|
-
Các
vần
A, S
:
tính
cương
quyết,
thành
thật
nên
hay
cứng
rắn
trong
quyết
định,
can
đảm
dấn
thân
và
ghét
kẻ
xu
nịnh.
Những
ai
mang
vần
chữ
cái
A và
S có
tính
tự
tôn,
tự
đại,
vì
thế
thích
làm
người
chỉ
huy,
lãnh
đạo
hơn
làm
cấp
dưới
quyền.
Cuộc
sống
tình
cảm
thường
độc
đoán,
khắc
khe
nên
gia
đạo
không
trọn
vẹn
hạnh
phúc.
Công
danh
sự
nghiệp
dễ
đạt
đến
thành
công,
tiền
của
đi
song
hành
theo
đường
quan
lộc.
-
Các
vần
B, K
và T
:
người
có
duyên
ngầm,
có
số
đào
hoa
và
giỏi
về
giao
tế
ứng
xử.
Tính
tình
phúc
hậu,
thương
người,
đồng
thời
được
mọi
người
giúp
đỡ.
Càng
lớn
tuổi
danh
vọng,
địa
vị
càng
cao,
tiền
tài
không
thiếu.
-
Các
vần
C, L
và U
: có
tính
khiêm
tốn,
biết
phục
thiện,
ham
tìm
tòi
học
hỏi.
Người
thông
minh,
sáng
suốt
khi
giải
quyết
và
có
khả
năng
vượt
mọi
trở
ngại
để
đạt
mục
đích.
Trong
tình
cảm
thường
gặp
đỗ
vỡ,
tuy
nhiên
đến
hậu
vận
có
một
mái
ấm
hạnh
phúc
tuyệt
vời.
Công
danh
sự
nghiệp
thường
không
bằng
phẳng
phải
có
người
giúp
đỡ,
tài
lộc
vì
thế
không
có
của
để
dành.
-
Các
vần
D, M
và V
:
thành
công
về
sự
nghiệp,
danh
vọng
cũng
như
vật
chất
nhưng
không
to
tát
lắm.
Về
tình
cảm
có
cuộc
sống
bình
dị,
chừng
mực
không
ồn
ào,
thích
nơi
yên
tĩnh.
Tính
tình
ghét
việc
gian
xảo
thích
có
sự
bình
đẳng
giữa
mọi
người,
không
lo
xa,
sống
hết
mình
với
vợ
con
và
thân
hữu
nhưng
do
không
phô
trương
thường
dễ
bị
hiểu
lầm.
Những
người
mang
vần
D, M
và V
có
số
đào
hoa,
con
cái
có
đứa
thành
đạt
có
đứa
hư
hỏng
do
“con
gái
đức
cha,
con
trai
đức
mẹ”,
hậu
vận
gặp
nhiều
biến
đổi.
-
Các
vần
E, N
:
thuộc
chu
kỳ
nhập
cung
trung,
là
nơi
xuất
phát
cũng
như
thu
về,
nên
cuộc
đời
sướng
khổ
triền
miên
như
câu
“ba
chìm
bảy
nổi
chín
lênh
đênh”,
nhưng
vẫn
vượt
qua
được
phong
ba
bão
táp.
Do
mang
tính
chất
thay
đổi
nên
tích
lũy
được
nhiều
kinh
nghiệm
để
phát
huy
những
sáng
kiến
về
sau.
Thích
di
du
lịch,
giỏi
ngoại
ngữ,
tình
cảm
cũng
nhiều
sôi
nổi
lẫn
bi
đát.
Công
danh
sự
nghiệp
thường
trung
bình,
nếu
vượt
quá
giới
hạn
sẽ
gặp
hung
sát.
Tài
lộc
không
có
gì
nổi
bậc.
-
Các
vần
G, P
và Y
: có
tính
trầm
lặng,
thích
yên
tĩnh
và
trung
thực
với
bản
thân,
không
khoa
trương,
rất
tự
giác
cầu
tiến
để
tự
điều
chỉnh
lấy
mình.
Do
có
đời
sống
nội
tâm
cao
dễ
bị
hiểu
lầm
là
người
ích
kỷ.
Về
tình
cảm
thường
cao
số,
nên
những
mối
tình
đầu
hay
tan
vỡ
cuối
cùng
chỉ
lấy
người
tưởng
không
duyên
số
mà
thành
đôi.
