Sách vở ghi lại rằng ngày 10
tháng 12 năm 1949 Tưởng Giới
Thạch lên phi cơ bỏ Hoa lục tháo
thân tìm đất sống ở Đài Loan.
Với Mao Trạch Đông là kẻ chiến
thắng, lịch sử Trung Hoa sang
một trang mới và những nghịch lý
mới. Tình cờ làm sao, từ ngày
lịch sử ấy đến nay tính ra đúng
55 năm. Con số 55 có ý nghĩa rất
đặc biệt với những người lưu tâm
đến mệnh lý, ấy bởi vì nó chính
là tổng số 5 cặp số (1,6),
(2,7), (3,8), (9,4), (5,10) của
hà đồ, một đồ biểu vừa có tính
toán học vừa có tính huyền bí
vào bậc nhất của Á Đông.
Mà đã nói đến mệnh lý và hà đồ
thì lại phải trở về nước Trung
Hoa. Lịch sử cận đại của Trung
Hoa đầy sắt máu hỗn loạn. Đấu
tranh luôn luôn phân thành phe
phái, ai cũng nói mình đúng nó
sai, nên một người được phe
Tưởng thán phục, ngợi khen tất
bị phe kia Mao chê bai mắng chửi
và ngược lại. Thế mà có một nhân
vật đặc biệt không bị quy luật
này chi phối, đó là ông Tôn Văn,
tức Tôn Dật Tiên.
Điểm độc đáo của ông Tôn là ông
được cả hai phe, theo Tưởng cũng
như theo Mao, cùng ca ngợi. Hơn
nữa, đã qua đời hơn ba phần tư
thế kỷ, đến nay ông vẫn được
nhiều người Trung Hoa trong nước
cũng như hải ngoại coi như là
tác nhân chính dẫn đến cuộc cách
mạng Tân Hợi 1911 lật đổ nhà Mãn
Thanh và biến Trung Hoa thành
một nước cộng hòa. Để tỏ lòng
nhớ ơn, họ gọi ông một cách tôn
kính là "quốc phụ," dịch nôm na
là "vị cha già của đất nước."
Người tò mò không khỏi thắc mắc,
lá số họ Tôn có gì đặc biệt mà
ông lại có một chỗ đứng lịch sử
đặc biệt như vậy?
VẤN NẠN NĂM THÁNG NGÀY GIỜ SINH
ĐƯỢC GIẢI QUYẾT
Để bắt đầu ta phải giải quyết
vấn nạn về năm và ngày sinh.
Theo ông Bạch Thủy Thanh Tùng
viết năm 1937 trong quyển sách
bát tự "mệnh lý sách ẩn" thì ông
Tôn sinh năm Ất Sửu (1865). Một
số sách ra sau này như "Tử Vi
Đẩu Số Tân Giải" của ông Khổng
Nhật Xương, "Tử Vi Đẩu Số Mệnh
Phổ Khảo Chứng" của ông Hồng
Lăng cũng ghi như vậy. Một
trường phái khác, trong đó có
hai mệnh lý gia nổi tiếng của
Đài Loan là các ông Chính Huyền
Sơn Nhân (trong bộ "Thiên Địa
Nhân Tử Vi Đẩu Số") và ông Phan
Tử Ngư (trong quyển "Tử Vi Đẩu
Số Tâm Đắc") lại cho là năm Bính
Dần. Ngày sinh thì các tài liệu
trên đều cho là 6 tháng 10 âm
lịch; nhưng theo chính lời tự
thuật của ông Tôn Dật Tiên thì
ông sinh ngày 16 tháng 10 âm
lịch. Có bốn dữ kiện mà hai đã
bất đồng rồi thì làm sao xem số?
Rất may, sau khi người vợ đầu
của ông Tôn Dật Tiên qua đời năm
1952, người ta tìm ra trong các
tài liệu cá nhân của bà một văn
bản quan trọng là tờ "định thời
chỉ," do một ông thầy bát tự ghi
lại năm tháng ngày giờ sinh khi
ông Tôn vừa ra đời.
