
đường
xuống
Tuy Hoà.
Khi
không
đang ở
Sài Gòn
yên lành,
tôi bay
ra thăm
chàng,
để cùng
chạy
giặc.
Thật là
hết chỗ
nói.
Chúng
tôi về
đến Sài
Gòn chưa
đầy một
tháng
thì mấy
“ổng”
vào tới.
Chàng bị
“Giải
Phóng”
vào tù
mút chỉ.
Tôi về
sống với
Ba, Má ở
đường Lê
Văn
Duyệt,
chờ ngày
chàng
trở lại.
Nhưng
chàng
không
bao giờ
trở lại,
với
người vợ
bé bỏng,
nhỏ nhen
này. Lúc
Trung
Cộng tấn
công
sang
biên
giới
Bắc-Việt,
chàng
mất hẳn
liên lạc
với tôi
từ đó.
Sau khi
bị “đổi
đời” anh
em chúng
tôi xúm
nhau về
nhà cha
mẹ ăn
bám.
Thời
buổi khó
khăn,
tiền làm
không ra
mà mấy
anh, mấy
chị tăng
gia sản
xuất dữ
quá. Chỉ
mới mấy
năm mà
Ba Má
tôi cháu
ngoại,
cháu nội
lũ khũ.
Lúc đầu
còn cưng
chiều,
săn sóc,
riết rồi
chịu hết
nổi, ổng
bả bỏ bò
lăn bò
lóc. Đồ
đạc
trong
nhà bắt
đầu đội
nón ra
đi.
Chúng
không có
chân, có
cẳng mà
đi ra
thật lẹ.
Nặng như
cái tủ
lạnh, mà
nó cũng
đi cho
được.
Cái hôm
biết Má
tôi bán
cái tủ
lạnh,
tôi buồn
hết năm
phút.
Bởi vì
tôi luôn
luôn
uống cái
gì cũng
kiếm cho
được
nước đá
bỏ vào.
Trời Sài
Gòn nóng
nực,
uống
nước đá
lạnh
thấy
cũng
khoẻ.
Cuối năm
1978, Ba
Má tôi
chịu đời
không
thấu,
bán nhà
về quê
nội ở
Cao Lãnh
làm
ruộng.
Đành cam
từ giã
Sài Gòn.
Hôm Ba
Má tôi
về quê,
hôm bán
nhà ở
cái xóm
Lê Văn
Duyệt
Trần Quý
Cáp, tôi
buồn
muốn
chết, mà
khóc
không
nổi. Anh
em tôi
mạnh ai
nấy lo.
Tôi bám
víu ở
lại
thành
phố.
Cuộc đời
thả trôi
từ đó.
Tôi
chẳng
khác nào
cánh lục
bình,
nước lớn
trôi vào
sông
rạch,
nước
ròng
trôi ra
biển.
2.
Tôi quen
chị Năm
Chà khi
đi cầm
đồ ở nhà
Dì Hai.
“Năm Chà”
vì chị
đen như
Chà và.
Lớn hơn
tôi 6
tuổi,
nhưng
hai đứa
tôi đi
chơi với
nhau như
bạn bè.
Sau này
khi về ở
chung,
đôi lúc
tụi tôi
gọi nhau
mày tao
nữa chứ.
Ở góc
đường
Phát
Diệm
Nguyễn
Cư
Trinh,
có một
con hẻm
lớn, bà
con bày
hàng
quán,
buôn bán
dọc theo
con hẻm.
Lâu ngày
trở
thành
một cái
chợ, chợ
Xả Rác.
Tôi đi
hỏi bà
con từ
đầu hẻm
tới cuối
hẻm,
không ai
biết vì
sao lại
“Xả Rác”.
Tới
chừng đi
hỏi chị
Năm Chà,
bị bả
làm cho
một trận.
Con nhỏ
này ưa
hỏi lôi
thôi,
người ta
gọi “Chợ
Xả Rác”.
Đi thắc
mắc làm
gì mấy
cái tên
gọi cho
mất thì
giờ. Bả
làm một
hơi, tôi
nín khe.
Đi sâu
vào con
hẻm chợ,
qua
chừng
một chục
lần quẹo
phải,
hai chục
lần quẹo
trái thì
tới nhà
Dì Hai.
Nhà Dì
Hai vách
gạch,
mái lợp
tôn.
Đứng bên
ngoài
ngó vào,
có thể
nghĩ chủ
nhân
chẳng
giàu có
gì. Bước
vào
trong,
căn nhà
hơi tối,
bày biện
đơn sơ.
Một căn
phòng
rộng vừa
là phòng
ngủ của
Dì Hai,
vừa là
phòng
khách,
một góc
có để
bàn ăn
và một
cái bếp
nấu ăn.
Xéo góc
trái là
nhà tắm,
cầu tiêu.
Dì Hai
có cho
cất thêm
một cái
gác lửng
bằng ván
để Dì
lập bàn
thờ Phật,
bàn thờ
tổ tiên.
Dì Hai
sống
bằng…
viện trợ
Mỹ. Đứa
con gái
và hai
thằng
con trai
của Dì
đều ở Mỹ.
Thành ra
Dì Hai
khoẻ ru,
lâu lâu
đi lãnh
quà ở
Tân Sơn
Nhứt một
lần. Dì
Hai cũng
gần 60,
nhưng da
dẻ hồng
hào,
tướng
người
mạnh dạn,
Dì Hai
làm việc
loay
hoay cả
ngày; Dì
quen
hoạt
động,
nên ở
không
hoài
cũng
thấy
buồn.
Sẳn có
tiền dư
chút
đỉnh, Dì
cầm đồ,
cho tiền
góp và
chơi hụi.
Dì Hai
ăn trầu
bỏm bẽm,
lúc Dì
xỉa
thuốc,
có cảm
tưởng
như bà
Tuý Hoa
đóng vai
bà Hội
Đồng.
Nhưng
thực sự,
Dì Hai
hiền hơn
nhiều.
Đôi lúc
dì ăn
nói rổn
rảng,
lại có
khi nói
dai
nhách,
nhưng
bụng dạ
Dì rất
hiền,
rất tốt.
Dì ăn
chay một
tháng 8
ngày và
thường
nhờ chị
Năm Chà
chở Dì
đi chùa.
Thỉnh
thoảng
Dì cạo
đầu trọc
lóc, tóc
ra lún
phún như
tân binh
ở quân
trường.
Hằng lớn
hơn tôi
hai tuổi,
là cháu
gọi Dì
Hai bằng
Dì. Có
nhà có
cửa đàng
hoàng ở
miệt Phú
Lâm, xa
cảng
miền Tây,
nhưng
thích đi
hoang,
bỏ nhà
xuống ở
với Dì
Hai. Năm
Chà thì
lý lịch
không ai
biết, (mà
ai cắc
cớ hỏi
bả, lớ
quớ bị
xì-nẹc)
cũng
trôi
sông lạc
chợ như
tôi, tấp
vào nhà
Dì Hai
tá túc.
Tôi đến
nhà Dì
Hai hỏi
tiền góp,
con nhỏ
Hằng và
chị Năm
Chà chịu
tôi liền.
Hai bà
dẫn tôi
ra quán
chị
Thanh, ở
đầu
đường ăn
hủ tiếu
và uống
cà phê
đá. Năm
Chà hút
thuốc lá…
như Mỹ.
Hai bà
biết tôi
lang
thang…
như đoá
hoa lục
bình,
bèn rủ
rê về
nhà Dì
Hai ở
cho có
bạn, cho
có bè,
có lũ.
Từ đó ba
đứa tôi
trở
thành ba
con yêu
thường
gọi đùa
là yêu
nữ phá
làng,
phá xóm,
quậy đục
cái xóm
chợ nhỏ
ở đường
Nguyễn
Cư Trinh
Phát
Diệm.
Chị Năm
Chà
chuyên
nghề
mánh mun.
Lấy đồ
người
này, đem
bán
người
khác ăn
lời. Nhờ
trời
thương,
bả trúng
mánh đều
chi. Dẫn
tôi đi
ăn sáng,
uống cà
phê. Tôi
mang
bịnh
ghiền cà
phê đá
từ cái
năm bả
hên,
tiền vô
như nước,
dẫn tôi
và con
nhỏ Hằng
đi quán
lia chia.