Công
danh
sự
nghiệp
không
mấy
thành
đạt,
số
chỉ
buôn
bán
nhỏ
(tiểu
thương),
nhà
đất
tiền
của
không
nhiều.
-
Các
vần
H, Q
:
giàu
sự
tự
tin
thích
tự
lập,
ưa
nghe
lời
tâng
bốc
nên
nhiều
khi
bị
tiểu
nhân
lợi
dụng.
Tính
hay
can
thiệp
vào
chuyện
bất
bình,
có
những
can
thiệp
theo
kiểu
“ăn
cơm
nhà
vác
tù
và
hàng
Tổng”
nhưng
vẫn
thấy
hứng
thú
lao
vào,
do
tính
hiếu
thắng
và
tự
đại.
Có
duyên
ngầm
nhưng
nhút
nhát
trong
tình
cảm,
cho
nên
đời
sống
tình
cảm
thường
bình
lặng,
chấp
nhận
hạnh
phúc
sẵn
có.
Công
danh
sự
nghiệp
vững
chắc
từ
tuổi
37
trở
lên,
nên
bảo
đảm
cuộc
sống
từ
hậu
vận.
-
Các
vần
I, R
:
biết
hòa
mình
cùng
tập
thể
nhờ
tính
thích
hòa
nhập,
nhưng
hay
cố
chấp
bảo
thủ,
lại
không
thích
đua
chen,
không
biết
lo
xa
nên
coi
thường
đường
công
danh
sự
nghiệp.
Trong
tình
cảm
lại
buông
thả
đam
mê
khi
đã
yêu
ai,
sẵn
sàng
chết
vì
yêu,
nên
khi
có
gia
đình
rất
chung
thủy
với
vợ
biết
lo
cho
con
cái.
Số
thọ
và
đông
con.
Vần
I và
R
mang
con
số 8
thuộc
quẻ
Cấn,
có
nghĩa
là
núi
(Sơn)
nên
dù
coi
thường
đường
công
danh
sự
nghiệp
nhưng
vẫn
vững
vàng,
nhưng
trì
trệ
phát
triển.
Tài
lộc
hơn
trung
bình,
nếu
bộc
phát
nhanh
sẽ
sớm
tàn
lụi.
-
Các
vần
O, X
:
mang
tính
bặt
thiệp,
giao
tế
ứng
xử
tốt,
duyên
dáng
trước
mọi
người,
được
giao
nhiêu
công
viêc
tưởng
vượt
quá
khả
năng
nhưng
vẫn
hoàn
thành
xuất
sắc.
Khéo
tay
nên
có
khiếu
về
mỹ
thuật
điêu
khắc,
hội
họa
và
âm
nhạc
(nhạc
sĩ).
Tình
cảm
vì
thế
rất
ủy
mị,
thích
được
chiều
chuộng
và
yêu
thương.
Công
danh
sự
nghiệp
tuy
không
thành
đạt
vẻ
vang,
nhưng
hậu
vận
cũng
không
khốn
khó,
có
của
cho
con
cháu.
Nữ
nếu
hồng
nhan
sẽ
bạc
phận,
không
bạc
phận
cũng
truân
chuyên,
nam
bạo
phát
cũng
bạo
tàn.
Khi
tìm
vần
đặt
tên
theo
các
tính
chất
trên,
cần
biểu
thị
tên
lót
và
tên
chính
đúng
với
giới
tính,
để
tránh
gây
lầm
lẫn
trong
các
loại
giấy
tờ
không
có
nhân
dạng,
cũng
là
cách
biểu
thị
tính
Âm
Dương
được
rõ
ràng.
Như
tên
Lan,
Cúc
thường
đặt
tên
cho
nữ,
còn
Hùng,
Mạnh
thường
đặt
cho
nam,
trở
thành
tập
quán
và
thói
quen
nhận
định
của
mọi
người.
