Trước đây trong bài "ly
dị: một căn bệnh xã hội có thể chữa
trị", tôi đã trình bày sơ lược những
điểm chính dựa trên lý số và tập tục xã
hội Việt Nam để đem lại cho các bạn trẻ
những cuộc hôn nhân hạnh phúc va trọn
vẹn.
Trong bài này, với phần trình bày chi
tiết hơn, tôi hy vọng sẽ giúp các bạn
trẻ có cơ sở suy ngẫm, có thể tự chọn
cho mình một người bạn đường, một cuộc
hôn nhân hạnh phúc để có một mái ấm gia
đình hoàn tòan như ý.
Lẽ dĩ nhiên trong hoàn cảnh hiện tại
phong hóa và môi trường khác biệt với
đất nước ta, ta không thể câu nệ và quá
khắt khe trong việc chọn người phối
ngẩu. Chúng ta sống phân tán trên 50
tiểu bang, chỗ thì "trai thiếu gái
thừa"; chỗ thì "trai thừa gái thiếu", ta
không thể "chọn dâu" với điều kiện phải:
- Môn đăng hộ đối: lá ngọc cành vàng
- Đủ "tam tòng tứ đức"
Hoặc "kén rể" với tiêu chuẩn:
- Văn võ toàn tài: "Xuống Đông, Đông
tĩnh lên Đoài, Đoài tan".
- Có chí khí hiên ngang: "gươm đàn nửa
gánh non sông một chèo".Nhưng chắc chắn
chúng ta cũng nên xem xét kỹ càng đối
tượng trước khi chọn lựa: lấy vợ: Lấy vợ
xem tông; lấy chồng xem giống". Thực tế,
không lui tới để biết rõ về gia đình
"đối tượng", ta có thể "lấy" phải một
người có bệnh di truyền như bệnh run,
điên loạn hoăc tứ chướng nan y…lúc đầu
thì không sao, nhưng chỉ năm mười năm
sau là run đi không nổi, hoặc hò hét tối
ngày…thì làm sao mà có hạnh phúc được,
mà caí là "nghiệp quả" phải gánh chịu
hãy cẩn thận.
Ngày trước, ngoài việc tìm hiểu về gia
đình cô dâu, chú rể, các bậc trưởng bối
trong gia đình như Ông Bà, Cha Mẹ…thường
kiếm một cây trầu làm lễ vật với "Bát Tự
Niên Canh" (năm, tháng, ngày, giờ sanh)
đến nhờ các bậc thâm nho hoặc khoa
bảng…so đôi tuổi, có nghĩa là xem xét kỹ
càng xem cô dâu chú rể có hợp với nhau
không, và chọn năm, tháng, ngày, giờ tốt
cho việc nạp thái và vu quy (hỏi, cưới):
1/ So tuổi:
A. Tuổi: tuổi chia ra can và chi (gồm 10
căn: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ,
Canh, Tân, Nhâm, Quý, và 12 chi: Tý,
Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân,
Dậu, Tuất, Hợi.
a- Can: Phải chọn "hợp" và tránh "phá"
Hợp:
Giáp hợp Kỷ
Ất hợp Canh
Bính --> Tân
Đinh --> Nhâm
Mậu --> Quý
* Phá: Giáp phá Mậu
Ất --> - Kỷ
Bính --> Canh
Đinh --> Tân
Mậu --> Nhâm
Kỷ --> Quý
Canh --> Giáp
Tân --> Ất
Nhâm --> Bính
Quý --> Đinh
b- Chi: phải chọn hợp và tránh xung.
1/- Hợp: gồm tam hợp và nhị hợp.
* Tam Hợp: 1- Dần, Ngọ, Tuất
2- Thân, Tý, Thìn.
3- Tỵ, Dậu, Sửu
4- Hợi, Mão, Mùi
* Nhị Hợp: (hay lục hợp)
1- Tý hợp Sửu
2- Dần hợp Hợi
3- Mão hợp Tuất
4- Thìn hợp Dậu
5- Tỵ hợp Thân
6- Ngọ hợp Mùi.
