|
(Vô Chiêu)
Đức lớn nhất của
trời đất là sự sinh hóa, đạo người phải theo
mà dưỡng nó. Đạo trời có bốn đức: nguyên,
hanh, lợi, trinh. Đạo người theo đó mà có
bốn đức: nhân, lễ, nghĩa, trí. Nhân là cái
gốc lớn, con người và vạn vật nhờ đó mà
thành, quốc gia nhờ nó mà vững vàng. Nhân là
mục đích tu dưỡng của Khổng giáo.
Nhân còn có hàm
cái ý của chữ ái. Có nhân mới có ái, có ái
mới có lòng thương người, yêu mến sự vật một
cách tự nhiên, không miễn cưỡng nên gọi là
an.
Có lòng nhân ái
thì con người mới an, mới có hòa bình, cùng
chung sống trong xã hội. Người có lòng nhân
ái luôn hiếu để và trung hậu, làm việc gì
cũng ung dung tự tại, thường làm các điều
phải theo trực giác sáng suốt của mình và
thuận theo thiên lý nên trong tâm lúc nào
cũng an. Kẻ bất nhân gian manh vì thiếu tình
cảm, luôn tính toán chỉ để mang lợi về cho
mình, sẵn sàng làm chuyện bất nghĩa hoặc
trái với thiên lý. Do làm các điều bất nghĩa
nên tâm u tối, thường lo sợ, bởi thế tâm lúc
nào cũng bất an.
Tâm là chủ tể
trong con người. Hiểu rõ cái tâm thì biết rõ
cái tính, biết rõ cái tính thì biết trời đất
và vạn vật. Tâm là thần minh, nó có đủ để
ứng phó với vạn sự, tính là cái lý hoàn toàn
của tâm. Trời là gốc nguồn của cái lý. Biết
rõ cái tính là biết nhân với lễ, là đức
nguyên và hanh của trời vậy.
Trong cơ thể con
người có phần quý, phần tiện, có phần lớn,
phần nhỏ. Đừng lấy phần nhỏ hại phần lớn,
chớ lấy phần tiện hại phần quý. Nuôi phần
nhỏ sanh nô tài, nuôi phần lớn sanh thiên
tài. Phần lớn là cái tâm, phần nhỏ là tai
mắt của mình. Tai mắt của con người không
phải để suy nghĩ, chỉ để nghe và nhìn nên nó
dễ bị ngoại vật che tối.
Dụng tâm để suy
nghĩ, suy nghĩ thì biết rõ đạo lý. Học là để
giữ lấy cái tâm và nuôi dưỡng cái tính, biết
rõ lý lẽ của trời mà theo cái chính mệnh.
Nếu tâm không sáng là không thể làm việc
chính đạo, nhất là khó tròn đạo hiếu.
Cổ nhân nói: 'Bách
thiện, hiếu vi tiên. Bách ác, dâm vi thủ '.
Chữ hiếu đứng
đầu trăm điều thiện. Chữ dâm đứng đầu trăm
việc ác. Chữ dâm có nghĩa là dâm dục dâm
đãng, nó là nguyên nhân gây nên đạo lý suy
đồi, làm mất thuần phong mỹ tục... Bởi vậy
người xưa bảo dâm đãng nặng tội hơn trộm
cướp. Thời nào cũng vậy, người ta đều xem
nặng chữ hiếu, có hiếu thảo với cha mẹ mới
xứng đáng làm người. Kẻ bất hiếu bị người
đời liệt vào hàng vô loại, vô nghì, thua
loài cầm thú.
Đức Phật dạy: 'Cõi
đời này có hai hạng người mà chúng ta không
thể trả ơn hết được, đó là Cha và Mẹ '. Cha
mẹ là người đã sanh ra ta, đem lại sự sống,
nuôi dưỡng dạy bảo và dẫn dắt cho ta vào đời.
Bổn phận làm con phải làm thế nào để đền đáp
công cha nghĩa mẹ. Người đời nhìn bổn phận
đền đáp này của mỗi người qua chữ hiếu.
Hiếu là biết thờ
kính, vâng lời và phụng dưỡng cha mẹ. Phụng
dưỡng trong sự thương kính, nếu không kính
trọng là lỗi đạo. Khi cha mẹ còn tại thế,
tránh làm những điều gì để cha mẹ lo buồn,
luôn phục tùng theo lẽ phải.