Cũng có
khi bả
gặp nhằm
năm cùng,
tháng
tận. Áp
phe cứ
trật
vuột
hoài,
đói meo,
tụi tôi
phải
“hỏi vay”
Dì Hai
xài đỡ.
Ăn trước
trả sau,
vốn là
sự
thường
tình của
ba con
yêu nữ
nhà này.
Hằng đã
ngoài 30
tuổi, mà
sắc đẹp
vẫn còn
mặn mà
như con
gái. Mới
nhìn
thoáng
qua cứ
tưởng bả
là Trang
Bích
Liễu. Có
nhiều
bữa bả
ngắm
nghía,
săm soi
trong
gương,
bả nhìn
nghiêng
qua bên
trái rồi
lại
nghiêng
qua bên
phải.
Rồi bả
chạy đến
chiếc
gương
lớn ở tủ
kính,
cầm
chiếc
gương
nhỏ để
một bên,
nhìn vào
gương
lớn xem
ảnh nhìn
ngang
của bả
ra sao…
Con nhỏ
Hằng
than
van,
phải chi
sóng mũi
của mình
cao hơn
một chút,
mình sẽ
đẹp như…
Phương
Hồng
Ngọc…
Tôi
thiệt là
chán chê
cho cái
cảnh già
mà còn
làm điệu
của bả,
tôi nói
đẹp cỡ
như bồ…
ra đường
thiếu gì
đàn ông
dòm ngó.
Tại bà
chẳng
chịu đá
lông
nheo với
ai đó
thôi. Bả
cười
khoái
chí khi
nghe tôi
khen bả
đẹp.
Con nhỏ
Hằng
không
biết
buôn bán,
mánh mun,
chợ trời,
chợ đỏ
gì cả.
Nhưng bả
có tài
nịnh, bả
gọi Dì
Hai bằng
Má… nghe
ngọt còn
hơn
đường
phèn.
Nhiệm vụ
của nó
là đi
thâu
tiền hụi,
tiền góp
cho Dì
Hai.
Thường
thường
nó ưa
mượn và
không hề
nhắc.
Khi nào
có thì
trả lại
cho Má
Hai ăn
trầu. Dì
Hai cho
tiền góp,
một trăm
ngàn góp
thành
trăm mốt.
Mỗi
tháng
góp mười
ngàn,
góp 11
tháng
thì dứt.
Dì quen
gọi tiền
theo…
chế độ
tiền cũ.
Một trăm
ngàn của
Dì tương
đương
với hai
trăm
đồng
tiền Bác
Hồ; Lối
cho vay
của Dì
thấy
cũng
ham,
nhưng
tính kỹ
ra… lỗ
quá trời.
Một trăm
ngàn của
Dì, lúc
cho vay,
mua được
một chỉ
vàng.
Chừng
thâu
xong cả
vốn lẫn
lời, mua
được
chừng
sáu, bảy
phân là
cùng.
Nhưng ai
trong
nhà đừng
có tài
lanh
giảng
nghĩa
cho Dì
biết. Ba
cái từ
leo
thang,
lạm phát
thiệt là
rắc rối.
Tính đơn
giản như
dì, một
trăm
ngàn bỏ
ra, thâu
vào trăm
mốt là
được quá
rồi chớ
gì. Dì
Hai lại
tu hành
ăn chay
nằm đất,
giúp đỡ
cho bà
con lối
xóm mà
tính quá
vậy con.
Trời đâu
có cho.
Sống như
Má Hai,
tà tà…
không
sức mà
ăn. Dì
Hai nói
cũng
phải,
tính
toán quá
làm gì.
Miệng
nói tôi
thì giỏi,
nhưng có
làm ra
được
đồng
ten, cắc
bạc nào
đâu.
3.
Tôi
không có
tài cán
gì cả,
nhờ “có
duyên”
chút
đỉnh nên
thường
được đàn
ông bảo
bọc.
Hằng làm
mai “anh
Chiến”
cho tôi.
Gặp nhau
ảnh chịu
tôi liền.
Tôi còn
hơi dụ
dự vì
nghi ông
này đã
có vợ.
Chị Năm
Chà và
con Hằng
xúi tôi
“chịu
đại”,
bắt địa
xài đỡ.
Ai có
biểu bà
làm hôn
thú đâu
mà ngại.
Anh
Chiến cứ
đến o bế
tôi hoài,
thằng
chả tung
tiền
thật
nhiều,
cố tình
mua tôi
cho bằng
được. (Sau
này chả
nói với
Dì Hai,
thấy tôi
đỏng
đảnh…
khó ưa.
Chả
“cua”
tôi cho
thoả
lòng tự
ái. Trời
ơi, nghe
qua tôi
nổi giận
đùng
đùng.
Muốn bỏ
chả cho
chả thấy
tôi cũng
có lòng
tự ái
như ai
nhưng
dây nhợ
dính líu
tùm lum…
lỡ rồi..
gỡ làm
sao cho
ra).
Lúc đầu,
tôi chỉ
“bắt địa”
anh
Chiến.
Lâu ngày,
xài tiền
của ổng
quen tay,
tôi đâm
ra ghiền
tiền của
ổng, như
người ta
ghiền
thuốc
phiện.
Thành ra,
cứ dính
líu hoài,
già nhân
ngãi mà
non vợ
chồng.
Trên căn
gác xép
của Dì
Hai, một
bên là
bàn thờ
Phật,
bàn thờ
ông
Ngoại,
bà Ngoại.
Phía cửa
sổ là
cái
giường
để tôi
và Hằng
ngủ
chung.
Năm Chà
thì tình
nguyện
ngủ dưới
ván.
Nhứt là
từ khi
có sự
hiện
diện của
anh
Chiến,
chị Năm
Chà chê
cái
giường
của tôi
đầy mùi
u ám,
mùi tục
lụy… bả
không
chịu nằm.
Tôi mua
vải bông
may
thành
một tấm
ri-đô để
khi có
ông bồ
của tôi
tới thăm,
hai đứa
tôi kéo
màn hát
cải
lương.
Chàng
đến bất
thình
lình,
rảnh giờ
nào tới
giờ đó,
không có
thời
khoá
biểu gì
cả. Có
hôm sáng
tinh
sương
chả vác
mặt mo
đến gõ
cửa, nhỏ
Hằng còn
say ngủ,
bị tống
xuống
nhà dưới,
vừa đi
vừa cằn
nhằn,
làm ăn
gì hừng
sáng vậy
cha nội.
Lúc đầu
tôi có
hơi
ngượng,
nhứt là
khi có
sự hiện
diện của
Dì Hai ở
nhà. Cái
gì mà
giữa
trưa,
chúng
tôi đang
ngồi
chơi vui
vẻ, ổng
từ đâu
tới, dẫn
tôi lên
gác kéo
ri-đô
nói
chuyện
tâm tình.
Cái cảnh
này diễn
ra hoài,
riết rồi
nhàm.
Tôi chai
đá – coi
như đó
là một
sự
thường
tình xã
hội,
chẳng có
gì xấu
phải mắc
cở. Hằng,
Năm Chà
riết rồi
cũng coi
như pha.
Cả đến
Dì Hai
nữa trời
ạ! Một
hôm tôi
và chàng
ở trong
màn, Dì
Hai đứng
bên
ngoài
bảo giùm
Dì một
bài toán
đại
khái
tiền lời,
lỗ… con
khỉ gì
đó. Có
lúc nhỏ
Hằng cần
tiền gấp,
đứng bên
ngoài
hỏi tiền.
Nó tỉnh
bơ đứng
bên
ngoài
chờ đợi,
tôi móc
tiền vén
màn đưa
cho nó.
Thật là
chẳng
coi đạo
đức ra
gì cả.
Ba con
yêu nữ…
xóm chợ
nhỏ này.
Tôi đi
lại với
Chiến
khá lâu
mà thật
tình
không
thể nào
yêu
chàng
nổi. Anh
ta thuộc
“tuýp”
người
tôi
thích:
mặc dù
chàng là
người
rộng rãi,
có lòng
tốt với
mọi
người.