Tờ "định thời chỉ" này ghi rất
rõ: "Đồng Trị ngũ niên, thập
nguyệt, lục nhật, Dần thời"; tức
năm Đồng Trị thứ 5, tháng 10,
ngày 6, giờ Dần; và ngay cạnh đó
phân thành bát tự cũng nguyên
văn "Bính Dần, Kỷ Hợi, Tân Mão,
Canh Dần." Dùng phép tỷ giảo,
thiết nghĩ phải coi tờ thời trị
này là tiêu chuẩn mà bỏ các tư
liệu khác, tức là phải coi ông
Tôn Dật Tiên ra đời ngày 6 tháng
10 năm Bính Dần giờ Dần.
THÂN NGỘ TỨ QUYỀN, UY DANH HIỂN
HÁCH!
Điểm lạ lùng về lá số của ông
Tôn là mệnh ở Dậu có Thiên Đồng
hãm độc thủ, thân ở Sửu có Thiên
Cơ cũng hãm độc thủ; nghĩa là
chính tinh ở mệnh lẫn thân đều
lâm hãm địa. Thêm sinh tháng 10
đương nhiên là cảnh "Mệnh không
thân kiếp" thì sao lại được lịch
sử lưu danh? Có lẽ vì khúc mắc
đó mà nhiều nhà mệnh lý đến giờ
phút này vẫn chưa tin rằng ông
Tôn Dật Tiên sinh ngày 6 tháng
10 năm Bính Dần giờ Dần. Có
người còn cho rằng ông phải sinh
giờ Mão mới đúng, vì tối thiểu
giờ Mão cặp Kiếp Không ở Dần
Thân là miếu địa.
Thế nhưng nhìn kỹ lại, nhờ sinh
năm Bính Thiên Đồng ở mệnh hóa
Lộc, Thiên Cơ ở thân (tức cung
quan) hóa Quyền; nên mệnh thân
đều đắc cách "tuyệt xứ phùng
sinh" trở thành kỳ cách. Thân ở
Sửu có Cơ hóa Quyền như đã nói
trên, lại có ba tự Quyền (của Cự
Lương Đồng) hội họp. Vậy là thân
và tam phương triều về đều có
quyền; lại thêm Tả Hữu Hồng Hỉ
Quang Quý; bảo sao số không bột
phát kinh khủng?
Vì Tôn Dật Tiên có cách "mệnh
Không thân Kiếp" thiết tưởng cần
nói thêm về cặp sao này. Nhiều
người vẫn triệt để theo sách cổ,
lên án cặp Không Kiếp theo lẽ
"Không tác hư không, Kiếp tác sơ
cuồng" nghĩa là Địa Không làm
chuyện không đâu, Địa Kiếp làm
chuyện rồ dại. Theo ý người
viết, vậy là đã nhìn cặp sao này
ở ý nghĩa quá nhỏ hẹp. Không
Kiếp là yếu tố bất ổn nên hiển
nhiên bất lợi cho đời sống bình
thường, nhưng ta đâu thể dùng lẽ
thường để xét đời của các nhân
vật kiệt liệt. Thí dụ trong ngay
trong loạt bài này thì đã có hai
người là bà Condoleezza Rice,
vừa được Tổng Thống W. Bush đề
cử làm tổng trưởng ngoại giao
Hoa Kỳ; và rõ ràng hơn nữa Đệ
Nhất Phu Nhân Hoa Kỳ Laura Bush.
Thay vì đi vào chi tiết rắc rối,
chỉ xin đưa quan điểm rằng chính
nhờ cặp Không Kiếp "hư không" và
"rồ dại" này mà họ Tôn đã nghĩ
ra một học thuyết rất lạ lùng là
"ngôn nan hành dị"; giảng nghĩa
nôm na ra là có nhiều chuyện nói
nghe khó mà làm rất dễ. Và đời
họ Tôn đã là chứng minh hùng hồn
giá trị của học thuyết này.
Không một tấc sắt trong tay mà
đòi lật đổ một triều đại đã kéo
dài mấy trăm năm, chẳng phải là
việc không tưởng hay sao? Ta có
thể nói họ Tôn chỉ là một người
may mắn tình cờ ở đúng chỗ đúng
thời nên được hưởng công lao.
Nhưng nói gì mặc lòng, điểm quan
trọng nhất là họ Tôn đã dám bất
chấp hậu quả, nhất định theo
đuổi lý tưởng có vẻ hết sức viển
vông của mình. Thế nên ngược lại
phải nói ông lưu danh hậu thế
chính là nhờ cặp Không Kiếp
"không đâu" và "điên rồ" vậy!