Phục tùng theo
đạo hiếu được chia làm hai loại:
- Vô vi là đối
xử trong lúc bình thường, thờ cha kính mẹ
không trái với lễ nghĩa.
- Vô cải là đối
xử với cha mẹ trong nghịch cảnh (cha mẹ làm
những việc trái với đạo lý), tức là phục
tùng theo đạo lý, chớ không phải phục tùng
mà bất phân phải trái. Không phải cha mẹ bảo
làm điều trái đạo cũng nhắm mắt làm theo.
Điều này vô tình gây nên tội bất hiếu vì
không can ngăn để gây ra tội lỗi và hậu quả
làm tổn đức của gia tộc. Chẳng hạn như cha
mẹ cần tiền bảo con cái đi vận chuyển ma túy...
Nếu thấy cha mẹ
có làm điều gì trái với đạo lý, bổn phận làm
con phải ôn hòa can ngăn. Nếu cha mẹ không
chịu nghe theo lời khuyên thì vẫn tỏ lòng
cung kính và hiếu thảo, chờ đợi cơ hội hoặc
dần dần lựa lời trình bày trong sự tế nhị.
Gìn giữ danh
tiếng cho cha mẹ là bổn phận quan trọng nhất
của người con hiếu đạo. Dù có đôi lúc cha mẹ
nóng nảy, giận dữ ra tay đánh đập hay la rầy
thì cũng không than oán. Cầu nguyện cho cha
mẹ được tăng phúc thọ. Khi cha mẹ đã 'ra đi
', phải cầu nguyện cho vong linh được vãng
sanh về cảnh giới an lạc.
Đức Khổng Tử nói:
'Kính kỳ sở tôn, ái kỳ sở thân, sự tử như sự
sinh, sự vong như sự tồn, hiếu chi chí giã
'. Kính những người mà cha mẹ mình đã tôn
trọng, thương những người mà cha mẹ đã yêu
mến, thờ cha mẹ lúc mất rồi cũng như lúc còn
sinh sống, đó mới đúng là hiếu vậy. Ngài
khuyên nên chuyên tâm thành ý thờ cha mẹ.
Lúc nào cũng tưởng tượng cha mẹ ở trước mặt
mình dạy bảo.
Làm người phải
luôn ghi nhớ và đặt chữ hiếu lên hàng đầu.
Chớ sai lầm trong việc trả hiếu qua hình
thức bề ngoài để che mắt thiên hạ. Muốn
người khen tặng nên bày ra những cách phiền
toái như làm đám giỗ cha mẹ thật lớn để 'ăn
nhậu ', đốt nhiều 'giấy tiền vàng bạc ', 'ngựa
xe, nhà cửa giấy '... Thật ra, cách trả hiếu
qua hình thức này chẳng những tốn kém mà còn
bị phản tác dụng. Tự mình gây thêm lầm lỗi
đối với người đang 'an giấc nghìn thu ' mà
thôi!
Lễ giỗ cốt để
gợi nhớ đến hình ảnh và những lời dạy bảo
của ông bà cha mẹ khi còn sống. Quyết tâm
thực hiện những lời vàng ngọc đó, đồng thời
tu dưỡng tâm tánh của mình trong cuộc sống
để 'hồn thiêng ' được mỉm cười nơi 'chín
suối '. Đó mới chính là làm tròn chữ hiếu
vậy. Thiện tai!
* * *
Luận đời người
qua cộng số là phương pháp tính số tương ứng
với các vần trong họ và tên của một người.
Phương pháp này do các nhà thông thái Hy Lạp
tìm ra. Vô Chiêu xin gửi đến quý độc giả để
nghiên cứu.
|
A |
B |
C |
D |
E |
F |
G |
H |
I |
|
J |
K |
L |
M |
N |
O |
P |
Q |
R |
|
S |
T |
U |
V |
W |
X |
Y |
Z |
|
|
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
9 |
Bảng chữ số
Trong bảng này,
số sắp theo thứ tự từ số 1 đến số 9 theo
hàng ngang. Chữ được sắp theo mẫu tự
Alphabet cũng thứ tự theo hàng ngang, hàng
đầu từ A đến I, hàng thứ hai từ J đến R,
hàng thứ ba từ S đến Z (Bảng so chữ số bên
dưới)
Cách tính
* Viết họ và tên
của người muốn tính, kể cả chữ lót (midle
name). So các vần trong tên họ với bảng chữ
số được sắp sẵn từ số 1 đến 9. Cộng tất cả
các con số đó lại sẽ có được tổng số.
