|
Thiệu Ung 1011 – 1077, người đất Cung
Thành, nước Tống, tự là Nghiêu Phu, Ông là
Dịch học gia nổi tiếng thời Bắc Tống, có
nhiều thành tựu về Dịch học, về mặt tượng số
thì đặc biệt xuất sắc. Cống hiến chủ yếu của
Thiệu Ung là sự đề xuất Tiên thiên Dịch học,
học thuyết này đã khẳng định được vai trò
của Dự trắc học, và có những phát triển quan
trọng.
Thiệu Ung ở đất Lạc Dương 30 năm, tên đất
nơi đây là An Lạc Oa, do vậy ông lấy tên
hiệu là An Lạc tiên sinh. Năm Nguyên Hựu,
ông được ban tên thuỵ là Khang Tiết, nên còn
gọi là Thiệu Khang Tiết.
Sáng tác chủ yếu của ông là : Hoàng Cực Kinh
Thế.
Thiệu Ung đã lập riêng ra một trường phái,
chủ yếu là phát triển "tượng" "số" học Kinh
Dịch, bao gồm sự phát triển đối với Quái đồ
của Kinh dịch và Dự trắc học. Ông sáng tạo
ra: “Thái cực bát quái vũ trụ sinh thành đồ
thức”, dẫn giải sâu sắc về bản nguyên Vũ trụ
Thái cực Kinh Dịch. Đối với hệ thống tượng
số, Ông đã suy tính được sự hưng suy trị
loạn của Xã hội, của Lịch sử nhân loại, đây
là một sự sáng tạo độc lập của Thiệu Ung, đã
để lại những ảnh hưởng rất lớn trong dân
gian, Ông chế định Niên biểu Lịch sử Vũ trụ,
Dự trắc được quy luật sinh - diệt, thịnh –
suy của thiên nhiên vũ trụ.
Tiên thiên Dịch học là môn phái do Thiệu Ung
khai sáng, theo phương pháp tư duy của mình,
Ông cho rằng Tiên thiên đồ là do Phục Hy vẽ
ra, tuy chỉ có Quẻ dịch, nhưng đã gồm đủ mọi
lý về Trời Đất vạn vật trong thiên hạ, từ
thuyết “tam tài” của Kinh Dịch, Thiệu Ung
xây dựng mối quan hệ:
Thiên Địa - Người – Xã hội
Thiệu Ung cho rằng, lời của Quẻ dịch, và lời
của Hào từ trong Kinh Dịch, đều do Văn vương
làm ra, nó thuộc về Hậu thiên Dịch học. Nên,
Thiệu Ung đã dốc sức vào Tiên thiên Dịch học,
lập ra 14 bức Tiên thiên đồ, trong đó có:
“Phục Hy Bát quái thứ tự đồ”, “Phục Hy Bát
quái phương vị đồ”, “Phục Hy lục thập tứ
quái thứ tự đồ”, “Phục Hy lục thập tứ quái
phương vị đồ”, ...Chu Hy đều chép và bảo tồn
trong trước tác: “Chu Dịch bản nghĩa”.
Tiên thiên đồ của Thiệu Ung bắt nguồn từ lý
luận Thái cực của Kinh Dịch, thông qua sự
khởi nguyên và diễn biến của Bát quái, mà
Quái thứ tự đồ đã tượng trưng cho sự khởi
nguyên và sinh-thành của Vũ trụ vạn vật.
Thiệu Ung dẫn giải trong trước tác HOÀNG CỰC
KINH THẾ của mình:
“Thái cực đã chia, hai nghi lập nên, Dương
xuống giao với Âm, Âm lên giao với Dương,
bốn tượng sinh ra. Dương giao với Âm, Âm
giao với Dương, mà sinh ra bốn tượng của
Trời ; Cứng giao với Mềm, Mềm giao với Cứng,
mà sinh ra bốn tượng của Đất. Do vậy, Bát
quái đã thành. Bát quái đan xen, sau đó sinh
ra vạn vật. Do vậy, một phân thành hai, hai
phân thành bốn, bốn phân thành tám, tám phân
thành mười sáu, ..., Mười phân thành trăm,
Trăm phân thành nghìn, ...,” (Hoàng cực kinh
thế - Quan vật ngoại thiên – Tiên thiên
tượng số đệ nhị).