GIAI THOẠI TÔN DẬT TIÊN
Người Á Đông có khuynh hướng
huyền thoại hóa những nhân vật
kiệt liệt, thế nên những dữ kiện
về đời ông Tôn thật khó biết
đúng sai, nhưng dù sao thì vẫn
là dữ kiện, nên xin ghi lại đây:
Người ta bảo cậu bé Tôn Văn sinh
ra trong một gia đình nghèo ở
huyện Thúy Hanh thuộc tỉnh Quảng
Đông. Lên 6, 7 tuổi đã phải vào
rừng lên núi kiếm củi với chị.
Lớn hơn chút nữa thì phải làm
trẻ chăn bò. Năm 11 tuổi (tức 10
tuổi Tây) mới được cho đi học,
và mặc dù còn thơ ngây, cậu Tôn
Văn đã thấy ngay tính quan liêu
trong cung cách của các thầy
giáo, bọn trẻ như ông chẳng được
giảng dạy gì cả, phải tự học
lấy, lại phải tôn kính cơm bưng
nước rước phục vụ cho thầy.
Lại có chuyện kể rằng trước nhà
cậu Tôn Văn có một cây đa to.
Những ngày nóng dưới bóng râm
của cây đa ấy có một ông già tên
Bằng Sảng Quan từng đi lính cho
Thái Bình Thiên Quốc ngồi kể lại
chuyện xưa cho bọn trẻ nghe.
Những câu chuyện này đã tạo ấn
tượng rất mạnh trong đầu cậu,
dẫn đến cái nhân cách mạng sau
này.
Năm 1978, mới ở tuổi 13, cậu có
một cơ hội hết sức đặc biệt là
cùng mẹ sang quần đảo Hạ Uy Di
sống chung với người Anh đã tha
phương cầu thực ở đó nhiều năm
trước và may mắn trở thành một
ông chủ nhỏ. Thật ứng hợp làm
sao, vì đây vẫn thuộc đại hạn
đầu tiên ở Dậu có Thiên Đồng.
Đồng hãm địa vốn ứng với sự
phiêu du, đối cung Âm, tam hợp
Cơ đều là động tinh, hạn tài có
nguyệt mã (khác Thiên Mã) Lộc
Tồn, Lộc Quyền hội họp đúng là
cách đi xa đắc chí. Cung huynh
đệ thì có Sát Phá Tham Mã Khốc
Khách Xương Khoa song Hao đắc
địa, đúng là cách có anh em xuất
ngoại tay trắng làm nên.
Ở Hạ Uy Di cậu Tôn được anh gửi
vào trường học. Nhờ đó cậu có cơ
hội làm quen với những tư tưởng
của tây phương như triết lý dẫn
đến cuộc cách mạng Pháp và
thuyết tiến hóa của Charles
Darwin. Cậu cũng được chứng kiến
cuộc đấu tranh tuyệt vọng của
người dân bản xứ chống lại mưu
toan của Hoa Kỳ sát nhập Hawaii.
Trông người lại nghĩ đến ta, cậu
đau lòng trước cảnh đất nước
Trung Hoa đang bị các cường quốc
Tây phương xâu xé. Cái nhân cách
mạng lại càng rõ nét.
NHẤT ĐỊNH ĐẤU TRANH!
Cứ theo các câu chuyện kể thì
khúc quanh lớn của đời ông Tôn
Dật Tiên xảy ra vào năm 1894 khi
ông và một đồng chí tìm cách đệ
trình lên quan lớn Lý Hồng
Chương một bản đề nghị dài tám
ngàn chữ, yêu cầu cải cách canh
tân. Không được Lý Hồng Chương
tiếp, kế đó Trung Hoa đại bại
trong cuộc chiến với Nhật Bản
(phải ký hòa ước bồi thường
chiến phí và nhượng đảo Đài Loan
năm 1895). Đây chính là giọt
nước tràn lý, cái nhân cách mạng
đã mọc lên thành cây; và ông Tôn
lao đầu vào cuộc đấu tranh,
chẳng bao giờ nhìn lại nữa.