2/- Xung:
1- Dần xung Thân
2- Tỵ xung Hợi
3- Tý xung Ngọ
4- Mão xung Dậu
5- Thìn xung Tuất
6- Sửu xung Mùi.
Cần lưu ý: có quan niệm cho là: Nam kỵ
xung Nữ kỵ hợp.
- Thìn+ Tuất và Sửu+ Mùi hòa nhau vì
cùng hành thổ.
B- Ngũ Hành: Phải "tương sinh" tránh
"tương khắc"
a- Tương sinh:
1- Kim sanh Thủy
2- Thủy dưỡng Mộc
3- Mộc sanh hỏa
4- Hỏa sanh Thổ
5-Thổ sanh Kim
b- Tương khắc:
1- Kim khắc Mộc
2- Mộc khắc Thổ
3- Thổ khắc Thủy
4-Thủy khắc Hỏa
5- Hoả khắc Kim
Cần lưu ý: có quan niệm cho là: hành của
chồng khắc với hành của vợ là thuận hợp.
Nhưng trên thực tế khắc nhau vẫn không
tốt.
- Như xét đoán ngũ hành trong một gia
đình nên dùng cả ngũ hành phản sinh và
phản khắc.
c- Bát Trạch: cung phi và cung sinh. Bát
trạch chia ra:
- Đông tứ trạch: khảm, ly, chấn, tốn.
- Tây tứ trạch: Càn, Khôn, Cấn, Đoài.
a.Kkhi so đôi phải coi kỹ phi cung và
kiểm lại bằng sanh cung (cung phi xấu mà
cung sanh tốt cũng đỡ xấu phần nào).b.
Người Đông Tứ Trạch phải kết hôn với
người Đông tứ trạch mới tốt. Tây tứ
trạch cũng thế.
c. Cung phi và cung sanh đều tính ra từ
tuổi. Nam, nữ khác nhau. Thí dụ: Tuổi
Tân Mùi.
- Cung phi: Nam= Càn; Nữ = Ly.
- Cung sanh: Nam= Chấn; Nữ= Ly
d. Xem bảng ghi dưới đây, các cung có
dấu 0 là tốt và dấu X là xấu.
Hai tuổi được thiên y, sinh khí, phước
đức và phục vì là tốt. Nếu gặp ngũ quỹ,
Tuyệt mạng, Lục sát và Hoạ hại là xấu.
(nhờ anh Huy scan khung vào)
Tuyệt mạng (âm khắc dương) gồm: Càn/ Ly;
Đoài/Chấn; Khôn/Khảm; Cấn/ Tốn.
Ngũ Quỹ (dương khắc âm) gồm có:
Càn/Chấn; Tốn/ Khôn; Khảm/Cấn; Đoài/Ly.
- Tuyệt mạng thì hẳn lo âu
Nhược bằng kết hợp, lấy nhau chẳng bền.
Hoặc:
- Ngũ quỹ thì ắt phải nhường
Vợ chồng nghịch ý, tai ương cận kề.
D. Sau khi so sánh hai tuổi, ta sẽ có
kết quả:
a- Cả 3 đều tốt là rất tốt. Tuy nhiên
mức độ tốt cũng khác nhau; tùy theo sự
sinh xuất hoặc nhập về nũ hành và sự kết
hợp về cung phi.
Thí dụ: Tuổi 2 vợ chồng gặp phước đức:
- Phước đức giàu sang ai bì.
b- Hai tốt, một xấu là tốt nhưng không
được hoàn hảo, cần được hóa giải điểm
xấu đi bằng bí pháp của lý số và Bút
trạch chánh tông.
c- Một tốt hai xấu là tốt nhưng cũng cần
được hóa giải như trên và cân nhắc bằng
tử ti và tướng pháp.
d- Cả 3 đều xấu. Nếu kết hợp thì chỉ là
cái "nghiệp số", không thể hạnh phúc,
thành công và có cuộc sống trọn vẹn.
E. Tử Vi và tướng pháp
Nhiều gia đình chọn dâu và kén rễ rất kỹ
lưỡng. Họ chấm "tử vi" hoặc "coi mặt"
xem tướng để chọn người hôn phối cho
con, em. Thêm vào đó, các thanh niên nam
nữ cũng đều muốn có có một "ý trung
nhân" hoàn hảo:
- Gái thì mong:
Lấy chồng cho đáng tấm chồng.