Chiến
chưa bao
giờ nói
với tôi
là chàng
đã có
gia đình
hay chưa.
Mà chàng
cũng
không hề
hỏi cưới
tôi làm
vợ.
Nhưng
tôi
không
mong đợi
điều đó.
Chàng
hiền
lành tử
tế,
nhưng
dưới mắt
tôi, đôi
lúc, cù
lần quá.
Chàng
lại ăn
mặc xuề
xoà, đi
dép lệt
bệt. Tôi
muốn, bồ
của tôi,
lâu lâu
cũng
phải ăn
diện một
chút chớ.
Nhất là
khi đi
phố Lê
Lợi,
Nguyễn
Huệ.
Nhưng
điều mà
chàng
làm tôi
nản hơn
hết là
cái mùi…
“mồ hôi”
của ổng.
Có hôm
trưa
nắng,
chàng
đến
người
đầy mồ
hôi nhễ
nhại. Sờ
vào thân
hình rin
rít của
chàng,
tôi có
cảm giác
hơi gớm.
Vì vậy
tôi
thường
là người
thụ động,
cứ để
mặc
chàng
muốn làm
gì thì
làm.
Chiến
thích
được
vuốt ve,
âu yếm.
Tôi cũng
thích
được
vuốt ve,
âu yếm.
Nhưng
tôi
không
thích
làm cái
chuyện
đó với
chàng.
Chiến
thích
hôn môi,
nhưng
tôi cố
tránh,
vì không
thích
mùi
thuốc lá
quá nặng.
Răng của
thằng
chả cũng
không
được đẹp,
đôi lúc
dính
thịt gà,
thịt vịt…
thật
khủng
khiếp.
Cho nên
tôi luôn
xoay mặt
tránh
chỗ khác.
Chàng có
hơi bực
với thái
độ hờ
hững này…
Một hôm
lúc đang
ăn ổi
với Hằng
và Dì
Hai thì
chàng
đến. Ông
lôi tôi
lên
giường,
tôi để
mặc chả
muốn làm
gì thì
làm tôi
tiếp tục
ăn ổi.
Hôm đó
chắc bị
bà xã
xì-nẹc
sao đó,
ổng nổi
sùng cầm
trái ổi
tôi đang
ăn vụt
mạnh
xuống
sàn…
đụng đồ
kêu rổn
rảng. Dì
Hai ở
nhà dưới
quở, cái
gì vậy
tụi bây.
Chàng
nói bà
làm
thiệt là
giống
mấy em ở
Hạnh
Thông
Tây, Gò
Vấp. Tôi
nổi nóng
nói ông
tới
thiệt là
bất tử,
bất
thình
lình,
làm như
tôi lúc
nào cũng
sẵn sàng
ứng
chiến
trăm
phần
trăm.
Chàng
hầm hầm
mặc quần
áo đứng
dậy bỏ
đi không
nói một
tiếng
với Dì
Hai. Tôi
tiếc rẻ
trái ổi
đang ăn
dở dang.
Năm Chà
trở về
rủ chúng
tôi đi
coi
“Dưới
Hai Màu
Áo” ba
con yêu
nữ thả
bộ tà tà
đến rạp
Hưng Đạo.
Phương
Hồng Quế
hát mở
màn, đẹp
như hoa
hậu. Con
nhỏ Hằng
khều tôi
nói nhỏ,
ê Lệ Thu
đi nữa
rồi đó.
Năm Chà
nói
thích
Thanh
Tuyền
hát bài
“Đất Đỏ
Miền
Đông”.
Tôi nói
Lê Hành
hát bài
này hay
hơn. Nhỏ
Hằng nói
riết rồi
ca sĩ
hay đi
ráo trọi.
Hai bà
xúm nhau
hả họng
cười khi
Kim
Cương,
một cô
gái bán
hột vịt
lộn,
được ăn
mặc sang
trọng,
đi guốc
cao gót
té lên
té xuống.
Lúc đầu
mới xem,
tôi cũng
cười.
Nhưng
coi mãi
đâm ra
nhàm.
Tôi rủ
hai bà
về nhà
ngủ
sướng
hơn,
nhưng
mấy bả
đòi ở
lại coi
cho tới
vãn. Tôi
buồn bực
bỏ ra
đứng
trước
cửa rạp
hát ngó
ông đi
qua, bà
đi lại.
Có một
thanh
niên
đang mua
thuốc lá
gần chỗ
tôi đứng.
Chàng
nhìn tôi
cười cầu
tài và
sau đó
bước đến
hỏi có
phải
Phương
Huệ, nhà
ở chợ Xả
Rác.
Thật
tình tôi
không
biết hắn
là ai,
nhưng
thấy hắn
có vẻ dễ
thương,
nên đi
bộ tà tà
nói
chuyện…
Trên
đường
trở về.
Nhà hắn
ở gần
tiệm cơm
Thanh
Sơn. Lúc
đi ngang,
hắn rủ
tôi vào…
chơi.
Hai đứa
ngồi nói
chuyện ở
phòng
khách,
đèn
chong mờ
mờ không
để đèn
sáng.
Hắn bắt
đầu đụng
chạm,
tay chân
táy máy.
Tôi cũng
chịu đèn
nên làm
thinh.
Sau đó
hắn dẫn
tôi vào
phòng
tắm.
Trời đất
ơi!
Phòng
tắm chớ
không
phải
phòng
ngủ. Tôi
ngoan
ngoãn đi
theo như
một
người bị
thôi
miên.
Khi hai
đứa đang
ôm nhau
mùi mẫn
thì có
tiếng gõ
cửa dựt
giọng.
Anh Ba
ơi! Mở
cửa cho
em đi
cầu một
chút coi,
quýnh
quá rồi
nè! Tôi
cài nút
áo và
nói hắn
mở cửa
cho
thằng
nhỏ vào
kẻo nó
“ể”
trong
quần.
Hắn kéo
màn tắm
vào bảo
tôi đứng
yên đừng
thở mạnh.
Không
biết
thằng
nhỏ ăn
cái
giống gì
mà tôi
chịu gần..
bể cái
lỗ mũi.
Khi đã
xả bầu
tâm sự,
thì
thằng bé
bước lại
gần hỏi
anh làm
gì trong
này vậy
anh Ba.
Con nít
Sài Gòn
thiệt là
khôn,
nhứt là
kể từ
khi nó
được
giải
phóng,
phỏng
giái.
Tôi về
đến nhà
thì bị
Năm Chà
và con
nhỏ Hằng
xúm lại
chửi rủa.
Quỷ ơi!
Bà đi
đâu mất
tiêu,
mất dạng
vậy. Tôi
chu cái
miệng
nói
nhõng
nhẽo. Dạ
em bị
một
người
nam thôi
miên dẫn
em vô
buội rậm.
Tôi hỏi
ê Hằng,
bà có
nhớ
thằng
cha ngó
bà cười
lúc Thái
Châu hát
bài Lá
Đỏ không.
Nhỏ Hằng
chớp mắt
lia lịa.
Đàn ông,
con trai
ngó tôi
cười mím
chi cọp
thiếu gì.
Bà nói
kiểu đó,
ai mà
nhớ cho
ra. Tôi
nói tôi
bị thằng
cha đó
thôi
miên,
tôi đi
theo hắn
về nhà.
Nhỏ Hằng
tiên
đoán,
rồi
chàng
dẫn bà
vào
phòng
ngủ phải
không.
Tôi nói
không
phải
phòng
ngủ,
phòng
tắm. Năm
Chà trợn
mắt, ở
trong
nhà tắm?
Rồi bà
đứng
ngồi,
nằm ở
chỗ nào.
Tôi nói
tỉnh
queo,
tôi ngồi
tựa lên
lu nước.
Năm Chà
dang tay
lên trời!
Chúa ôi!
Con nhỏ
này chết
xuống
mười
tầng địa
ngục.
Tôi chấp
tay nói
Mô Phật,
khi em
chết em
chỉ
thích
xuống
địa ngục.
Ba con
yêu nữ
cười
vang
vang
rung
rinh căn
gác xép.
Chiến
giận tôi
vụ “trái
ổi”
chàng
không
đến thăm.