HÌNH TÙ KỴ ẤN, LAO NGỤC NAN ĐÀO!
Cuộc cách mạng của Tôn Dật Tiên
bắt đầu một cách khiêm nhượng
nếu không muốn nói là tai hại.
Ông trở lại Hạ Uy Di, kêu gọi
mãi mới tìm được khoảng 20 đồng
chí, lập thành Hưng Trung Hội
cuối năm 1894, chủ trương làm
cách mạng bằng vũ lực, có nhờ cả
một chuyên viên người Đan Mạch
làm huấn luyện viên sử dụng vũ
khí tiền tiến của tây phương.
Nhưng Thiên Đồng cư mệnh khó
lòng thực tế, hiển hiện rõ rệt
vì mưu toan nổi dậy đầu tiên của
ông năm 1895 chưa khởi sự đã lộ
ra ngoài và bị bóp chết từ trong
trứng nước. Nhà Thanh trương
hình ông lên, treo thưởng lớn.
May ông kịp thời lánh nạn sang
Nhật Bản.
Ở đây phải nói về cung tử tức.
Cung này vừa có Liêm hóa Kỵ, vừa
bị cả Hình lẫn Kình trấn giữ,
nhằm cả hai hung cách là Hình Tù
giáp Ấn và Hình Tù giáp Kỵ. Từ
đó phải đoán đường con cái phải
gặp cảnh sinh ly tử biệt. Quả
nhiên, mặc dù có một trai hai
gái với bà vợ đầu, vì đời tranh
đấu bôn ba ông Tôn ít khi có cơ
hội gặp con. Bất hạnh hơn nữa là
người con gái thứ của ông, tức
cô Tôn Kim Diễm, sinh năm 1895,
tiểu hạn nhằm đúng ngay cung
mệnh nên bị ứng mạnh, đột ngột
qua đời năm 1913, khi chưa kịp
đến tuổi đôi mươi.
Hai hung cách này ở cung tử
nghĩa là xung cung điền. Thế nên
ngoài chuyện bất hạnh đường con
cái cũng rất khó tránh chuyện
ngục tù. Đọc thoáng qua đời Tôn
Dật Tiên ta không thấy ông bị
tù, nhưng xem lại kỹ hơn thì năm
1896 sang vận động đấu tranh ở
Luân Đôn ông bị một thám tử
người Anh lừa bắt rồi đưa vào
giam ở sứ quán Trung Hoa, suýt
bị giải về nước cho nhà Thanh xử
tử.
May sao, ông tìm cách liên lạc
được với một ông thầy dạy học
cũ. Tin ông bị bắt do đó lộ ra
ngoài rồi được đăng lên đủ thứ
báo. Quần chúng Anh giận dữ lên
tiếng đòi chính phủ phải can
thiệp để ông được thả ra. Chính
quyền nhà Thanh yếu kém, làm sao
dám đi ngược lại nước Anh là đại
cường số một của thế giới thời
ấy? Thế nên ông được thả sau 12
ngày bị giam giữ. Nhìn lại đại
hạn năm 1896, quả nhiên cung tật
vào Ngọ bị đúng các cách Hình Tù
giáp Ấn và Hình Kỵ giáp Ấn đã kể
trên. Thế mới biết tử vi chính
xác. Số đã nói phải tù thì dù
anh hùng kiệt liệt như họ Tôn
cũng khó mà thoát được.
CHÍNH NHỜ BẤT CẨN, NỔI TIẾNG NĂM
CHÂU!
Theo quyển "The Soong Dynasty"
(triều đại nhà Tống) của ông
Sterling Seagrave thì ông Tôn bị
bắt hoàn toàn là vì bất cẩn, đã
phạm những lỗi lầm cơ bản nhất
của một người đang bị nhà Thanh
treo giá bêu đầu. Chi tiết chẳng
cần đề lại đây, nhưng giả như
ông cẩn thận hơn thì có lẽ đã
không bị bắt, mà không bị bắt
thì đã chẳng ai buồn biết Tôn
Dật Tiên là ai.
