|
Âm
Dương
-
Ngũ
Hành
luận
(Ngư
Hóa
Long
sưu
tầm)
|
| |
Âm
Dương
Ngũ
Hành
luận:
Nền
tảng
của
lý
học
Phương
Đông
Vạn
vật
được
sinh
ra
do
âm
dương
giao
hòa,
vạn
vật
cũng
biến
dịch
đắp
đổi
nhau
như
sáng
tối,
thịnh
suy,
cứng
mềm,
nóng
lạnh,
động
tịnh,
tốt
xấu,
sướng
khổ,
sống
chết
...
Sự
đắp
đổi
nhau
theo
nguyên
tắc
trong
âm
có
dương
và
trong
dương
có
âm.
Không
thể
có
một
vật
độc
dương
hoặc
độc
âm.
Vật
được
gọi
là
dương
vì
dương
thịnh
âm
suy
và
Vật
được
gọi
là
âm
vì
âm
thịnh
dương
suỵ
I-
Âm
dương
luận.
1/
“Đạo
sinh
nhất,
nhất
sinh
nhị,
nhị
sinh
tam,
tam
sinh
vạn
vật”.
-
Đạo
là
gì,
là
Thiên
lý,
là
nguyên
lý
vận
động
của
tự
nhiên.
-
Nhất
là
gì,
là
Thái
cực
là
thể
duy
nhất
của
Đạọ
-
Nhị
là
gì,
là
nhất
âm
nhất
dương.
-
Tam
là
gì,
là
sự
giao
hòa
âm
dương
theo
nguyên
lý
vận
động
của
Đạo,
nhờ
sự
giao
hòa
âm
dương
mà
vạn
vật
sinh
rạ
2/Âm
Dương
biến
dịch.
- Âm
dương
biến
dịch
theo
đâu,
âm
dương
biến
dịch
theo
lý
biến
dịch
của
Thiên
lý (của
trời
đất)
nghĩa
là
Dịch
Lý.
- Lý
biến
dịch
của
Thiên
lý
theo
nguyên
lý
nào,
theo
nguyên
lý
phản
phục
như
sáng
tối,
mưa
nắng,
nóng
lạnh...
-
Vạn
vật
được
sinh
ra
do
âm
dương
giao
hòa,
vạn
vật
cũng
biến
dịch
đắp
đổi
nhau
như
sáng
tối,
thịnh
suy,
cứng
mềm,
nóng
lạnh,
động
tịnh,
tốt
xấu,
sướng
khổ,
sống
chết…Sự
đắp
đổi
nhau
theo
nguyên
tắc
trong
âm
có
dương
và
trong
dương
có
âm.
Không
thể
có
một
vật
độc
dương
hoặc
độc
âm.
Vật
được
gọi
là
dương
vì
dương
thịnh
âm
suy
và
Vật
được
gọi
là
âm
vì
âm
thịnh
dương
suỵ
- Vì
vậy
“
Vạn
vật
phụ
âm
nhi
bão
dương,
xung
khí
dĩ
vi
hòa”
II-
Ngũ
hành
luận.
1/
Ngũ
hành
tương
Sinh
Kim
sinh
Thủy,
Thủy
sinh
Mộc,
Mộc
sinh
Hỏa,
Hỏa
sinh
Thổ
2/
Ngũ
hành
tương
Khắc
Kim
khắc
Mộc,
Mộc
khắc
Thổ,
Thổ
khắc
Thủy,
Thủy
khắc
Hỏa
3/
Ngũ
hành
tương
Lưỡng
(giống
nhau)
Kim
gặp
Kim,
Thủy
gặp
Thủy,
Mộc
gặp
Mộc,
Hỏa
gặp
Hỏa,
Thổ
gặp
Thổ.
4/
Âm
dương
Ngũ
hành
tức
là
Ngũ
hành
Âm
và
Ngũ
hành
Dương
(mỗi
hành
đều
có
âm
và
dương)
a/
Ngũ
hành
Dương
gặp
Ngũ
hành
Dương
và
Âm
gặp
Âm
gọi
là
Thiên,
nghĩa
là
thiên
lệch
hay
còn
gọi
toàn
Dương,
toàn
Âm -
sự
vật
biểu
hiện
hủy
diệt
.
b/
Ngũ
hành
Âm
gặp
Ngũ
hành
Dương
hay
ngược
lại
gọi
Chính,
nghĩa
là
Âm
Dương
tương
phối
“nhất
âm
nhất
dương
chi
vị
đạo”
-
vạn
vật
biểu
hiện
hòa
bình
và
sinh
sôi
nẩy
nở.