Ngày
xưa
các
bậc
ông
cha
không
đặt
tên
con
cháu
theo
kiểu
“ái
nam
ái
nữ”,
vì
cho
rằng
sẽ
có
huông
theo
tên,
thí
dụ
nam
giới
mà
đặt
tên
Nguyễn
Văn
Liễu
sau
này
sẽ
có
tính
ẻo
lã
như
con
gái,
ốm
như
thân
liễu,
cành
liễu
v.v…
Theo
Thiên
Việt
===
ĐẶT
TÊN
CHO
CON
(Thiên
Việt)
XU
HƯỚNG
ĐẶT
TÊN
CHO
CON
Như
đã
nói,
nhiều
người
muốn
đặt
cho
con
những
cái
tên
mang
lại
nhiều
điều
may
mắn,
nên
có
những
cách
để
lựa
chọn
như
:
-
Mong
thành
đạt
: có
những
tên
Vượng,
Ích,
Thành,
Đạt,
Tiến,
Thịnh,
Tài,
Kiệt,
Hiển,
Vinh,
Phát…
-
Muốn
giàu
sang
phú
quý
: có
Phúc,
Lộc,
Vượng,
Phát,
Tài,
Kim,
Ngân,
Châu,
Báu,
Ngọc,
Ngà,
Đại
v.v…
tránh
tên
Bần,
Tiện,
Khó,
Khăn,
Bé,
Ít,
Thiểu…
-
Mang
tính
gia
phong
đạo
đức
:
Nhân,
Lễ,
Nghĩa,
Trí,
Tín,
Liêm,
Chính,
Hiếu,
Trọng,
Đạo,
Đức…
-
Mang
tính
sức
khoẻ
:
Cường,
Cương,
Lực,
Kiện,
Cao,
Tráng,
An,
Khang…
nhưng
tránh
Nhu,
Yếu,
Bại,
Liệt,
Kiết,
Thấp,
Khớp…
-
Mang
tính
phong
cách
:
Hùng,
Dũng,
Mạnh,
Mãnh,
Can,
Trường,
Quang,
Minh,
Sáng,
Khai…
Trước
những
năm
1945
khi
nền
Nho
học
còn
thông
dụng,
các
bậc
cha
mẹ
đặt
tên
con
theo
lối
chiết
tự,
nghĩa
rất
hay
và
thâm
thúy
nhưng
cái
tên
nghe
lại
thô
kệch,
với
cách
ghép
2
chữ,
3
chữ
đến
10
chữ
thành
một
nghĩa.
Bản
chất
mỗi
chữ
đã
mang
ý
nghĩa
của
thuyết
Bát
Quái
lấy
trong
Hà
Đồ
Lạc
Thư
như
:
-
Dùng
1
nét
hay
một
chữ
gọi
là
Thái
Cực
(như
chữ
Nhất
chỉ
một
nét),
có
nghĩa
ngôi
cao
nhất
trong
trời
đất,
gần
như
đấng
tạo
hóa
đã
tạo
ra
vạn
vật
muôn
loài.
-
Dùng
2
nét
hay
hai
chữ
ghép
gọi
là
Lưỡng
Nghi
(như
chữ
Nhị
có
hai
nét
từ
chữ
Nhất
ghép
lại),
có
nghĩa
Âm
Dương
giao
phối,
nơi
sinh
ra
và
thu
về.
-
Dùng
3
nét
hay
3
chữ
ghép
gọi
là
Tam
Tài
(như
chữ
Tam
có
ba
nét
của
chữ
Nhất
ghép
lại),
để
chỉ
ngoài
Trời
và
Đất
còn
có
con
người.
-
Dùng
4
chữ
ghép
là
Tứ
Tượng,
5
chữ
là
Ngũ
Hành,
6
chữ
là
Lục
Hào,
7
chữ
là
Thất
Chính,
8
chữ
là
Bát
Quái,
9
chữ
là
Cửu
Trù,
10
chữ
là
Thành
Quái
v.v…
Đồng
thời
dùng
tên
64
quẻ
trong
Chu
Dịch
để
đặt
tên,
như
muốn
thành
đạt
đặt
tên
Tế (quẻ
Thủy
Hỏa
Ký
Tế)
ghép
với
họ
thành
tên
Trần
Ký
Tế
hay
Phạm
Ký
Tế…
Tuy
nhiên
với
người
không
thông
hiểu
nghĩa
Hán
Nôm
hay
Chu
Dịch,
cho
chữ
Tế
là
tế
lễ,
tế
thần
đồng
nghĩa
với
việc
quỳ
lạy,
van
xin,
chủ
về
quy
thuận,
quy
hàng.