Sự thật đã chứng tỏ là nhờ báo
chí khắp nơi đăng tải mà sau khi
được thả ra thì Tôn Dật Tiên
thành một tên tuổi quốc tế, và
rồi nhanh chóng được huyền thoại
hóa như một thiên thần. Hóa ra,
"nhờ" bất cẩn mà ông Tôn đã đạt
cái thành công to lớn nhất của
một người đấu tranh chính trị là
trở thành tên tuổi trên đầu môi
chót lưỡi của người đời. Thế mới
biết đời này dại khôn khó luận,
họa phúc nan lường.
Nhưng hoàn cảnh của ông trong
nhiều năm kế tiếp đó vẫn chỉ là
có tiếng mà không có miếng. Tính
đến cuối năm 1910 các tổ chức
dưới quyền ông tổ chức thêm
nhiều cuộc nổi dậy nữa, và đều
thất bại thê thảm. Xem lại lá số
thì đây là hai hạn 26-35 và
36-25 (thời gian 1891-1910). Hạn
đầu ở Hợi có Thái Dương cực hãm
lại không được cát hóa, may mà
Di có Cự tự Quyền Lộc Tồn nguyệt
mã, Phúc vào Sửu được bốn Quyền
tụ họp như đã bàn trên nên biến
hung hiểm thành cơ hội. Hạn sau
vào Phá ở Tý tưởng tốt đẹp, tiếc
rằng Phá rất kỵ Xương Khúc, cung
lại bị Thiên Phúc trấn giữ, đại
sự nan thành.
MỘT BƯỚC CÔNG DANH, MƯỜI NĂM LAO
TOÁI!
Kế đó là hạn 46-55 vào chính
cung Sửu là lúc thời cơ đã đến.
Biến cố đầu tiên là cuộc nổi dậy
thất bại ở Hoàng Hoa Cương tháng
4 năm 1911 khiến 72 đồng chí của
ông Tôn phải hy sinh (sau này
được gọi là cuộc nổi dậy của 72
liệt sĩ).
Ngày 9 tháng 10 một cuộc nổi dậy
nữa bị bại lộ, nhưng phải chăng
vì năm 1911 đại tiểu hạn trùng
phùng, số trời đã định phải có
biến cố thuận lợi xảy ra cho ông
Tôn, mà lịch sử đã thể hiện cái
tính nghịch lý của nó? Sự thật
là vì chính quyền nhà Thanh nhất
quyết tận diệt lực lượng cách
mạng bằng bạo lực, nhiều người
có cảm tình hoặc dính líu đến tổ
chức của ông Tôn cho rằng mình
phải nhất tề nổi dậy để tìm cái
sống trong cái chết. Chi tiết
chẳng cần nói thêm, vì đây chính
là cuộc cách mạng Tân Hợi 10
tháng 10 năm 1911, dẫn đến sự
cáo chung của nhà Mãn Thanh và
sự khởi đầu của một giai đoạn
mới trong lịch sử Trung Hoa, đầy
hy vọng nhưng ngập tràn sắt máu.
Là vị anh hùng số một, ông Tôn
vinh quang về nước và được bầu
vào chức lâm thời đại tổng thống
cuối năm 1911.
Thế nhưng xét trên căn bản đại
hạn thì cung Sửu có một khuyết
điểm lớn vì nó ở vị trí Trực Phù
là nơi rất yếu, đầy thua thiệt
của vòng Thái Tuế. Thành thử,
công lao cách mạng bị Viên Thế
Khải tìm cách chiếm đoạt. Năm
1912 họ Viên ép ấu chúa Phổ Nghi
thoái vị, rồi đóng một vở kịch
hòa giải với lực lượng cách
mạng, bảo rằng chính mình cũng
chủ trương dân chủ. Cực chẳng đã
ông Tôn phải nhường chức lâm
thời đại tổng thống cho họ Viên
và nhận một chức vụ khiêm nhượng
nếu không muốn nói là bù nhìn là
phụ trách việc thiết lập hệ
thống đường xe lửa cho chính phủ
mới. Khi nắm quyền rồi họ Viên
diệt hết lực lượng chống đối
bằng vũ lực cũng như thủ đoạn mờ
ám, và rồi tự xưng làm vua. Cuối
cùng vì áp lực nổi dậy khắp nơi,
họ Viên lâm bệnh rồi chết trong
nhục nhã năm 1916 sau chỉ 83
ngày "tại vị."