III/
Chế
hóa
Ngũ
hành
Để
chế
hóa
được
Ngũ
hành
thì
dựa
vào
Ngũ
hành
Bất
cập
hay
Ngũ
hành
Thái
quá.
Xin
lược
chép
lại
trong
sách
của
cụ
Hải
Thượng
Lãn
Ông
(Thánh
y
nước
Việt):
1/Ngũ
hành
Thái
quá.
ạ
Mộc
-
Khuếch
tán
khí
ôn
hòa
quá
sớm
làm
cho
vạn
vận
sớm
phát
dục.
b.
Hỏa
-
Khuếch
tán
khí
cường
liệt,
làm
cho
vạn
vật
đốt
cháy
chẳng
yên.
c.
Thổ
- Có
khí
nồng
hậu
rắn
chắc
trở
lại
làm
cho
vạn
vật
không
thể
thành
hình.
d.
Kim
– Có
khí
cứng
cỏi
làm
cho
vạn
vật
ngay
thẳng.
ẹ
Thủy
– Có
khí
đầy
tràn,
làm
cho
vạn
vật
phiêu
lưu
không
thể
về
chỗ
thái
quá
là
làm
mất
sức
bình
thường.
2/
Ngũ
hành
Bất
cập.
ạ
Mộc
–
Không
có
khí
ôn
hòa,
làm
cho
vạn
vật
rũ
rượi
không
phấn
chấn.
b.
Hỏa
– Ít
khí
ấm
áp
làm
cho
vạn
vật
ảm
đạm
không
sáng.
c.
Thổ
-
Không
có
khí
sinh
hóa,
làm
cho
vạn
vật
yếu
đuối
không
có
sức.
d.
Kim
–
Không
có
khí
cứng
cỏi,
làm
cho
vật
mềm
giãn
không
có
sức
đàn
hồị
ẹ
Thủy
–
Không
có
khí
phong
tàng
làm
cho
vạn
vật
khô
queọ
3/
Ngũ
hành
Bình
khí.
ạ
Mộc
– Nó
phân
bố
ra
khí
ôn
hòa,
làm
cho
vạn
vật
tươi
tốt.
b.
Hỏa
–
Sáng
chói
mà
có
cái
khí
thịnh
trưởng,
làm
cho
vạn
vật
dồi
dàọ
c.
Thổ
-
Đầy
đủ
khí
sinh
hóa
vạn
vật,
làm
cho
vạn
vật
được
đầy
đủ
hình
thể.
d.
Kim
–
Phát
ra
khí
yên
tĩnh
hòa
bình,
làm
cho
vạn
vật
kết
quả.
ẹ
Thủy
– Có
khí
tĩnh
mịch
hòa
thuận,
làm
cho
vạn
vật
bế
tàng.
4/
Sinh
khắc
nghi
kỵ
Sinh:
ạ
Thổ
sinh
kim,
thổ
nhiều
thì
kim
bị
vùi
–
kim
nhiều
thì
thổ
yếụ
b.
Hỏa
sinh
thổ,
hỏa
nhiều
thì
thổ
tiêu
rụi
-
thổ
nhiều
thì
hỏa
tốị
c.
Mộc
sinh
hỏa,
mộc
nhiều
thì
hỏa
không
cháy
-
hỏa
nhiều
thì
mộc
cháỵ
d.
Thủy
sinh
mộc,
thủy
nhiều
thì
mộc
trôi
-
mộc
nhiều
thì
thủy
cạn.
ẹ
Kim
sinh
thủy,
kim
nhiều
thì
thủy
tràn
-
thủy
nhiều
kim
chìm.
Khắc:
ạ
Kim
khắc
mộc,
mộc
nhiều
kim
cùn
–
kim
nhiều
mộc
gãỵ
b.
Mộc
khắc
thổ,
thổ
nhiều
mộc
gãy
-
mộc
nhiều
thổ
nghiêng
đổ.
c.
Thổ
khắc
thủy,
thủy
nhiều
thổ
trôi
-
thổ
nhiều
thì
thủy
ứ.
d.
Thủy
khắc
hỏa,
hỏa
nhiều
thủy
cháy
-
thủy
nhiều
hỏa
diệt.