Cả tuần...
cho tới
khi tôi
nằm nhà
thương.
Một hôm
người
bần thần,
uể oải
tôi với
chai
thuốc
đau lưng
nhức mỏi
của Dì
Hai. Ngờ
đâu chai
thuốc đó
kỵ đàn
bà có
thai. Mà
tôi có
bầu lúc
nào tôi
cũng
chẳng
biết.
Uống
thuốc
được một
buổi thì
tôi bị
đau bụng
dữ dội,
sau đó
ra huyết
phải vào
nhà
thương.
Cô y tá
nói với
nhỏ Hằng,
trễ chút
nữa là
trời cứu!
Năm Chà
mặt mày
buồn xo
như nhà
có đám
ma.
Chiến
hết giận
đến thăm
tôi mang
theo một
bịch
cam.
Chàng
nói lỡ
rồi, phá
làm chi.
Tôi làm
thinh
không
giải
thích.
Mà có
nói đâu
ai hiểu
cho tôi.
Chính
nhỏ Hằng
và Dì
Hai còn
tưởng là
tôi cố
tình
tống khứ
cái của
nợ đó
chứ.
Chiến ra
về nhét
dưới gối
năm trăm.
Tôi vẫn
thường
nhận
tiền của
chàng,
nhưng
lần này
tôi thấy
tủi thân.
Tôi ứa
nước mắt,
thương
cho thân
phận lục
bình.
Tôi đã
quá bệ
rạc. Bệ
rạc thân
xác mà
bệ rạc
luôn cả
linh hồn.
Tôi buồn
muốn đi
xem bói.
Tôi muốn
hỏi thầy
bói vì
cớ gì
mấy năm
qua tôi
đều gặp
chuyện
xui rủi,
chằng
rây.
Chiến
đưa tôi
đến nhà
bà Tám ở
đường
Trần
Bình
Trọng –
Bà Tám
chuyên
coi chỉ
tay, bói
bài. Bà
còn biết
xem bốc
dịch,
đoán tử
vi và
lên đồng
nữa chứ.
Bà thờ
xác cô,
xác cậu
nào đó.
Nghe nói
nhập vào
bà, tiên
đoán mọi
việc
trúng
phong
phóc.
Dân
chúng
Sài Gòn
đổ xô
đến tìm
bà Tám
nhờ xem
chuyện
gia đạo,
giải tai
nạn,
giải xui...
đông như
kiến.
Nhà bà
Tám thầy
bói
thuộc
loại xưa,
cột bằng
gỗ to
tròn màu
đen, mái
lợp ngói
âm dương.
Trong
nhà hơi
tối lại
bày thêm
bàn thờ
tổ...
nên
trông có
vẻ lạnh
lùng ma
quái. Bà
Tám dành
một
phòng
riêng để
tiếp
khách.
Căn
phòng
ngó ra
sân vườn
phía sau
nhà. Tôi
thật
kinh
ngạc và
không
thể
tưởng
tượng
nổi ở
giữa Sài
Gòn hoa
lệ này
lại có
một khu
vườn với
đầy đủ
cây ăn
trái như
thế này.
Bà Tám
khoảng
50 tuổi,
người
trắng
trẻo,
bới tóc
ăn trầu
bỏm bẽm,
nhìn qua
có vẻ
hơi quê
mùa.
Theo lệ
thường,
các thầy
hỏi
người đi
xem muốn
xin quẻ
gì, tình
duyên,
gia đạo,
công
việc làm
ăn hay
là theo
một việc
rất thời
sự...
chuyện
vượt
biên.
Đằng này
bà Tám
không
cần hỏi
tôi muốn
gì. Vừa
ngồi
xuống
ghế, bà
xem
tướng
của tôi
liền.
Chiếc
mũi tốt
không lo
nghèo,
ngặt lỗ
mũi hơi
trống
tiền vô
nhiều mà
ra cũng
lẹ. Cặp
môi đầy
đặn,
người
chân
thật,
chơi với
bạn
không
lừa lọc,
xảo trá.
Gương
mặt phúc
hậu,
không sợ
yểu mạng.
Cuộc đời
thường
gặp
nhiều
may mắn,
có người
tử tế
giúp đỡ.
(Nghe
qua tôi
cũng
vững
lòng. Ừa
phải rồi,
đời tôi
có nhiều
lúc thật
khổ,
nhưng
rồi đâu
cũng
qua,
cũng êm
xuôi).
Bà Tám
bảo tôi
xoè bàn
tay cho
bà xem,
thấy
không,
bà la
lớn, có
rất
nhiều
đường
may mắn.
Bà bảo
tôi nắm
bàn tay
lại,
đường
tình
duyên
cũng lận
đận,
phải hai
ba đời
chồng. (Trời
đất ơi!
Chi
nhiều dữ
vậy. Tôi
có phải
là đào
hát Hồ
Ly Vút
đâu?).
Bà thầy
bói
thình
lình bảo
tôi đưa
bàn chân
cho bà
xem, bà
nói tôi
có đường
xuất
ngoại.
Chắc
chắn số
tôi phải
sống xa
nhà. Ông
bồ của
tôi đưa
tay che
mặt,
cười
diễu cợt.
Tôi cũng
không
nhịn
được
cười vì
có vẻ
tiếu lâm
khôi hài
quá.
Bà Tám
vói tay
lấy bộ
bài trên
bàn thờ
tổ. Bộ
bài
ny-lông
mới tinh.
(Tôi
thắc mắc,
đồ của
Mỹ ngụy
sao còn
tàn tích
tới giờ
này). Bà
bảo tôi
thầm
khấn vái
điều cầu
nguyện.
Tôi vái
ông thần,
bà thần
bài cào
có linh
thiêng
ứng vào
quẻ bài
cho tôi
biết
chừng
nào tôi
trúng số
cá cặp.
Bà Tám
bảo tôi
xào bài
và bắt
hai lá,
tay mặt
một lá,
tay trái
một lá.
Tôi rút
bài mà
thầm van
vái cho
nhằm lá
ách
chuồn.
Giờ phút
này tôi
yêu tiền
hơn bao
giờ hết.
Quẻ bài
không
xấu
không
tốt. Tôi
muốn
biết khi
nào bài
lên toàn
chuyện
mà tôi
không
cần biết.
Tôi có
được một
người
đàn ông
trẻ tuổi
thương
mến, si
mê, theo
đuổi.
Tôi sẽ
bị một
người
đàn ông
khác
lường
gạt (nếu
đã bị
rồi thì
thôi).
Tôi nhìn
Chiến,
thằng
chả nhăn
mặt, trề
môi ý
chừng
không
phải tui
đâu à
nhe. Tôi
có số
may mắn,
có người
âm theo
độ mạng.
Tôi suy
nghĩ ai
vậy ta,
không lẽ
ông
chồng
của tôi.
Trời ơi!
Chàng đã
chết
thật rồi
sao. Quẻ
bài còn
nói tôi
bị nhiều
chuyện
tai
tiếng,
xui rủi,
nhưng
không
sao vì
con ách
bích
chỉa mũi
dùi sang
hướng
khác.
Thằng
con của
bà thầy
bói bước
vào nói
má ơi có
thím Năm
qua mượn
đỡ một
trăm,
chừng
tối
chồng
thím về
sẽ trả
lại. Bà
Tám bước
ra ngoài
tiếp
khách,
con trai
bà Tám
khoảng
hơn 20
ngoài.
Tôi hỏi
em có
biết coi
bói
không?
Khi nãy
má em
nói con
ách bích
không
chỉa
thẳng
ngay chị
là sao,
chị
không
hiểu.
Thằng
nhỏ cầm
con bài
xoay
ngược
chiều,
mũi nhọn
chỉa
thẳng
vào con
đầm cơ.
Tôi à
một
tiếng,
hỏi nó
em cũng
biết coi
bói nữa
hả. Nó
nhún vai,
bả dạy
em hoài
để mai
sau có
nghề
kiếm cơm.
Nhưng em
ghét bói
toán,
đồng
bóng lắm.
Coi làm
chi,
việc gì
sẽ tới,
biết
trước
tương
lai, hồi
hộp thấy
bà. Tôi
nói
sướng
chưa. (Thiên
hạ đem
tiền tới
cho má
em nuôi
em mà
nó ăn
nói như
vậy đó!)