Họ Viên chết rồi chuyện cũng
chẳng yên vì trung ương trống
rỗng tất bốn phương loạn lạc.
Trong những năm sau đó, ông Tôn
hết lên voi rồi lại xuống chó,
liền liền như chong chóng. Hôm
nay là đại lãnh tụ, mai lại phải
về vườn hoặc hốt hoảng lưu vong;
nhưng phải chăng ở tam hợp Thiếu
Âm-Long Đức-Trực Phù thêm Không
Kiếp thích hợp cho việc dưỡng
nuôi tư tưởng mà hai năm 1918 và
1919 ông đã hoàn chỉnh "hệ tư
tưởng Tôn Văn" dẫn đến thuyết
tân Tam Dân, tức "dân tộc độc
lập, dân quyền tự do, dân sinh
hạnh phúc" và thuyết "tri nan
hành dị" (nói khó làm dễ), có
thể coi là một cách nhìn vô cùng
mới lạ về những vấn đề lớn của
cuộc đời.
VẪN CHỈ LÀ MỘT CON NGƯỜI!
Cho đến đây ta chỉ thấy ông Tôn
Dật Tiên như một vị đại anh
hùng, cả đời hy sinh vì đất nước
chẳng lý gì đến quyền lợi cá
nhân. Đây dĩ nhiên là hình ảnh
được vẽ ra trong đa số các sách
viết về ông bởi người Trung Hoa.
Để quân bằng xin bàn đến cung
thê vì cung này rất lạ. Lương có
Thanh Long Lưu Hà thêm Xương
Khúc Thai Tọa giáp tất nhiên
chẳng dở, và hoàn toàn ứng hợp
với bà vợ kiệt liệt của ông, tức
bà Tống Khánh Linh (sau là phó
chủ tịch và rồi chủ tịch danh dự
của Hoa lục). Thế nhưng sao lại
có thêm Hỏa Linh Đào Hồng Hỉ
Không Tả Hữu và Mộc Dục hội họp,
đại biểu liên hệ thiếu đứng đắn?
Xem kỹ lại đời ông, ta mới hiểu.
Ông lấy một cô Lô Mộ Trinh làm
vợ theo lệnh cha mẹ năm 1885,
sinh con trai trưởng Tôn Khoa
năm 1891, con gái thứ Tôn Kim
Diễm 1895, con gái út Tôn Kim
Uyển 1896. Năm 1913 khi ông sang
Nhật để tránh họa Viên Thế Khải,
bà vợ cũng theo ông. Thế nhưng
khi ở Nhật ông và bà Khánh Linh
nảy ra một mối tình thầm kín.
Vấn đề là ông Tôn và cha bà
Khánh Linh, tức ông Charlie Tống
vừa là hai người bạn thân, vừa
là hai đồng chí đấu tranh, tuổi
ông Tôn lại hơn bà Khánh Linh
hai con giáp. Bà Khánh Linh có
lần khéo miệng thưa chuyện này
với cha và bị cực lực phản đối.
Năm 1915 bà Tống Khánh Linh trốn
nhà từ Thượng Hải sang Nhật gặp
ông Tôn. Ông Tôn bảo bà là ông
đã ly dị vợ, và hai bên tiến
hành hôn lễ. Nhưng chẳng có tài
liệu nào chứng thực là ông Tôn
đã ly dị vợ, nên tối thiểu trên
mặt luật pháp phải nói là ông
Tôn đã bỏ vợ theo một người đàn
bà khác. Phần bà Khánh Linh, rõ
ràng đã bất chấp lệnh cha mẹ lén
bỏ sang nước khác theo tiếng gọi
của con tim. Vậy thì, dù muốn dù
không cũng phải nhìn nhận hai
người đã có liên hệ thiếu đứng
đắn. Tức là khoa Tử Vi một lần
nữa lại đúng không thể tưởng
tượng được.
Người đau đớn nhất trong vụ này
là cha bà Khánh Linh, ông
Charlie Tống; vì đã coi ông Tôn
như người bạn thân nhất. Cho
rằng mình bị phản bội, đến khi
chết ông Charlie vẫn không chịu
tha tội cho ông Tôn.