ẹ
Hỏa
khắc
kim,
kim
nhiều
hỏa
ngưng
-
hỏa
nhiều
kim
tiêụ
IV-
Thiên
lý
hay
nguyên
lý
vận
động
của
tự
nhiên
1/
Lý
giao
hòa
và
mâu
thuẫn
Vạn
vật
sinh
ra
do
âm
dương
giao
hòạ
Trong
mỗi
sự
vật,
cặp
âm
dương
này
lại
phát
sinh
mâu
thuẫn.
Trong
sự
giao
hòa
có
sự
mâu
thuẫn
và
mâu
thuẫn
đem
đến
sự
giao
hòa,
không
riêng
một
vật
nào
mà
vạn
vật,
toàn
thể
giới
tự
nhiên
đều
có
liên
hệ
giao
hòa
với
nhaụ
Mâu
thuẫn
dễ
nhận
ra
nhất
là
mâu
thuẫn
trong
quan
hệ
giữa
người
với
người
và
mâu
thuẫn
trong
nội
tâm
mỗi
ngườị
Chính
vì
vậy
phải
giải
quyết
được
hai
thái
cực
ngược
nhau,
mới
tránh
được
tiêu
diệt
nhau,
và
luôn
điều
chỉnh
cho
hòa
nhau
mới
hòa
bình.
2/
Lý
phản
phục
tuần
hoàn.
Âm
dương
hoà
đồng
biến
dịch
sinh
hóa
nên
sự
vật
cũng
sinh
hóa
theo
lẽ
phản
phục
tuần
hoàn.
Trái
đất
quay
xung
quanh
mặt
trời,
sinh
ra
bốn
mùa
tám
tiết
là
biểu
hiện
sinh
động
của
luật
phản
phục
tuần
hoàn.
Đời
người
vinh
nhục,
được
thua,
còn
mất,
sinh
tử
cũng
là
biến
dịch
theo
luật
phản
phục
tuần
hoàn
của
trời
đất.
V-
Âm
Dương
Ngũ
hành
của
Can
Chi
và
phương
vị.
1/
Âm
dương
ngũ
hành
của
10
Can
Giáp
Ất
mộc,
Bính
Đinh
hỏa,
Mậu
Kỷ
thổ,
Canh
Tân
kim,
Nhâm
Quý
thủy
-
Giáp
Ất
Mộc
Đông
phương,
phân
lưỡng
nghi:
Giáp
dương,
Ất
âm.
-
Bính
Đinh
Hỏa
Nam
phương,
phân
lưỡng
nghi:
Bính
Dương,
Đinh
âm.
-
Mậu
Kỷ
thổ
Trung
ương,
phân
lưỡng
nghi:
Mậu
dương,
Kỷ
âm.
-
Canh
Tân
kim
Tây
phương,
phân
lưỡng
nghi:
Canh
dương,
Tân
âm.
-
Nhâm
Quý
thủy
Bắc
phương,
phân
lưỡng
nghi:
Nhâm
dương,
Quý
âm.
Bốn
mùa:
-
Mùa
xuân
sinh
khí
bắt
đầu
động
lên,
cây
cỏ
đâm
chồi
nẩy
lộc,
ngôi
vị
Đông
phương,
ngày
là
Giáp
Ất.
-
Mùa
hạ
sinh
khí
tiếp
thu
hỏa
khí
vạn
vật
sịnh
trưởng
biến
hóa
nhờ
hỏa,
ngôi
vị
Nam
phương,
ngày
là
Bính
Đinh.
-
Mùa
thu
vạn
vật
đổi
thay
hình
dạng,
vẻ
buồn
bã
âm
thầm
lặng
lẽ,
ngôi
vị
Tây
phương,
ngày
là
Canh
Tân.
-
Mùa
đông
vạn
vật
ẩn
náu,
có
vẻ
như
khiêm
nhường
như
nước
chảy
nhũn
nhặn,
như
là
mai
phục,
thực
là
đứng
đầu
ngũ
hành,
ngôi
vị
Bắc
phương,
ngày
là
Nhâm
Quý.
-
Thổ
ở
trung
ương,
nơi
xuất
tinh
khí
ra
để
nuôi
dưỡng
vạn
vật
và
thu
khí
về
làm
cho
vạn
vật
vẻ
như
bị
tiêu
diệt.
Ngôi
vị ở
trong,
ý
như
thông
suốt
mọi
việc.
Ngày
là
Mậu
Kỷ.
2/
Âm
dương
ngũ
hành
của
12
chi
Dần
Mão
mộc,
Tỵ
Ngọ
hỏa,
Thân
Dậu
kim,
Hợi
Tý
thủy,
Thìn
Tuất
Sửu
Mùi
thổ.