Bà Tám
trở vào
móc 20
đồng cho
thằng
con, dặn
nó đi
chơi
chiều
nhớ về
ăn cơm.
Bà xếp
bộ bài
lại, để
ngay
ngắn
trên bàn
thờ. Bà
bảo tôi
ra vườn
hái một
chiếc
lá. Tôi
thấy có
hai đóa
hoa lài
vừa hé
nụ, ngắt
đại vào
cho bà
xem. Bà
Thầy Tám
cầm đóa
hoa đưa
qua đưa
lại,
ngắm
nghía.
Sướng
chưa !
Bảo đi
hái lá
lại đi
hái hoa.
Cái này
là rõ
ràng tại
cô. Số
trời
chạy đâu
cho
khỏi.
Màu
trắng
tượng
trưng
cho cung
ly, mùa
hè tới
cô sẽ
gặp
người
đàng
hoàng,
tử tế,
sẽ có
đôi có
cặp. Hai
đóa hoa
vừa chớm
nở, thơm
ngát,
con nhà
lành đó
nghe.
Tôi rầu
rĩ ngó
ông bồ
của tôi,
định hỏi
bà Thầy.
Vậy chớ
còn cái
ông thần
thừ đó
bỏ cho
ai.
Thằng
chả mặt
nhăn như
khỉ vì
ngồi chờ
lâu quá.
Tôi cám
ơn và
hỏi tiền
quả bao
nhiêu.
Công coi
chỉ tay,
chỉ chân
chẵn hai
chục.
Bói bài
20. Xem
bốc dịch
20. Bớt
10 đồng,
lấy 50
thôi.
Anh
Chiến
móc túi
đưa tờ
“Bác Hồ
nhìn
thẳng”
màu đỏ.
Tôi bước
ra ngoài
nói bà
Tám sống
khoẻ ru.
Thời
buổi
này,
biết
được một
thứ là
sống
nhàn hạ,
đằng này
bà Tám
làm đủ
thứ. Bốc
dịch,
lên
đồng,
bói bài,
xem chỉ
tay rồi
con xem
chỉ bàn
chân nữa
chứ. Gì
chứ món
này khỏi
sợ ai
cạnh
tranh.
Đi khắp
Sài
Gòn-Chợ
Lớn,
chưa có
ai biết
xem chỉ
bàn chân
như bà.
Anh
Chiến
nói
thiệt là
tào lao,
ông địa,
vậy mà
bà cũng
tin. Hồi
nãy tôi
nghe bà
nói mai
mốt gì
đó bà sẽ
được con
trai nhà
lành hỏi
cưới,
tôi nhịn
cười
muốn
chết. Bà
mà đi
lấy
chồng,
tôi tình
nguyện
dọn dẹp,
rửa nhà,
rửa chén
ba ngày
ba đêm.
Tôi cười
hí hí
nói ai
mà biết
được
chuyện
ngày
mai.
Năm chà
và con
nhỏ Hằng
nghe tôi
kể
chuyện
đi coi
bói tụi
nó cười
muốn vỡ
bụng.
Tưởng
sao hai
bà biểu
tôi dẫn
đi xem
(mình
ngu mà
có đứa
ngu
hơn).
Năm Chà
khoái
cái vụ
xem chỉ
bàn
chân, bả
lo tu
hành còn
mơ chi
ba cái
vụ vượt
biên,
vượt
biển. Ra
xứ ngoài
biết có
chùa mà
đi lạy
Phật
không
đây. Nhỏ
Hằng thì
khoái
cái vụ
bốc
dịch. Nó
phân bì
với tôi
sao cái
số của
bà gặp
hết
người
này tới
gặp
người
khác.
(Nó làm
như
chuyện
thiệt!)
Tôi dặn
nó khi
nào bà
Tám thấy
bói bảo
hái cái
lá, thì
hái đóa
hoa. Mà
nhớ lựa
hoa còn
búp.
Không
chừng sẽ
gặp con
trai
đồng
trinh.
Ba con
yêu nữ
lại
cười…
muốn vỡ
nhà.
Mấy tuần
sau
chúng
tôi trở
lại nhà
bà Tám
thầy bói
để cho
Năm Chà
và Hằng
“thoả
mãn”
Nó cứ rủ
rê, rù
rì một
tai. Hèn
gì nhà
bà Tám
lúc nào
cũng
đông…
khách
thập
phương.
Rủi thay
hôm đó,
bà không
có nhà.
Chỉ có
thằng
con lớn
đang
đứng nấu
cơm, kho
cá.
Thằng
nhỏ cũng
bặt
thiệp
dữ, xưng
tên Danh
và mời
mấy chị
ngồi
chơi,
chờ Má
em, chắc
cũng gần
về rồi
đó. Tôi
không
chịu
ngồi một
chỗ mà
đi vòng
quanh
xem cái
này, ngó
cái kia.
Tôi bước
lại gần
xem
thằng
Danh làm
bếp.
Chà, nấu
canh
chua cá
lóc ngon
dữ. Nó
biết lấy
trứng cá
cá lóc
để vào
chén,
dầm cho
nát ra
rồi bỏ
vào nồi,
nổi lên
mặt vàng
óng…
thấy
thèm.
Tôi đứng
gần,
chắc
lưỡi hít
hà. Con
trai mà
giỏi quá
vầy nè.
Mai mốt
đố khỏi
làm mọi
cho vợ.
Thằng
nhỏ
chẳng
vừa đáp
lễ, vợ
mình
mình làm
mọi, chớ
có làm
mọi vợ
ai đâu
mà sợ.
Năm Chà
và con
Hằng
cười rúc
rích.
Hai bả
đang lấy
bộ bài
của bà
Tám binh
xập xám.
Thằng
Danh hỏi
tôi cái
anh hôm
trước
đâu sao
không
thấy. Có
phải chị
là vợ
của ảnh.
Tôi nói
phải,
nhưng
chị chỉ
làm vợ
thuê, vợ
tháng mà
thôi.
Thằng
nhỏ có
vẻ không
hiểu rõ.
Tôi nói
thêm,
nghĩa là
ảnh bỏ
tiền ra
thuê chị
làm vợ,
giống
như
người ta
thuê
người
làm vậy
đó. Nhỏ
Hằng
nghe vậy
nói vừa
phải
thôi chứ
bà, lên
đây binh
xập xám
nè.
Thằng
Danh
nghe vậy
lật đật
chạy lên
phòng
riêng
của Má
nó, mặt
mày xanh
lét,
trời đất
ơi! bộ
bài của
má em để
dành coi
bói. Bả
về thấy
được
chửi ba
ngày
chưa
dứt. Năm
Chà lẹ
tay xếp
gọn để
vào chỗ
cũ. Tôi
đùa dai,
làm bộ
đến chấp
tay xá
xá, nói
xin ông
thần bài
cào, tha
tội cho
ba con
yêu nữ
này.
Thằng
Danh hỏi
tôi sao
gọi yêu
nữ. Tôi
nói với
nó, một
cách rất
nghiêm
trang,
yêu nữ
nghĩa là
người nữ
rất đáng
yêu.
Ngồi chờ
bà Tám
từ lúc
thằng
con trai
bà nấu
cơm… cho
tới khi
cơm
chín, cá
kho,
canh
chua bay
mùi thơm
phức mà
bà cũng
chưa về.
Thằng
con trai
cũng bặt
thiệp,
sẵn bữa
mời ba
chị dùng
cơm nhà
nghèo
với tụi
em. Ba
chị chỉ
chờ có
thế,
nhào vào
ăn liền
một cách
rất tự
nhiên.
Nhỏ Hằng
nói mình
đi ăn
chực,
ngon thì
thôi!
Cơm nước
no nê,
Năm Chà
bắt đầu
thèm
thuốc
lá. Bả
ngó tới
gói
Samit để
trên bàn
thờ tổ
lom lom,
nhưng
còn
kiêng dè
sợ phạm
thánh.
Tôi thì
thèm cà
phê đá,
rủ mấy
bả đi về
cho rồi,
bữa khác
trở lại
coi bói.