Bõ công chỉnh mũi nâng cằm niềng răng.
- Hoặc có ngày:
Ngựa anh đi trước
Võng nàng theo sau.
- Các cậu trai cũng mong có được người
"tề gia nội trợ" có thể giúp mình làm
nên sự nghiệp và thay mình "nuôi già,
dạy trẻ", hầu có thể an lòng dấn thân
"vì dân vì nước"
a- Do đó, tử vi các cô mà có:
- Thai, hào
- Đào, Hồng
- Tham, sát, nhàn
Hoặc tử vi của các cậu mà có:
- Phá quân Thìn Tuất
- Tham, kiêm, Tỵ, Hợi
- Linh, hỏa, , kình đá.
Thường thì bị loại. Cho dù đẹp đẽ, giỏi
giang, hoặc gia đình giàu có.
b- Còn về tướng pháp thì trong nhân gian
thường có những nhận xét về trai gái như
sau:
1- Con gái:
- Tốt:
"Những người neo néo lưng ong
Vừa khéo chiều chồng, vừa khéo nuôi
con."
Hoặc:
"khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
Hoa cười, ngọc thốt đoan trang"
- Xấu
"những người béo trục, béo tròn
Ăn vụng như chớp, cấu con cả ngày"
2/ Con trai:
- Tốt:
"Phong tư tài mạo tuyệt vời
Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa"
Hoặc:
"Trông mặt mà bắt hình dong
Con lợn có béo, cỗ lòng mới ngon"
- Xấu: Nói năng thô lỗ như "dùi đục chấm
mắm cáy".
- Mắt lợn luộc, láo liên
- Lộ
- Tham ăn, tục uống….
Trên thực tế, trong cuộc sống giao tiếp
hàng ngày, có những người mới gặp lần
đầu, ta đã thấy quí trọng và có cảm tình
ngay. Ngược lại, có người chỉ nghe họ
nói một câu là ta đã muốn xa lánh họ.
Nhưng:
"Thức lâu mới biết đêm dài
Ở lâu, mới biết lòng người ra sao?"
Do đó, bên cạnh sự quan sát của ta như
đã nói trên, ta vẫn cần có "tham vấn"
các vị cao thâm về lý số và tướng pháp
để khỏi có sự nhận xét sai lầm ảnh hưởng
tai hại đến hạnh phúc và tương lai của
chính ta.
II- Năm, Tháng, Ngày, Giờ nạp thái, Vu
Quy:
Sau khi so đôi tuổi, chôn được dâu,rễ
tốt rồi, thì việc kế tiếp không kém phần
quan trọng là: Chọn được năm, tháng,
ngày và giờ tốt cho việc nạp thái. Hỏi
(dẫn lễ), và vu quy (cưới). Có những gia
đình không tin vấn đề này nên đã gặp tai
nạn, rạn nứt và đổ vỡ:
- Cưới vợ cho con vào năm xung kỵ, tuổi,
tháng phạm chu chủ, ngày không phòng và
giờ kỵ tuổi. Kết quả bi thảm là vài ngày
sau tiệc cưới, chú rễ được cử đi cứu cấp
và không trở về nữa.
- Cưới dâu vào tháng "phòng công cô"
ngày "nguyệt yểm" và giờ "sát thủ". Sau
một thời gian ngắn, cha chồng đột nhiên
mắc bệnh và qua đời.
- Hoặc là cuộc sống đang yên lành, hạnh
phúc, cưới dâu về là xẩy ra đủ chuyện và
đưa đến tan cửa nát nhà.Như thế, hôn
nhân là việc hệ trọng, có quan hệ đến
hạnh phúc cả cuộc đời, không thể khinh
xuất:
1- Năm: nên kết hôn vào những năm không
kỵ tuổi dâu (nữ), cũng như tuổi rể (nam)
Tuổi-->Nam kỵ năm-->Nữ kỵ năm
Tí-->Mùi--> Mão
Sửu -->Thân--> Dần
Dần-->Dậu--> Sửu
Mão-->Tuất--> Tý
Thìn-->Hợi--> Hợi
Tỵ-->Tý--> Tuất
Ngọ-->Sửu--> Dậu
Mùi-->Dần--> Thân
Thân-->Mão--> Mùi
Dậu-->Thìn --> Ngọ
Tuất-->Tỵ--> Tỵ
Hợi-->Ngọ--> Thìn
2- Tháng: một năm (theo tuổi cô dâu) chỉ
có 4 tháng xuất giá tốt.