-
Dần
Mão
mộc
Đông
phương,
phân
lưỡng
nghi:
Dần
dương,
Mão
âm.
- Tỵ
Ngọ
hỏa
Nam
phương,
phân
lưởng
nghi:
Tỵ
âm,
Ngọ
dương.
-
Thân
Dậu
kim
Tây
phương,
phân
lưỡng
nghi:
Thân
dương,
Dậu
âm.
-
Hợi
Tý
thủy
Bắc
phương,
phân
lưỡng
nghi:
Hợi
âm,
Tý
dương.
-
Thìn
Tuất
Sửu
Mùi
thổ
cuối
4
mùa,
phân
lưỡng
nghi:
Thìn
(đông)
Tuất
(tây)
dương,
Sửu
(bắc)
Mùi
(nam)âm.
Bạch
hổ
thông
nghĩa
nói:
-
Thiếu
dương
hiện
ra ở
Dần,
thịnh
tại
Mão,
suy
ở
Thìn.
-
Thái
dương
hiện
ra ở
Tỵ,
thịnh
tại
Ngọ,
suy
ở
Mùị
-
Thiếu
âm
hiện
ra ở
Thân,
thịnh
tại
Dậu,
suy
ở
Tuất.
-
Thái
âm
hiện
ra ở
Hợi,
thịnh
tại
Tý,
suy
ở
Sửụ
3/
Can
chi
sinh
khắc:
Bảo
–
Nghĩa
-
Chế
-
Chuyên
-
Phạt
nhật.
“Độn
Giáp
kinh”
nói
rằng:
Ngày
Bảo
là
can
sinh
chi
–
Ngày
Nghĩa
là
chi
sinh
can.
Ngày
Chế
là
can
khắc
chi,
ngày
này
lợi
hành
quân.
Ngày
Phạt
chi
khắc
can,
ngày
này
kỵ
đánh
dẹp,
chinh
phạt,
xuất
quân,
cướp
đất.
Ngày
Chuyên
can
chi
ngũ
hành
tương
đồng,
ngày
này
kỵ
xuất
quân.”
“Tào
Chấn
Khuê
nói
rằng:
Can
sinh
chi
đó
là
được
thiên
thờị
Chi
sinh
can
được
địa
lợi
đấỵ
Can
khắc
chi
được
nhân
hòa,
ta
có
thể
chế
kẻ
khác
được.
Vì
thế
can
là
trời,
là
ta;
chi
là
đất
là
kẻ
khác.
Ngày
Phạt,
kẻ
kia
khắc
tạ
Can
là
tôn
(quí),
là
ta
chi
là
kẻ
kia,
ấy
là
ti
phạt
vào
tôn,
kẻ
khác
khắc
ta
đó
là
nghịch
vậỵ
Nay
can
chi
đồng
loại,
kẻ
khác
với
ta
cùng
đức,
thế
hai
bên
tương
địch,
bất
phân
thắng
phụ
(bại)
vì
vậy
kỵ
xuất
quân.”
4/
Ngũ
hành
4
mùa
và
tàng
ẩn
trong
con
ngườị
“Muôn
vật
đều
có
thủy
có
chung.
Mỗi
một
năm
có
ba
ngươn
Thượng-ngươn,
Trung-ngươn
và
Hạ-ngươn
rồi
trở
lại
Thượng-ngươn
nữạ
Mỗi
tháng
có 3
tuần.
Thượng-tuần,
Trung-tuần
và
Hạ-tuần.
Mỗi
tuần
có
10
ngàỵ
Mỗi
ngày
chia
làm
12
giờ,
Khởi
đầu
giờ
Tý
đến
giờ
Hợi
là
cùng,
rồi
khởi
đầu
lại
Tý
nữạ
Ấy
là
luật
tuần
hoàn
của
vũ-trụ.”
“Mùa
Xuân
thuộc
Mộc.
Mộc
là
cây
dùng
làm
biểu
hiện
cho
tất
cả
sự
vật
sinh-tồn
của
hóa
công.
Những
sinh
vật,
động
vật,
sở
dĩ
có
sự
sống
nối
liền
nhau
không
ngừng
là
nhờ
đức
của
hành
Mộc.
Cho
nên
cổ-nhân
mới
đặt
Mộc
là
đức
nguyên
và
để
khí
đầu
cho
mỗi
mùa
trong
vạn
vật
của
trời
đất,
làm
cho
đức
lớn
của
trời
đất
được
thêm
nẩy
nở ;
do
đó
đức
Khổng
sau
này
cũng
lấy
đây
làm
ngũ-thường
(Thiên
địa
chi
đại
đức
viết
sanh),
cho
nên
đức
lớn
của
con
người
là
lòng
Nhân.”