Ý nghĩa có giá trị lớn nhất của Hoàng cực
kinh thế, là nguyên lý vũ trụ "Vô hạn khả
phân”. Trong đó, Tiên thiên phương vị đồ, và
Hậu thiên phương vị đồ, đã minh giải được
thuyết “quái khí” Kinh Dịch và thúc đẩy được
học thuyết này mang tính thực tiễn rất cao.
“Lục thập tứ quái viên đồ” và “Phục Hy bát
quái phương vị đồ” đều lấy Càn - Khôn cư Nam
- Bắc, còn Khảm-Ly nằm ở Tây – Đông, mục
đích xây dựng hai đồ này để tượng trưng cho
quá trình tiêu trưởng chuyển hoá Âm Dương,
bốn mùa trong một năm. Đối với “Phục Hy bát
quái phương vị đồ”, thì: từ quẻ Chấn đến quẻ
Càn, là quá trình dương trưởng âm tiêu, từ
quẻ Tốn đến quẻ Khôn là quá trình âm trưởng
dương tiêu, tượng trưng cho thời tiết trong
một năm, chuyển biến từ mùa Đông sang mùa Hạ,
rồi từ mùa Hạ sang mùa Đông. Đối với “Phục
Hy lục thập tứ quái phương vị đồ” thì: từ
quẻ Địa Lôi Phục đến quẻ Thuần Càn, là giai
đoạn dương trưởng âm tiêu ; từ quẻ Thiên
Phong Cấu đến quẻ Thuần Khôn, lại là thời kỳ
âm trưởng dương tiêu.
Thông qua phương vị đồ, đã giải thích quy
luật “quái khí” âm dương tiêu trưởng. Thiệu
Ung đã viết:
“Dương ở trong Âm, Dương đi ngược. Âm ở
trong Dương, Âm đi ngược. Dương ở trong
Dương, Âm ở trong Âm, đều là đi thuận (xuôi).
điều này thật là chí cái lý, nhìn hình vẽ là
ta có thể thấy được.” (Sách đã dẫn).
“Từ quẻ Địa Lôi Phục đến quẻ Thuần Càn, tất
cả đều là 112 hào dương. Từ quẻ Thiên Phong
Cấu đến quẻ Khôn, tất cả là 112 hào âm. Từ
quẻ Cấu đến Khôn, tất cả là 80 hào dương. Từ
quẻ Phục đến quẻ Càn, tất cả là 80 hào âm.
Càn 36, Khôn 24, Ly Đoài Tốn 32, Khảm Cấn
Chấn 28.”
HOÀNG CỰC KINH THẾ lấy chu kỳ: Nguyên - Hội
- Vận - Thế phối hợp với Năm – Tháng – Ngày
- Giờ làm một đơn nguyên (đơn vị)
- Nguyên căn cứ vào sự vận hành của mặt Trời,
xác định vòng quay của mặt Trời là một năm,
do vậy lấy mặt Trời để phối với Nguyên.
- Hội: trong một Năm, thì mặt Trời mặt Trăng
giao hội 12 lần, do vậy lấy mặt Trăng để
phối với Hội.
- Vận: là sự vận hành của Sao trong một Năm
là 360 độ, do vậy lấy Sao phối với Vận.
- Thế: một ngày có 12 canh giờ, cho nên lấy
“thần” (chỉ hằng tinh) để phối với Thế.
Phương pháp tính là: lấy Nguyên là 1, lấy
Hội là 12, lấy Vận là 360, lấy Thế là 4320.