1/ Đại lợi: Xuất giá tốt, đem lại may
mắn, hạnh phúc cho đôi tân hôn.
2/ Tiểu lợi: Xuất giá tốt nhưng kỵ người
mai mốt. Người làm mai không nên dự lễ
cưới.
3/ Phòng công cô: bất lợi cho mẹ chồng.
4/ Phòng nhạc thân: Bất lợi cho cha mẹ
vợ.
5/ Phòng Phụ chủ: Bất lợi cho chú rể.
6/ Phòng thê chủ: bất lợi cho cô dâu.
- Lưu ý: nếu mồ côi cha mẹ thì có thể tổ
chức cưới, hỏi vào các thágn ở cột 3 và
4.
- các tháng đều tính theo âm lịch và
tiết khí.
- Về chi tiết, nên tham khảo nơi các vị
túc nho, hoặc các nhà lý số chuyên
nghiệp.
3 - Ngày: thông thường thì các niên lịch
đều có ghi các ngày nên hoặc kỵ đính
hôn, cưới gã nhưng không phải áp dụng
chung cho mọi người, nên cần phải xemkỹ
cvaà tránh các ngàyxấu, kỵ, và khắc hành
của cặp tân hôn.
Dưới đây là sơ lược các ngày xấu cần
biết để tránh:
a- Ngày trăn sự như sát chủ, thọ tử,
bảng vong, nguyệt kỵ, tam nương, đại
bại.
b- Thêm vào đó có những ngày kỵ riêng
việc cưới gã rất quan trọng:
- phòng không: phải tuyệt đối tránh vì
Nam đáo nữ phòng, nam tắc tử
Nữ đáo nam phòng, nữ tắc vong.
- Không sàng: kỵ đặc gương và hợp cẩn
- Nguyệt yểm: Bất lợi cho cha chồng
- Nguyệt đối: bất lợi cho mẹ chồng
- Nguyệt phá: gia đình tan nát
- Hồng sa sát: đại hung, bất lợi cho cha
mẹ chồng, cha mẹ vợ và dâu rể.
- Ngưu lang chức nữ: vợ chồng ly tán.
c- Tinh đẩu: phải tránh các sao nhóm lục
bại tinh
- Xem niên lịch để biết sao nhật. Và
cũng cần tránh các ngày thục đoan:
- Ngày Tí gặp sao Hư
Sửu--> Đẩu
Dần--> Thất
Mão--> Nữ
Thìn--> Cơ
Tỵ--> Phòng
Ngọ--> Giác
Mùi--> Tương
Thân--> Quý
Dậu--> Chủy
Tuất--> Vị
Hợi--> Bích
d- Trực- tránh các ngày thuộc Trực Thâu,
Phá, Bình. Nên chọn Trực Chấp, Định, và
Thành. Các kiết tinh như thiên đức hiệp,
nguyệt đức hiệp, thiên đế, thiên hậu,
nhơn nguyên, trực tinh sát cống…
4- Giờ: Tuy trên các niên lịch có ghi
giờ tốt và giờ xấu nhưng không thể áp
dụng chung cho các tuổi. Cần chọn giờ
tốt hợp tuổi cô dâu, chú rễ, tránh giờ
kỵ tuổi tứ hành xung, hình, lục hại, và
giờ sát chủ, thọ tử. Thí dụ: Tuổi Dần
hợp với giờ Ngọ, Tuất nhưng kỵ với các
giờ Thân, Tỵ, Hợi.
a/ Tứ xung: xem mục "Tránh xung" ở các
trang trước.