Chữ tình không ai dám nói, nhưng
dữ kiện trên đây cho thấy ông
Tôn, với lòng yêu nước yêu dân
nồng nàn không ai có thể phủ
nhận, vẫn có những khuyết điểm
và yếu đuối tầm thường của một
con người.
MỘNG LỚN CHƯA THÀNH
Năm 1921 là khởi đầu hạn 56-65,
có vẻ đầy triển vọng cho ông
Tôn, với hy vọng bắc phạt, hạ
các sứ quân để thống nhất Trung
Hoa, nhưng sau bao nhiêu biến
chuyển lịch sử liền liền, thời
cuộc vẫn ở trong tay kẻ khác.
Năm 1924 ông lên Bắc Kinh tiếp
tục cuộc tranh luận với những kẻ
nắm quyền thời ấy, nhấn mạnh nhu
cầu phải đòi hủy bỏ các hiệp ước
bất bình đẳng với các đại cường.
Nhưng lúc này ông đã bị bệnh gan
ở giai đoạn sau cùng. Nhìn lại
cung tật ách của ông có Tham
Lang Đà La, sách nói không khốn
bởi gan cũng bởi dạ dày, thật là
đúng quá!
Cuộc chiến đấu với tử thần kéo
dài một năm. Cuối cùng, tháng 12
năm 1925 ông trút hơi thở sau
cùng ở Bắc Kinh, trong khi đất
nước vẫn chia năm xẻ bảy, hẳn
nhiên mang theo mối hận là giấc
mộng thống nhất và canh tân đất
nước vẫn không thành.
Nhìn lại cuộc đời của ông Tôn,
ta thấy ngay một điểm lạ kỳ là
ngoại trừ tài ra hải ngoại dùng
miệng lưỡi gây tiền cho tổ chức
(ứng với Cự Môn nguyệt Mã song
Lộc ở tài bạch) và là cha đẻ của
hai thuyết "Tam Dân" và "Ngôn
Nan Hành Dị" ông đụng việc gì là
hư việc đó. Vậy mà ông đã luôn
luôn được coi là lãnh tụ tối cao
của mọi phong trào cách mạng.
Qua đời khi hoàn cảnh của nước
rối như mối bòng bong, nếu là
người khác tất bị coi là kẻ cả
đời thất bại, vậy thì tại sao
ông lại được cả hai phe sau đó
kình chống nhau cùng kính
ngưỡng, và người Trung Hoa khắp
thế giới ghi ơn?
Ta có thể nói tấm lòng của ông
to lớn như biển nên đã làm cho
quần chúng chấn động tâm tư,
nhưng lập luận như thế e không
ổn vì có lẽ còn nhiều người khác
cũng có tấm lòng chẳng thua gì
ông. Thiết nghĩ, trong trường
hợp này, câu trả lời của tử vi
hợp lý hơn nhiều.
Thứ nhất, hạn 56-65 vào cung Dần
đắc Tử Phủ Vũ Tướng, nhìn thoáng
qua tưởng là tốt đẹp, nhưng hội
họp thì có Liêm hóa Kỵ Kình Hình
Riêu Song Hao, và nhất là vào vị
trí Trường Sinh, tối kỵ cho
người đã quá ngũ tuần. Tiểu hạn
vào cung Di nguyên thủy, gặp Âm
Dương hãm địa không được cát
hóa, thêm Hỏa Đào Hỉ Thiên
Không, chính là đã đến số rồi
vậy.
Thế nhưng thật kỳ diệu làm sao,
đại hạn này lại ở đúng ngay Thái
Tuế. Như Thiên Lương tiên sinh
đã có nhận xét, từ giã cuộc đời
khi đại hạn ở trong vòng Thái
Tuế thì dễ được người ở lại tiếc
thương.
Hóa ra, việc ông Tôn tiếp tục
được người Trung Hoa quốc nội
cũng như hải ngoại ngưỡng mộ chỉ
là một thực tế của số mệnh mà
thôi!
Ngày 10 tháng 12 năm 2004
ĐẰNG SƠN
TÌM ĐỌC: "Tử Vi hoàn toàn khoa
học tập 1: Chính tinh, tứ hóa,
và các sao liên hệ" của tiến sĩ
Đằng Sơn.
Quyển sách giải đáp những bí mật
nghìn năm của khoa tử vi.
|