“Mùa
Hạ
Hỏa
vượng,
bởi
Mộc
sanh
Hỏa
mà
Hỏa
là
lửạ
Lửa
đây
là
lử
Thiên,
lửa
trời
soi
tỏ
vũ-trụ.
Lửa
người
là
sức
mạnh
của
tâm
linh
bồng
bột,
hay
làm
cho
con
người
thường
đi
quá
trớn,
nên
cổ-nhân
mới
lấy
chữ
Lễ
để
buộc
ràng
do
Lễ
tiếp
theo
Lễ-nhân.”
“Hoả
là
mặt
trời
soi
khắp
nơi
để
bồi
dưỡng
muôn
loài
và
duy-trì
cuộc
sinh-tồn
của
vũ-trụ,
không
có
lửa
đầm
ấm
thì
cỏ
cây
muôn
loài
không
phát
triển
được.”
“Mùa
Thu
Kim
vượng.
Kim
tượng-trưng
cho
nguồn
lợi
ích
vô
biên
của
tạo-hóa;
mùa
Thu
cũng
là
bắt
đầu
có
Bát-quái
và
quẻ
Càn.
Càn
là
Kim
mà
Kim
tức
là
vàng
bạc
kim
khí.
Bởi
cớ
ấy
đức
hành
Kim
là
Lợi,
vì
đó
mà
con
người
muốn
kìm
hãm
vào
lòng
ích
kỷ
dục-lợi
cầuđanh
thì
phải
biến
trong
chữ
Nghĩa
mà
Nghĩa
nối
liền
theo
Lễ-Nhân.”
“Mùa
Đông
thuộc
Thủy,
Kim
sanh
Thủy
mà
Thủy
là
nước
;
nước
giữa
tạo-vật
là
nước
thiêng-liêng,
còn
nước
trong
lòng
người
là
dòng
nước
ý-thức
;
ngọn
nước
thiêng-liêng,
dòng
nước
ý-thức,
lý-trí,
nên
đức
của
nước
là
Trinh.
Vậy
con
người
cần
phải
liêm-khiết
trong
sạch.
Mỗi
một
năm
thì
con
người
thêm
một
tuổi,
đầy
đủ
kinh
nghiệm
biết
rộng,
hiểu
xa,
nhờ
đó
mà
đức
của
nước
là
Trí,
nên
kêu
là
đức
Trí.”
“Nhưng
Trí
mà
xảo-quyệt
tàn
ác
ích-kỷ
hại
nhân
là
bẩm
sinh
con
người
vào
hành
Thổ.
Vì
Thổ
là
vật-chất
(hậu-thiên)
nên
có
sinh,
có
tử.
Bởi
vì
Trí
(đúng
là
Thổ
đứng
giữa
bốn
hành,
có
lẽ
nhầm)
đứng
giữa
bốn
hành
và
bốn
hướng.”
“Nếu
muốn
cho
bốn
đức
tính
Nhân,
Nghĩa,
Lễ,
Trí
được
hoàn
hảo
và
đầy
đủ
con
người
cần
thêm
một
đức
tính
cuối
cùng
là
Tín.”
“Có
Tín
có
nghĩa
mới
đẹp
lòng
thiên
hạ
và
có
Trí
mới
toàn
thiện
và
phụ
vào
Nhân
mới
toàn-mỹ.”
“Cho
nên
tạo-hóa
sinh
ra
mỗi
một
hành
hợp
với
hai
hành
và
khắc
hai
hành.
Có
xung
có
khắc,
cộng
hai
sinh
hai
khắc
cùng
với
một
chủ
vị ở
giữa
là
năm
(ngũ
hành).”
“Thủy
hợi
với
Kim
và
Mộc
nhưng
khắc
với
Thổ
và
Hỏạ
Nước
chui
xuống
đất
đó
là
khắc
nhập.
Nước
làm
tắt
lửa
đó
là
khắc
xuất.”
“Đến
lượt
Kim
thì
hợp
với
Thổ
và
thủy
nhưng
lại
khắc
với
Mộc
và
Hỏạ”
“Kim
khí
chém
đứt
cây,
cưa
đứt
gỗ
đó
là
khắc
nhập.
Kim
khi
bị
lửa
đốt
cháy
chảy
ra
đó
là
khắc
xuất.”
“Luật
khắc
cũng
như
luật
sinh
có
khắc
xuất
thì
cũng
có
khắc
nhập.”