Đến
nay
tiếng
Hán,
tiếng
Nôm
đã
mai
một,
nên
không
ai
còn
dùng
cách
chiết
tự
để
đặt
tên
cho
con
cháu
nữa,
cũng
như
giữa
chữ
viết
Hán
Nôm
và
chữ
Việt
đã
khác,
có
tên
tuy
đồng
nghĩa
nhưng
không
đúng
nét,
có
tên
lại
mang
hai
ba
nghĩa
khác
nhau
(như
chữ
Tế
nói
trong
thí
dụ
trên).
Ngoài
ra
trong
xu
hướng
đặt
tên
cho
con
hiện
nay,
nhiều
người
đặt
tên
với
sở
thích
cá
nhân
của
vợ
hay
chồng,
nên
ngoài
tên
họ (đôi
khi
họ
của
cả
chồng
lẫn
vợ
ghép
lại),
chữ
lót
Văn
hay
Thị,
rồi
đến
tên
sở
thích,
hay
sự
ngưỡng
mộ
như
Lê
Nguyễn
Thị
Du
Lịch
(thích
ngao
du
ngoạn
cảnh),
Nguyễn
Trần
Hoa
Trinh
Nữ (tên
bài
hát,
cũng
như
muốn
nói
con
gái
có
đạo
dức
gia
phong),
Phạm
Đỗ
Văn
Mỹ
Tâm
(có
lẽ
thích
ca
sĩ
Mỹ
Tâm)
v.v…
Cái
tên
đôi
khi
nói
lên
ước
muốn
tương
lai
cho
con
cái,
đọc
nghe
kêu
có ý
nghĩa,
nhưng
chưa
thật
phù
hợp
với
xã
hội
nhân
văn.
Bởi
nếu
tên
con
là
Nguyễn
Trần
Hoa
Trinh
Nữ
(5
chữ)
chỉ
là
thiểu
số
cá
biệt
trong
rừng
tên
3
chữ
từ
bao
đời
nay,
sẽ
gây
chú
ý
đến
mọi
người,
khi
lớn
chúng
gặp
bạn
trêu
ghẹo
“có
còn
trinh
nữ
không
?”,
thật
mắc
cỡ
vô
cùng.
Ngoài
những
cách
đặt
tên
cho
con
như
đã
dẫn
,
trong
tâm
linh
đa
số
người
Việt
còn
đặt
tên
con
theo
22
chữ
cái,
với
các
ý
nghĩa
mang
tính
thần
bí
của
mỗi
chữ,
sau
khi
đi
theo
nguyên
tắc
hộ
tịch
:
1-
Họ :
nguyên
tắc
về
hộ
tịch
lấy
họ
cha,
nếu
cha
vô
danh
mới
lấy
họ
mẹ.
Hiện
nay
nhiều
cha
mẹ
lấy
cả
hai
họ.
2-
Chữ
lót
tên
:
ngày
xưa
chữ
Văn
dùng
để
chỉ
con
trai,
chữ
Thị
để
chỉ
con
gái.
Nhiều
địa
phương
miền
Trung
không
dùng
chữ
lót
mà
chỉ
có
họ
và
tên.
Ngày
nay
nhiều
người
không
sử
dụng
Văn
hay
Thị
mà
thay
bằng
chữ
ghép
với
tên
như
Trần
Huệ
Phương,
Nguyễn
Tâm
Dung.
Vì
thế
đôi
khi
mới
đọc
tên
có
thể
lầm
lẫn
về
giới
tính.
3-
Tên
: là
tên
đi
vào
lý
lịch.
Như
Trần
Huệ
Phương,
ở
các
nước
Âu
Mỹ
sẽ
được
ghi
thành
:
Phương
–
Trần
Huệ
(tên
đi
trước
họ).
Nên
dù
tên
đơn,
tên
ghép,
cũng
chỉ
lấy
một
tên
ở
cuối
là
chính.
Nói
về
tính
chất
thần
bí
qua
22
chữ
cái
dùng
đặt
tên
cho
con
(thực
tế
có
đến
26
chữ
cái,
nhưng
những
chữ
không
phù
hợp
để
đặt
tên
theo
tiếng
Việt
như
J,
F,
W, Z
nên
chúng
tôi
loại
bỏ).
Như
muốn
đặt
tên
như
Phương
xem
vần
P,
tên
Nhung
xem
vần
N… |