Phối hợp với thời gian (số năm) thì một
Nguyên bằng 12 hội, một Hội bằng 30 vận, một
Vận bằng 12 thế, một Thế bằng 30 năm.
Khi đổi ra Giờ-Ngày-Tháng-Năm thì: một
Nguyên là 1 năm, 12 Hội là 12 tháng, 360 vận
là 360 ngày, do vậy 1 nguyên = 4320 thế.
Theo hệ thống học thuyết của Thiệu Ung, thì
một đơn vị tính là 129600, (một Nguyên),Ông
căn cứ vào Lục thập hoa giáp làm đơn vị cơ
sở:
60 x 60 x 60 60 = 12 960 000
Khi người xưa phân một canh giờ là 100 khắc,
tức là một giờ âm lịch bằng 100 khắc, theo
cách phân định thời gian của ngày hôm nay là
120 phút tương đương với 100 khắc, nên Thiệu
Ung lấy 12960000 chia 100 = 129600, tương
đương với: 4320 x 30 = 129600. Ví dụ, cụ thể
như Biểu suy đoán chu kỳ trong Trời Đất của
quẻ Thuần Càn: “Càn cung nhất nguyên” như
sau:
- Thuần Càn = 1 x 1 = 1 (Nguyên kinh Nguyên)
- Trạch Thiên Quải = 12 x 1 = 12 (Nguyên
kinh Hội)
- Hoả Thiên Đại Hữu = 12 x 30 = 360 (Nguyên
kinh Vận)
- Lôi Thiên Đại tráng = 360 x 12 = 4320 (Nguyên
kinh Thế)
- Phong Thiên Tiểu súc = 4320 x 30 = 129600
(Nguyên kinh Năm)
- Thuỷ Thiên Nhu = 129600 x 12 = 1555200 (Nguyên
kinh Tháng)
- Sơn Thiên đại súc = 1555200 x 30 =
46656000 (Nguyên kinh Ngày)
- Địa Thiên Thái = 46656000 x 12 = 559872000
((Nguyên kinh Giờ).
Thiệu Ung với phương pháp “tư duy số” của
mình, ông lấy “số” làm cơ sở để khởi Quái
trên nguyên lý “Vạn vật giai số”. Bao gồm:
quái số, thời số, vật số, âm số, can chi số,
niên nguyệt nhật thời số, tự số, sinh thần
số, xích số, độ số, nhân số, phương vị cửu
cung số, ngũ hành sinh thành số, thập nhị
sinh tiêu số. Nền tảng để Thiệu Ung hình
thành phương pháp “tư duy số”, là Thiệu Ung
coi mặt Trời là một chu kỳ vận động của một
Ngày. Có nghĩa là một Hào của quẻ Dịch, luôn
luôn tiệm tiến trải qua 12 quá trình (12 quẻ),
tương đương với 60 ngày (Lục thập hoa giáp),
do vậy một quẻ Dịch có 6 hào thì tương đương
với 6 x 60 = 360 ngày. Đây là điều mà, khi
các Nhà xuất bản tại Trung quốc không đề cập
tới trong quá trình phát hành.
Hoàng cực kinh thế là sản phẩm của phương
pháp “tư duy số” mà Thiệu Ung đã sáng tạo
nên, cụ thể để Dự trắc Vũ trụ và Xã hội loài
người, lấy chu kỳ tăng giảm của Âm – Dương
để giải thích các hiện tượng tự nhiên của Vũ
trụ, phù hợp với nguyên lý Âm – Dương của
Kinh Dịch. Nhưng Kinh Dịch lại “nhấn mạnh
tính năng động chủ quan, coi trọng năng lực
con Người”. Do vậy, khi tham khảo Hoàng cực
kinh thế, ta cần chú ý tôn trọng sự thật
khách quan của Lịch sử, trên tinh thần thực
sự cầu thị.
|