“Nước
với
lửa
là
hai
thể
đối
lập,
nhưng
nước
và
lửa
tuân
theo
một
định
luật.
Tuy
bề
ngoài
khắc
nhau
nhưng
bề
trong
vẫn
tiếp
ứng
nhaụ
Lửa
và
nước
nếu
không
giao
hợp
với
nhau
là
quẻ
Vị-tế,
tức
là
nước
ở
dưới
lửa
ở
trên
thì
không
khắc.
Bằng
cho
Ký-tế
nước
ở
trên
lửa
ở
dưới
thì
nước
sẽ
làm
lửa
tắt
thế
là
khắc
nhaụ
Người
ta
muốn
cho
nước
với
lửa
không
khắc
thì
mượn
trung
gian
hành
Thổ
mà
ngăn
cách
nhau
nghĩa
là :
Nói
về
hữu
vi
thì
phải
lấy
nồi
đất
đựng
nước
mà
nấu
thì
nước
sôi
lửa
không
tắt.”
VI/
Nguyên
lý
An
vòng
Tràng
sinh
theo
Cổ
nhân.
1.
Tràng
sinh
an
tại
tứ
sinh
(không
phân
âm
dương):
Dần,
Thân,
Tỵ,
Hợị
-
Mộc
Tràng
sinh
ở
Hợi,
Vượng
ở
Mão,
Mộ
tại
Mùị
-
Hỏa
Tràng
sinh
ở
Dần,
Vượng
ở
Ngọ,
Mộ ở
Tuất.
-
Kim
Tràng
sinh
ở Tỵ,
Vượng
ở
Dậu,
Mộ ở
Sửụ
-
Thủy
Tràng
sinh
ở
Thân,
Vượng
ở Tý,
Mộ ở
Thìn.
-
Thổ
Tràng
sinh
ở
Thân,
Vượng
ở Tý,
Mộ ở
Thìn.
2.
Thiên
Can
Sinh
Vượng
Tử -
Nguyên
lý
Dương
tử
Âm
sinh
và
ngược
lại
Âm
tử
thì
Dương
sinh.
Thập
Thiên
can
phân
âm
dương:
Can
dương:
Giáp
Bính
Mậu
Canh
Nhâm.
Can
dương:
Ất
Đinh
Kỷ
Tân
Quý.
a)
Can
dương
Giáp
Bính
Mậu
Canh
Nhâm
chuyển
thuận
chiềụ
-
Giáp
Mộc
Sinh
tại
Hợi,
Vượng
ở
Mão,
Tử ở
Ngọ.
-
Bính
Hỏa
Sinh
tại
Dần,
Vượng
ở
Ngọ,
Tử ở
Dậụ
-
Mậu
Thổ
Sinh
tại
Dần,
Vượng
ở
Ngọ,
Tử ở
Dậụ
-
Canh
Kim
Sinh
tại
Ty,
Vượng
ở
Dậu,
Tử ở
Tý.
-
Nhâm
Thủy
Sinh
tại
Thân,
Vượng
ở Tý,
Tử ở
Mãọ
b)
Can
âm
Ất
Đinh
Kỷ
Tân
Quý
chuyển
nghịch
chiềụ
- Ất
Mộc
sinh
tại
Ngọ,
Vượng
ở
Dần,
Tử
tại
Hợị
-
Đinh
Hỏa
sinh
tại
Dậu,
Vượng
ở Tỵ,
Tử ở
Dần.
- Kỷ
Thổ
sinh
tại
Dậu,
Vượng
ở Tỵ,
Tử ở
Dần.
-
Tân
Kim
sinh
tại
Tý,
Vượng
ở
Thân,
Tử ở
Tỵ.
-
Quí
Thủy
sinh
tại
Mão,
Vượng
ở
Hợi,
Tử ở
Thân.
c)
Thuyết
này
luận
về
Thổ
không
phân
âm
dương.
Thổ
tràng
sinh
tại
Ngọ,
Vượng
ở tứ
quý,
Khắc
ở
Dần
mão,
bị
tiết
khí
ở
Thân
Dậu,
Tài
ở
Hợi
Tý.
Vì
Thổ
là
mẹ
vạn
vật
nên
Thổ
không
có
Tử,
nếu
Thổ
tử
thì
tất
cả
đều
chết,
lý
này
thuận
với
tự
nhiên.