Thằng
Danh ham
vui, đòi
đi theo,
nó nói
em cũng
ghiền cà
phê đá
nhứt
nhà.
4.
Một buổi
sáng
Chiến
xách xe
Honda rủ
đi Vũng
Tàu. Tôi
bỏ hai
bộ quần
áo vào
cái túi
xách đi
theo
chàng,
không
kịp cho
Dì Hai
biết
tin.
Đến Cấp
đã quá
trưa,
chúng
tôi ghé
vào quán
ăn cơm
và sau
đó tìm
mướn
khách
sạn.
Chiến
uống bia
người
mệt mỏi
nằm ngủ
say vùi.
Tôi bỏ
chàng
nằm chèo
queo
trong
phòng,
xuống
biển tắm
một
mình.
Khi trở
về lại
khách
sạn,
Chiến
tỉnh
giấc,
chàng ôm
tôi hôn
lấy hôn
để và
đòi làm
tình.
Tôi nói
ông đi
tắm rửa
sạch sẽ
tôi mới
cho yêu.
Chàng
ngoan
ngoãn
bước
xuống
giường
đi vào
phòng
tắm.
Sau đó
tôi và
Chiến đi
ăn cơm
tối,
Chiến
lại uống
rượu.
Tôi nói
sao bữa
nay ông
hứng
uống dữ
vậy.
Chàng
nói buồn
quá.
Chúng
tôi trở
về khách
sạn,
chàng ôm
ấp tôi
một hồi
mà không
đủ sức
làm
tình,
quay ra
ngủ như
chết.
Tôi buồn
bã một
mình
lang
thang về
phía
biển.
Tôi ngồi
dưới gốc
cây ở vệ
đường
bãi
trước
ngó về
phía
ngoài
khơi xa
thẳm.
Đêm
không
trăng,
biển
Vũng Tàu
tối âm
u, gió
từng cơn
làm cho
tôi thêm
u buồn.
Lần đầu
tiên
trong
đời tôi
thấy
cuộc
sống của
mình
thật bấp
bênh.
Liên hệ
với
Chiến
chẳng
đem lại
cho tôi
một chút
an ủi
nào. Đời
sống của
chàng và
tôi càng
ngày
càng có
nhiều
trái
ngược.
Nghĩ đến
cảnh
chàng
đang nằm
ngủ vùi
trong
phòng
khách
sạn, tôi
thấy
thật
không
hợp với
chàng
một chút
nào cả.
Tôi định
đứng lên
bước ra
về thì
bật chợt
gặp
Danh,
thằng
con trai
bà Tám
thầy
bói. Vừa
lúc nó
gặp tôi
mừng rỡ
gọi chị
Huệ, chị
Huệ. Nó
rủ tôi
vô một
cái quán
ở bãi
trước ăn
khô mực,
uống la
ve. Tôi
nói em
mà cũng
uống la
ve nữa
hả. Nó
than
buồn
quá. Tôi
nhớ lời
Chiến
than hồi
chiều,
buồn
quá.
Danh hỏi
tôi khi
xa Vũng
Tàu có
buồn
không.
Tôi nói
sống ở
một phố
biển là
điều tôi
ước mơ.
Nhưng
Sài Gòn
là nơi
tôi có
nhiều kỷ
niệm
nhất.
Khi nào
xa Sài
Gòn,
chắc tôi
sẽ nhớ
ngôi chợ
Xả Rác
đến ốm o
gầy mòn.
Danh
uống
thêm một
hớp rượu
và than
buồn
quá. Tôi
thấy nó
hình như
có một
điều gì
muốn dấu
giếm.
Trời đã
khuya,
bãi biển
bắt đầu
vắng
người.
Tôi đứng
dậy nói
thôi về
đi Danh
ơi, con
nít uống
rượu
nhiều
không
tốt.
Danh hỏi
chị ở
đâu. Tôi
chỉ về
khách
sạn ở
phố
ngang
nhà lồng
chợ.
Danh nói
em phải
về Long
Hải ngay
bây giờ,
chắc
thằng
Trí và
con Liên
đang
trông em
dữ lắm.
Tôi hỏi
tụi em
làm gì ở
bên đó.
Thằng
nhỏ nhìn
tôi buồn
bã,
giọng
của nó
còn buồn
hơn,
chắc em
không có
dịp gặp
lại chị
nữa đâu.
Tôi chợt
hiểu, và
một nỗi
buồn man
mác chợt
dấy lên
trong
lòng.
Danh dẫn
tôi đến
chỗ nó
gửi
chiếc xe
Honda.
Thằng
nhỏ nổ
máy mà
còn
luyến
tiếc
chưa
muốn đi.
Tôi nói
chúc
bình an.
Danh
bỗng
dưng rủ
tôi đi
với nó
về Long
Hải và
không
hiểu
sao, tôi
leo lên
yên sau
ôm eo
ếch nó
cứng
ngắt.
Thằng
Danh
phóng xe
như bay
trong
đêm tối.
Đến Long
Hải lúc
gần nửa
đêm,
trời tối
đen, đâu
đây
tiếng
chó sủa
làm tôi
rùng
mình.
Danh đưa
tôi đến
nhà chủ
ghe, nơi
có 2 đứa
em nó ở
đó chờ
từ mấy
ngày
nay. Vừa
bước đến
cổng,
tôi đã
có linh
cảm
không
ổn. Hai,
ba tên
phường
đội cầm
súng
đứng
phía
trước
nhà.
Danh
khôn hồn
nắm tay
tôi vọt
lẹ.
Chừng
một
khoảng
đường
mấy trăm
thước,
Danh lủi
vào một
căn nhà
ở mé
biển,
tôi run
sợ đứng
khép nép
ở ngoài
hiên.
Một
người
đàn bà
bước ra
nói trời
ơi! Danh
mày đi
đâu mất
tiêu
vậy, tao
tưởng
mày dính
rồi chớ.
Thằng
Danh hỏi
hai đứa
em tôi
có sao
không
bác Tư.
Người
đàn bà
nói nho
nhỏ,
không có
sao,
chẳng có
ai bị gì
cả. Bà
ta nhìn
tôi có ý
muốn hỏi
chị này
là ai
đây. Tôi
hiểu ý,
mỉm cười
nói
thiệt
may quá.
Người
đàn bà
đó dẫn
tôi và
Danh đi
đến một
cái chùa
ở gần
đó, bà
ta nói
mầy ở
tạm đây
đi, yên
ổn hơn
đằng nhà
tao.
Tôi và
thằng
Danh
được đưa
vào hậu
liêu của
một ngôi
chùa…
lánh
nạn. Đây
cũng
giống
như nhà
bếp,
nhưng có
đặt thêm
một
chiếc di
văng
bằng gỗ,
ở chính
giữa nhà
có đặt
bàn thờ
Phật,
góc trái
có đặt
bàn thờ
ông Quan
Thánh Đế
Quân.
Chùa
không có
điện.
Một ngọn
đèn dầu
lù mù
trên bàn
Phật.
Không có
ai ở
dưới hậu
liêu
này, bốn
bề im
vắng
thật dễ
sợ. Tôi
và Danh
ngồi
trốn ở
một góc
phòng,
hồi hộp
chờ đợi.
Tôi nghĩ
chuyến
đi đã bị
bể, chủ
ghe bị
bắt và
chẳng
mấy chốc
công an
sẽ đến
đây tóm
cổ cho
mà xem.
Nghĩ đến
Chiến
đang nằm
chèo
queo ở
Cấp. Bể
chuyện
ổng sẽ
chửi tôi
thậm tệ.
Thằng
chả sẽ
nói đáng
kiếp cho
đồ… phản
bội.
Thật là
oan ơi
ông Địa.
Khi
không
vướng
vào cái
vụ kỳ
cục này.
Người ta
đi vượt
biên bị
bắt đã
đành,
còn tôi
đi theo
chơi bị
bắt
thiệt là
hết chỗ
nói.
Tôi kề
tai Danh
nói nhỏ,
có sao
không,
chị hồi
hộp quá.
Danh nắm
tay tôi
trấn an,
không
sao đâu,
số của
em may
mắn lắm.