b/ Lục hại: Tý hại Mùi
-->Sửu--> Ngọ
-->Dần--> Tỵ
-->Mão--> Thìn
-->Thân--> Hợi
-->Dậu--> Tuất
c/ Hình: gồm
- Nhị hình: Tý hình Mão
- Tam hình: Dần, Tỵ, Thân
Sửu, Tuất, Mùi
- Từ hình: Thìn, Ngọ, Dậu, Hợi
d/ Sát chủ:
- Tháng: 1+7: giờ Dần
2+8: giờ Tỵ
3+9: giờ Thân
4+10: giờ Thìn
5+11: giờ Dậu
6+12: giờ Mão
e/ Thọ Tử:
- Ngày Tý thọ Tử giờ Sửu
Sửu-->Ngọ
Dần, Thân, Mão, Dậu Mão
Thìn, Tuất Tỵ
Ngọ Mùi
Mùi Ngọ
Tỵ, Hợi -->Mão, Ngọ.
f/ Ngày xưa, ngaòi giờ cưới hỏi, người
ta còn lựa ngày giờ may hoặc mướn áo
cưới cho cô dâu chú rể. Ngày giờ đóng
hoặc mua giường cho cặp tân hôn, ngày
giờ an sàng (kê giường) và nhờ cặp vợ
chồng đông con và hạnh phúc trãi chiếu
nữa.
h/ Điều cần lưu ý là: đồ cưới của cặp
tân hôn phải hợp màu với hành cới cô dâu
và chú rể.
Giường của cặp tân hôn cũng phải đặt hợp
với phi cung của chủ rễ.
III- Nói Chung: nhờ sự chọn lựa và chuẩn
bị chu đáo như trên nên hầu hết các cuộc
hôn nhân (không kể tảo hôn và tục hôn)
đều thành công, tạo cho họ một mái ấm
gia đình hạnh phúc. Mới đầu thì chỉ ràng
buộc vì tập tục nhưng rồi họ sống với
nhau trong yêu thương, gắn bó, vợ giúp
chồng thành công và làm nên sự nghiệp.
Ngược lại, nếu vì hoàn cảnh phải tùy
tiện cho xong chuyện, thì chắc chắn sẽ
thất bại, sẽ suy vong, hoặc tan vỡ. Dưới
đây là một câu chuyện có thực mà tôi đã
chứng kiến và có thêm kinh nghiệm về vấn
đề hôn nhân của đôi lứa.
Tôi có một thân chủ, ông ta tuổi Tân
Mùi, mồ côi cha mẹ, sống với ông bà nội.
Năm 1953, gia đình suy sụp vì giặc giã,
ông nội lại lâm trọng bệnh. Thấy vậy bà
nội liền lo cưới vợ cho cháu ngay. Cụ
thấy 2 gia đình "môn đăng hộ đối", cô
dâu cũng ưa nhìn nên tiến hành hôn lễ
ngay. Không theo tập tục như đã trình
bày trong phần trên của bài nầy. Cô dâu
tuổi Đinh Sửu.Phân tích ra ta thấy Tân
Mùi & Đinh Sử
1- Phần tuổi:
a/ Về can: Ta thấy Đinh phá Can
b/ Về chi: Ta thấy Sửu sung Mùi
2- Phần ngũ hành
a/ Đinh/ hỏa khắc Tân/ Kim
b/ Tân Mùi/ Thổ khắc Đinh Sửu/Thủy
3- Bát Trạch: Tuy cả hai cùng một trạch-
Càn/ càn được phục vì. Nhưng vì tuổi ngũ
hành và Can Chi xung khắc. Nên vẫn không
tốt.
4- Tử Vi: Tân Mùi- Cung Thê có phục binh
Thái Tuế, Thiên hình.
Cung nô có Đào hoa.
Hoa Đào nở trái Nô cung
Thiếp thê mang lấy bất trung, bất nghì.