VII/
Ngũ
hành
Hóa,
Lục
Hợp
và
Tam
Hợp
-
Lục
xung
và
Lục
Hạị
1/
Ngũ
Hành
Hợp
Hóa
Giáp
với
Kỷ
hợp
hóa
Thổ,
Ất
với
Canh
hợp
hóa
Kim,
Bính
với
Tân
hợp
hóa
Thủy,
Đinh
với
Nhâm
hợp
hóa
Mộc,
Mậu
với
Quý
hợp
hóa
Hỏạ
Thứ
tự
10
Can
phối
ghép
số
Hà
Đồ
thì:
1 là
Giáp,
6 là
Kỷ
nên
Giáp
hợp
Kỷ
2 là
Ất,
7 là
Canh
nên
Ất
hợp
Canh.
3 là
Bính,
8 là
Tân
nên
Bính
hợp
Tân.
4 là
Đinh,
9 là
Nhâm
nên
Đinh
hợp
Nhâm.
5 là
Mậu,
10
là
Quý
nên
Mậu
hợp
Quý.
Con
số
lấy
6 vị
làm
hợp.
2/
Lục
Hợp
Ngũ
Hành
Theo
Hiệp
Kỷ
Biện
Phương
Thư
nói:
Ngũ
tinh
gia
lại
lấy
Dần
hợp
Hợi
thuộc
Mộc,
Mão
hợp
Tuất
thuộc
Hỏa,
Thìn
hợp
Dậu
thuộc
Kim,
Tí
hợp
Sửu
vì ở
dưới
nên
thuộc
Thổ,
Ngọ
hợp
Mùi
lại
ở
bên
trên
nên
Ngọ
là
Thái
Dương
còn
Mùi
thuộc
Thái
Âm.
3/Tam
Hợp
Ngũ
Hành.
Thân
Tí
Thìn
hợp
Thủy
cục,
Hợi
Mão
Mùi
hợp
Mộc
cục,
Dần
Ngọ
Tuất
hợp
Hỏa
cục,
Tỵ
Dậu
Sửu
hợp
Kim
cục
gốc
từ
Sinh
Vượng
Mộ
vòng
Tràng
sanh
mà
rạ
4/
Ngũ
Hành
Lục
Xung
(sát)
Can
và
Chi
thứ
tự 7
vị
xung
nhaụ
Từ
Giáp
đến
Canh
là
7,
từ
Tí
đến
Ngọ
cũng
là 7
nên
lấy
7 vị
làm
xung.
Quẻ
Càn
và
Quẻ
Khôn
hào
7 là
cực
khí
âm
dương,
số
cùng
của
Trời
Đất.
5/
Lục
Hạị
Lục
Hại
sinh
ra
từ
Lục
Hợp
nghĩa
là
không
hòa
thuận.
Tý
hợp
với
Sửu
mà
Mùi
lại
xung
Sửu,
nên
Tý
Mùi
Hại
nhaụ
Sửu
hợp
với
Tí
mà
Ngọ
lại
xung
Tí,
nên
Sửu
Ngọ
hại
nhaụ
Dần
hợp
với
Hợi
mà
Tỵ
lại
xung
Hợi,
nên
Dần
Tỵ
Hại
nhaụ
Mão
hợp
Tuất
mà
Thìn
lại
xung
Tuất,
nên
Mão
Thìn
hại
nhaụ
Thìn
hợp
với
Dậu
mà
Mão
lại
xung
Dậu,
nên
Mão
Thìn
hại
nhau
Tỵ
hợp
với
Thân
mà
Dần
lại
xung
Thân,
nên
Tỵ
Dần
hại
nhaụ
Ngọ
hợp
với
Mùi
mà
Sửu
lại
xung
Mùi,
nên
Ngọ
Sửu
hại
nhaụ
Mùi
hợp
với
Ngọ
mà
Tí
lại
xung
Ngọ,
nên
Mùi
Tí
hại
nhaụ
Thân
hợp
với
Tỵ
mà
Hợi
lại
xung
Tỵ,
nên
Thân
Hợi
hại
nhaụ
Dậu
hợp
với
Thìn
mà
Tuất
lại
xung
Thìn,
nên
Dậu
Tuất
hại
nhaụ
Tuất
hợp
với
Mão
mà
Dậu
lại
xung
Mão,
nên
Tuất
Dậu
hại
nhaụ
Hợi
hợp
với
Dần
mà
Thân
lại
xung
Dần,
nên
Thân
Dần
hại
nhaụ
VIII/
Ngũ
Hành
biến
tướng
(Dịch
Mã)
Dần
Ngọ
Tuất
Dịch-mã
ở
Thân
Thân
Tý
Thìn
Dịch-mã
ở
Dần
Tị
Dậu
Sửu
Dịch-mã
ở
Hợi
Hợi
Mão
Mùi
Dịch-mã
ở Tị
Hiệp
Kỷ
Biện
Phương
nói:
Dịch-mã
là
số
cùng,
mà
cùng
thì
phải
biến:
1/
Số
của
Dần
Ngọ
Tuất
Hỏa
cục,
gặp
Thân
hóa
tướng
biến,
vì
Hỏa
sinh
ở
Mộc
mà
Mộc
lại
tuyệt
ở
Thân,
Thân
lại
là
nơi
Thủy
sinh
nên
Hỏa
biến
tướng.