Em có số
vượt
biên, Má
em coi
ngày,
coi tuổi
cho mấy
tụi em
rồi mới
cho đi
chớ. Bàn
tay Danh
nắm tay
tôi một
cách rất
đàn ông.
Nó nói
chị có
mệt, dựa
lên vai
em mà
nghỉ.
Tôi tựa
sát vào
người
nó, một
hơi hướm
đàn ông
thật dễ
chịu.
Thằng
Danh
không
ngồi im
mà cựa
quậy.
Người nó
ấm dần.
Tôi nghe
tiếng nó
thở dồn
dập một
bên tai.
Nó bắt
đầu đưa
bờ môi
mơn trớn
vành tai
của tôi.
Tới
chừng nó
nhẹ đưa
đầu lưỡi
chạm vào
lỗ tai
thì tôi
chịu hết
nổi. Tôi
đẩy nó
ra bảo
đừng
Danh. Nó
ngồi im
được một
chút xíu
rồi lại
bắt đầu
cái mửng
cũ. Tôi
xô nó ra
nói thôi
mà, làm
ở trong
chùa tội
chết.
Nhưng
thằng
nhỏ giờ
phút này
còn có
biết gì
nữa,
công an
nó còn
chưa sợ,
sợ gì
tội. Tôi
ngó lên
bức hình
ông Quan
Công
trên bàn
thờ, tôi
nói coi
chừng
cái ông
cầm cây
Thanh
Long đao
kìa.
Danh
bước đến
thổi tắt
phụt
ngọn đèn
dầu.
Trong
phòng
bỗng tối
mực.
Danh đã
cởi áo
tự hồi
nào. Nó
kéo tôi
nằm ngữa
ra nền
xi-măng.
Bóng tối
như đêm
làm cho
dạn dĩ
hơn,
không
còn mặc
cảm tội
lỗi nữa,
tôi ôm
Danh với
tất cả
ham mê.
Thằng
nhỏ tuổi
trẻ mà
tài cao.
Nó làm
tình như
giông,
như bão.
Tôi hối
thằng
Danh mặc
quần áo
vào.
Công an
đến bắt
tụi mình
phạm hai
tội một
lượt. Nó
ôm tôi
hôn lên
gáy nói
thương
quá,
thương
quá, cử
chỉ thật
đàn ông.
Tôi nghe
tiếng
chân
người
đi,
trống
ngực
đánh
thình
thịch.
Số tui
xui lắm,
rớ vô
ông nào
ông đó
thân bại
danh
liệt.
Tôi chắc
mẽm sẽ
bị công
an tới
bắt dẫn
về bót
cho mà
coi.
Cánh cửa
phòng
nhẹ mở,
một
giọng
nói nho
nhỏ.
Danh,
Danh.
Thằng
Danh
đứng dậy
nắm tay
tôi đi
theo
người
đàn bà
ban tối.
Chúng
tôi âm
thầm đi
với nhau
trong
đêm len
lỏi qua
xóm nhà
dân chài
bờ biển
Long
Hải. Một
chiếc
ghe nhỏ
đậu chờ
sẵn.
Người
đàn ông
trên ghe
nói với
người
đàn bà,
ba anh
em thằng
này thôi
phải
không.
Còn cô
kia, đi
cách nào
vậy? Tôi
bỗng cảm
thấy
thừa
thải,
trơ
trọi. Bị
bỏ lại
trong
hoàn
cảnh này
hơi tủi
thân dù
ba cái
chuyện
đi đứng
tôi chưa
bao giờ
mong
tới.
Thằng
Danh nói
với tôi
cứ nhẩy
xuống
ghe đại,
không có
sao đâu.
Ở đầu
mũi
chiếc
ghe có
úp một
chiếc
thúng
rất lớn,
Danh bảo
tôi nhẩy
xuống
ghe nằm
trốn
trong
đó. Bỗng
đâu có
khoảng
bảy, tám
người từ
trên bờ
chạy đến
canh me.
Người
đàn ông
la lối
om sòm.
Hắn chửi
thề ỏm
tỏi. Hắn
doạ ra
khơi sẽ
thảy
xuống
biển cho
cá mập
làm
thịt.
Thừa lúc
lộn xộn
thằng
Danh
thảy tôi
xuống
ghe. Nó
lấy cái
thúng úp
tôi lại.
Tôi nằm
im lặng,
lâu lâu
hé miệng
thúng để
thở…
chút
không
khí
ngoài
trời.
Biển đêm
tối như
mực,
tiếng
ghe chạy
êm ru
giữa
vùng
vắng
lặng.
Ghe chạy
độ hơn
một giờ
thì đến
điểm
hẹn.
Chiếc
ghe lớn
đậu sẵn
chờ rước
khách.
Tại đây,
xảy ra
một cảnh
hỗn loạn
hơn khi
trước.
Rất đông
người đi
canh me.
Họ chờ
chực,
canh từ
ghe con
qua ghe
lớn.
Thằng
Danh lo
cho tôi
và hai
em nó
chu
toàn.
Con tàu
từ từ
tiến vào
biển
Đông
trong
màn đêm.
Khi mặt
trời lên
cao, tàu
chúng
tôi đến
được hải
phận
quốc tế.
Chiều
tối hôm
đó con
tàu đè
ngang
Côn Sơn.
Thủy thủ
cố
tránh,
lái thật
xa. Danh
chỉ tôi
nhìn về
phía
trong
kia xa
thẳm, nó
nói Côn
Sơn. Tôi
chỉ thấy
trời mây
bát
ngát.
Một tuần
lễ sau
tàu
chúng
tôi đến
được một
chùm đảo
nhỏ
thuộc
Nam
Dương.
Bước lên
trại
Kuku
người
tôi còn
say sóng
đi đứng
lạng
quạng.
Đầu óc
cũng
chưa
tỉnh táo
hẳn.
Chẳng
khác nào
một giấc
chiêm
bao. Mấy
đêm liền
tôi cứ
mơ thấy
về Việt
Nam. Tôi
thấy Dì
Hai, Năm
Chà và
con nhỏ
Hằng.
Trong
giấc
chiêm
bao, tôi
thấy như
đang đi
trong
chợ Xả
Rác thân
quen. Có
lúc tôi
thấy như
đang về
thăm nhà
cha, mẹ
ở Cao
Lãnh. Có
khi tôi
thấy bị
công an
Việt
Cộng
bắt.
Tỉnh dậy
tôi vẫn
còn bàng
hoàng,
khi thấy
thằng
Danh nằm
ngủ cạnh
một bên
mới biết
là mình
đang ở
Indonesia.
Thật là
tức
cười.
Khi
không
vượt
biên.
Nghĩ đến
cảnh
Chiến
nằm ngủ
một mình
ở khách
sạn,
chàng sẽ
nghĩ gì
về tôi.
Tôi sẽ
nói thế
nào với
con nhỏ
Hằng và
Năm Chà
về cái
vụ này.
Rời Việt
Nam tôi
để lại
hai
tháng
hụi chết
chưa
đóng.
Còn
thiếu Dì
Hai ba
trăm
đồng.
Ngoài ra
còn tài
khôn đi
cầm dùm
con Diễm
chiếc
nhẫn
xoàn 4
ly. Đi
Vũng Tàu
với
Chiến,
tự nhiên
tôi mất
tích.
Chẳng ai
biết
sống
chết ra
sao.
Chắc tụi
nó xúm
lại làm
thịt ông
Chiến.
Đâu có
ai ngờ
tôi đang
ngồi rầu
rĩ tại
một hải
đảo xa
xăm này
đây.
Đảo Kuku
có một
trại tạm
trú cho
phần
đông
người
vượt
biển đến
được Nam
Dương.
Nơi đây
chỉ là
chỗ ở
tạm, nhà
cửa ọp
ẹp thô
sơ.
Chúng
tôi
chiếm
một căn
nhà nhỏ,
gần bệnh
xá. Mái
nhà lợp
lá đã
cũ, mục
nát. Có
nhiều
đêm mưa
to gió
lớn,
nước mưa
rơi
xuống
mặt,
xuống
chân lộp
bộp.
Chúng
tôi xin
được hai
cái mùng
cũ, tôi
ngủ một
mình,
Danh và
hai em
nó ngủ
chung.