Hai tuổi tốt ít xấu nhiều. Cuộc hôn nhân
tiến hành vội vã,
không được sắp xếp về chi tiết để hóa
giải bớt cái xấu đi nên kết quả như ta
sẽ thấy:
Một tuần sau ngày cưới, ông nội mất,
giặc giã lan tràn. Gia đình ở trong vùng
xôi đậu, đủ chuyện khổ đau. Tháng 10 năm
đó ông ta nhập ngũ. Năm 1954, tốt nghiệp
và phục vụ tại …Tiểu đoàn Khinh chiến
VN. Cô vợ được bà nội và gia đình sắp
xếp nên gặp lại được chồng và vợ chồng
theo đơn vị di cư vào Nam.Họ sống với
nhau gần 22 năm (1954-1975) nhưng công
danh lận đận, không con cái, và không
tạo được tài sản đáng kể. Tháng
5-1975, ông chồng đi tù và bị đưa ra tận
miền Bắc (gần Yên Bái) nơi xa xôi hẻo
lánh. Năm 1979, bà vợ được bà con bên
chồng dắt díu vượt biên và định cư tại
Hoa Kỳ năm 1980. Sau đó, bà ta đi làm,
giúp việc nhà và trông trẻ cho một gia
đình Việt Nam khá giả. Đang khổ cực
trong xã hội cộng sản, nay "nhất nhật
tiểu yến, thất nhật đại yến", bà ta đã
quên tất cả và sa tay một gã đàn ông
phong lưu, nhưng con cái đùm để, không
biết tương lai ra sao!!!
Ông chồng thì sau
nhiều năm trong ngục tù Cộng Sản, đã đến
được bến bờ tự do vaò cuối năm 1990,
theo danh sách H.O. Với niềm tin tưởng
tràn trề hạnh phúc. Nhưng than ôi! Họ
gặp nhau như người xa lạ. Sống gần nhau
ít lâu như mặt trời với mặt trăng. Đâu
còn đằm ấm, keo sơn như cũ. Âu cũng là
số mạng. Ở tuổi 60, bà ta đòi ly dị với
người xưa. Và, họ đã ly dị. Thất vọng vì
thời thế. Vì tình đời, tình người, ông
ta đã 2 lần tìm cái chết. Nhưng tử thần
vẫn chê, có lẽ nghiệp căn chưa dứt. Mệnh
thân có Tham, Vũ, Thai tọa, Quang Quí,
xương khúc và Hào khoa, lại gặp Lộc
Quyền, âm dương, tã hửu, số ông ta còn
thọ lắm.Qua câu chuyện bi thảm điển hình
trên, ta thấy việc so đôi tuổi và chôn n
ăm tháng, ngày và giờ cho việc cưới hỏi
của lứa đôi thật là quan trọng. Xin hãy
cẩn trọng.
Qua bốn ngày năm văn hiến, tổ tiên ta đã
dầy công xây dựng, bảo vệ….mở mang bờ
cõi và đã để lại cho ta nhiều kinh
nghiệm, kiến thức, và thuần phong mỹ
tục. Cuộc đời dâu bể đổi thay. Đến nay,
có thể có những quan niệm không hoàn
toàn hợp thời nữa nhưng trên căn bản đa
số vẫn là "khuôn vàng, thước ngọc" để
hậu thế noi theo. Tam cương và tam tùng
có thể khác biệt với quan niệm hiện hữu
nhưng Ngũ thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí,
Tín) và Tứ Đức (Công Dung Ngôn Hạnh) vẫn
là mực thước để hướng dẫn, giáo dục và
chọn lựa con người khi cần thiết, kể cả
"chọn dâu, kén rể". Tiền nhân cũng đã để
lại các kiến thức có tính cách khoa học
về "phong thủy" lý số, giúp chúng ta nếu
biết áp dụng, sẽ có thể tạo dựng sự
nghiệp cho bản thân và cho hậu thế cũng
như "Tri bỉ, tri kỷ" để có thể ứng xử
trong cuộc sống hàng ngày.
Gia đình là căn bản của xã hội, của cộng
đồng và là nền tảng của quốc gia. Gia
đình sẽ vững chãi hạnh phúc, nếu…chọn
lựa và xây dựng đúng cách.
Phong Thủy & Tử Vi Gia Song Lộc
1501 S. 4th Street, Apt# F,
Alhambra, CA 91803 Tel: (626) 289-8467
|