2/
Số
của
Thân
Tý
Thìn
Thủy
cục,
gặp
Dần
hóa
tướng
biến,
vì
Thủy
sinh
ở
Kim
mà
Kim
lại
tuyệt
ở
Dần,
Dần
lại
là
nơi
Hỏa
sinh,
nên
Thủy
biến
tướng.
3/
Số
của
Tị
Dậu
Sửu
Kim
cục,
gặp
Hợi
hóa
tướng
biến,
vì
Kim
sinh
ở
Hỏa
Thổ
mà
Hỏa
Thổ
tuyệt
ở
Hợi,
Hợi
lại
là
nơi
Mộc
sinh
để
sinh
Hỏa,
ấy
là
Kim
biến
mà
không
cùng.
4/
Số
của
Hợi
Mão
Mùi
Mộc
cục,
gặp
Tị
hóa
tướng
biến,
vì
Mộc
sinh
ở
Thủy,
mà
Thủy
tuyệt
ở Tị,
Tị
lại
là
nơi
Kim
sinh,
nên
Mộc
biến
tướng.
Ý
nghĩa
của
Dịch-mã
là
tuyệt
sứ
mà
phùng
sinh.
BỐN
MÙA
NGŨ
HÀNH
VƯỢNG
TƯỚNG
Mùa
Xuân
(72
ngày)
hành
:
Mộc
vượng;
Hỏa
tướng;
Thủy
hưu;
Kim
tù;
Thổ
tử.
Mùa
Hạ
(72
ngày)
hành
:
Hỏa
vượng;
Thổ
tướng;
Mộc
hưu,
Thủy
tù;
Kim
tử.
Mùa
Thu
(72
ngày)
hành
:
Kim
vượng;
Thủy
tướng;
Thổ
hưu;
Hỏa
tù;
Mộc
tử.
Mùa
Đông
(72
ngày)hành
:
Thủy
vượng;
Mộc
tướng;
Kim
hưu,
Thổ
tù;
Hỏa
tử.
Tứ
quý
(18
ngày
cuối
tháng
thìn,
tuất,
sửu,
mùi
cộng
lại
72
ngày)
:
Thổ
vượng;
Kim
tướng;
Hoả
hưu;
Mộc
tù;
Thủy
tử.
Hành
đương
lệnh
là
vượng,
ví
dụ
là
Ta
đương
vượng
chính
ngôi
(ngã);
Cha
mẹ
sinh
ra
Ta
thì
Hưu;
Con
của
Ta
sinh
ra
là
Tướng;
Kẻ
khắc
Ta
phải
bị
Tù (nhốt
lại),
ấy
là
nhờ
con
Ta
là
Tướng
đi
bắt
mà
nhốt
lại;
và
tất
nhiên
người
bị
Ta
khắc
sẽ
Tử.
Xét
về
hành,
mùa
Xuân
hành
Mộc
nghĩa
là
Mộc
vượng.
Hay
còn
gọi
mùa
xuân
hành
Mộc,
không
có
nghĩa
chỉ
riêng
có
hành
Mộc
mà
có
đủ
thêm
4
hành
kiạ
Nếu
coi
một
mùa
là
một
thể
thống
nhất,
thì
có
đủ
ngũ
hành
không
thể
chia
cắt,
tùy
theo
mùa
đương
lệnh
mà
hành
chính
danh
chính
vị.
Cũng
lý
ấy
suy
ra,ví
dụ
người
nạp
âm
mệnh
Mộc
thì
Mộc
chính
danh
chính
vị
làm
chủ,
nghĩa
là
Mộc
vượng;
Hỏa
tướng;
Thủy
hưu;
Kim
tù;
Thổ
tử
trong
mệnh
ấỵ
(Theo
Pháp
Vân
-
Phòng
sách
tư
liệu)
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|