Hai cái
mùng
giăng kề
nhau
trên một
chiếc
chõng
làm bằng
những
thanh
cây nhỏ.
Thằng
Danh nằm
cạnh
tôi. Nó
thường
thò
chân,
thò tay
qua chỗ
tôi nằm.
Tôi mang
mặc cảm
tội lỗi
từ cái
đêm làm
bậy, làm
bạ ở
trong
chùa nên
không
muốn
cảnh đó
tái
diễn. Để
ngăn
ngừa,
tôi cho
phép
thằng
Danh mỗi
lần chỉ
được xâm
phạm
biên
giới một
món mà
thôi.
Nếu cái
đầu ló
qua, thì
bàn tay
bàn chân
phải ở
vị trí
cũ.
Thường
thường
thì Danh
tôn
trọng
cam kết
lúc đầu
hôm. Tới
chừng
giữa
khuya,
khi hai
em nó đã
ngủ mê,
nó xé
thoả ước
chun qua
mùng tôi
luôn. Và
thường
thì
chừng đó
tôi đã
hết mặc
cảm tội
lỗi, tôi
phó mặc
chuyện
gì tới…
cứ việc
tới.
Trời lại
mưa gió
ầm ỉ…
thằng
Danh nằm
trong
mùng tôi
cho tới
sáng
bét… mới
chịu trở
về. Vậy
mà hai
đứa em
nó cũng
chẳng
hay,
chẳng
biết.
Cái vụ
này kéo
dài hoài
không
dứt
được.
Càng gần
gũi,
Danh
càng mê,
càng
ghiền.
Nó đang
sức lớn,
khỏe như
voi.
Danh làm
tình như
giông
gió… Khi
rời đảo
Kuku,
chuyển
qua trại
Galang,
thằng
Danh sắp
xếp cho
tôi ở
một góc
kẹt của
barrack.
Dĩ nhiên
nó cũng
giăng
mùng nằm
kế cận.
Anh
chàng
đóng
kịch rất
tài. Ban
ngày nó
xưng em
và gọi
tôi bằng
chị. Tôi
với nó
cứ chị
chị, em
em mà
tối nào
cũng ôm
ấp yêu
thương.
Vướng
vào cái
vụ tình
cảm này,
tôi rầu
ghê. Tôi
đã nói
trước
rồi,
cuộc đời
tôi luôn
luôn gặp
chuyện
tréo
cẳng
ngỗng.
Tiếu lâm
hơn nữa
là Danh
lại
khoái
làm lớn.
Hằng
đêm, ở
trong
mùng, nó
gọi tôi
là cưng
và xưng
anh. Đối
với nó,
hễ làm
đàn ông…
là làm
anh.
Tôi gửi
thư về
cho Dì
Hai, Năm
Chà và
con
Hằng.
Tôi chỉ
nói đại
khái tôi
đã ra đi
một cách
rất tình
cờ.
Nhưng
tôi dấu,
không
cho biết
đi với
ai. Làm
sao tôi
có thể
thú
thiệt
với họ
là tôi
đi theo
thằng
con bà
thầy bói
đây hở
trời!
Tôi gửi
lời thăm
Chiến,
mong
chàng
sớm
quên…
một đoá
hoa lục
bình.
Giờ đây
đã ra
biển
lớn…
trôi về
một
phương
trời xa
thẳm.
Tôi nhờ
Năm Chà
đóng dùm
tôi 2
tháng
hụi và
lo tiền
chuộc
chiếc cà
rá cho
con
Diễm.
Khi nào
sang Mỹ,
tôi sẽ
gửi trả
lại… có
tiền lời
đầy đủ.
Lúc gần
đi định
cư tôi
nhận
được thư
nhỏ
Hằng. Nó
đại diện
cả nhà,
viết thư
chúc
mừng
tôi… đã
tới được
thiên
đường.
Mở đầu
thư, nó
sĩ vả
tôi
trước.
Nó nói
bạn bè
thiệt là
xấu, có
gì ngon…
dấu ăn
một
mình. Nó
nói tôi
tính
vượt
biên,
sao
không rủ
rê bà
con với.
Nó bảo
ông
Chiến
rầu rĩ
tới mấy
tháng
trời…
ổng sợ
bà nhẩy
xuống
biển tự
tử. Tới
chừng
được tin
bà bình
an ở xứ
người,
ổng than
không dè
bị bà đá
đít. Đau
còn hơn
bị thiên
sắc. Nhỏ
Hằng nói
cở này
ông
Chiến
trúng áp
phe lia
chia.
Tiền vô
như
nước.
Ngày nào
ổng cũng
xuống
chở nó
đi ăn
nhậu. Nó
còn phán
một câu,
số bà
thiệt
xui,
dính vô
ông nào,
ông đó
mạt rệp.
Coi nó
ăn nói
như vậy
đó. Nhỏ
Hằng cho
biết nó
có trở
lại nhà
bà Tám
xem bói.
Nó nói
cố làm
theo lời
tôi dặn,
lúc bà
bảo nó
ra vườn
hái cái
lá nó
cố tìm
một đoá
hoa còn
búp
nhưng
rủi hôm
đó trong
vườn chỉ
còn mỗi
một đoá
hoa đã
nở rồi.
Nó hái
đại, có
còn hơn
không
hoa cũng
còn sắc,
còn mùi
thơm.
Tôi nghĩ
đến ông
Chiến.
Tôi chưa
bao giờ
mong đợi
điều
này.
Nhưng
biết đâu
chừng nó
sẽ đến.
Cái gì
mà tôi
không
mong… nó
cũng
đến. Sau
cùng Năm
Chà có
vài lời
nhắn
gửi,
mừng cho
tôi. Số
bà coi
vậy mà
hên lắm
đó nhe.
Chị ta
bảo tôi
đừng lo
ba cái
vụ nợ
nần,
tính
xong
rồi. Chỉ
mong
sang Mỹ
đừng
quên,
lâu lâu
gửi về
một
thùng
quà là
được.
Đọc thư
tôi thấy
vui vô
cùng.
Nhớ dễ
sợ cái
xóm nhỏ
ở chợ Xả
Rác. Tôi
đi rồi,
hai con
yêu kia
chắc sẽ
lo tu
tỉnh làm
ăn. Tôi
thì kể
như rồi
đời, có
muốn
quậy
cũng
không
được.
Tôi đã
mang bầu
hai
tháng.
Lúc này
phải mặc
áo rộng
để tránh
sự tò mò
của bà
con
trong
trại ưa
dòm ngó.
Danh
khoái
chí sắp
lên
chức.
Buổi tối
nó chun
vô mùng
tôi sớm
hơn
thường
lệ.
Không
còn đợi
đến nửa
đêm
thanh
vắng như
trước.
Nó làm
cái điệu
“cha của
đứa con
tôi”
không
bằng.
Danh
tuổi còn
nhỏ,
nhưng tư
cách rất
đàn ông.
Nó có
nhiều
điều rất
hợp với
tôi. Lâu
dần tôi
cảm
thấy…
thương
nó ghê.
Nhất là
kể từ
khi tôi
có bầu.
Tôi tựa
đầu lên
vai Danh
âu yếm,
nữa mình
đặt con
tên Việt
Nam hay
tên Mỹ.
Nó mỉm
cười
hiền hỏi
em muốn
thế nào.
Tôi hỏi
nó có
cho Ba,
Má bên
nhà hay
chưa.
Danh
nhìn tôi
cười,
chưa. Ai
dám,
biết
được
ổng, bả
giủa
chết. Và
chừng
như sợ
tôi
buồn, nó
xoay
ngang ôm
tôi hôn.
Danh
luồn nhẹ
bàn tay
lên bụng
tôi. Nó
nói
thương
cục cưng
này lắm
à nhe.
Nó an
ủi. “Mà
ổng, bả
biết
cũng
chẳng có
sao. Ở
tuốt bên
Việt Nam
xa lắc
làm gì
được
mình.”.
« đề lô
» danh
từ gọi
tiền sát
viên
pháo
binh
trong
quân đội
Cộng-Hoà
Hoa Kỳ,
tháng
11-1987
Nguyễn
Thạch
Giang
|
|
|
|
|
 |