* Cộng hai hoặc
ba con số của tổng số đó, lấy số thành cuối
cùng đem so vào số mẫu đã được luận sẵn. (Nếu
trên số 9 như số 10 thì tính 1; 11 tính 1 +
1 = 2; 12 tính 1 + 2 = 3...)
Thí dụ:
- Trần văn Tám:
Tran = 2 + 9 + 1 + 5; Van = 4 + 1 + 5; Tam =
2 + 1 + 4; Tổng cộng = 34. Số 34 = 3 + 4 =
7. Số 7 là số thành cuối cùng, nhìn vào số 7
đã được luận sẵn sẽ biết bản tánh, nhân cách,
công việc, tài chánh, tình cảm và vận mệnh
của cuộc đời anh Tám.
- George Herbert
Walker Bush: George = 7 + 5 + 6 + 9 + 7 + 5;
Herbert = 8 + 5 + 9 + 2 + 5 + 9 + 2; Walker
= 5 + 1 + 3 + 2 + 5 + 9; Bush = 2 + 3 + 1 +
8. Tổng cộng = 118. Số 118 = 1 + 1 + 8 = 10.
Số 10 tính 1. So với số 1 đã được luận sẵn
bên dưới.
Luận theo số
Các con số từ 1
đến 9 được luận bàn như sau:
Số 1: Mặt trời
Tượng trưng cho
sự can trường.
Mẫu người có lập
trường cứng rắn. Cương nhiều hơn nhu nên dễ
trở thành độc tài.
Bản tánh và nhân
cách
- Thông minh,
thích tìm tòi mạo hiểm, có tinh thần tự chủ,
rất cương quyết và có óc tổ chức. Tuy nhiên
lại cố chấp, không chịu sửa đổi lỗi lầm, dễ
trở nên độc đoán.
- Bản tánh rộng
rãi, độ lượng, có nhiều nhiệt huyết nên ý
chí tranh đấu mạnh mẽ.
- Có nhiều tham
vọng nên ích kỷ và bất chấp thủ đoạn khi
hành động. Nếu theo chánh đạo thì đạt được
đỉnh cao danh vọng, bằng ngược lại sẽ gánh
lấy hậu quả thảm hại.
- Có tâm hồn
nhân ái vị tha, do tế nhị trong cách xử thế
nên dễ thuyết phục người khác. - Thường giúp
đỡ những người khốn khó nên được bạn bè quý
trọng, tin tưởng.
Năng khiếu và
tài chánh
Thích hợp với
những công việc ít bị sự kiểm soát của người
khác
- Có nhiều sáng
kiến, thích hợp với các ngành về khảo cứu
hay khoa học hoặc lãnh đạo chỉ huy.
- Nhờ tận tâm
trong công việc làm nên dễ đạt được thành
quả.
- Việc làm ổn
định, được thượng cấp tín nhiệm giao phó
trọng trách. Nhưng đôi khi tự kiêu trong
cách giải quyết công việc nên bị va chạm và
làm mất lòng cấp dưới.
- Mức thu nhập
về tài chánh trên trung bình, nếu có doanh
nghiệp thì mức thu nhập mới được hậu hỹ.
Nguồn lợi tức sẽ lên cao nếu biết sống hài
hòa, dễ dãi với mọi người.
Tình cảm và vận
mệnh
- Về tình cảm
đôi lứa, mẫu người này thích chinh phục và
chiếm độc quyền, nhưng càng gần gũi người
nào thì càng có khuynh hướng chỉ huy người
đó nên dễ bị gẫy đỗ giữa đường.
- Do che dấu và
đặt nặng vấn đề tình cảm nên dễ bị khổ đau
thầm kín.
- Vận may đến
chậm nhưng cuối cùng lại được trọn vẹn, bản
thân và gia đình có cuộc sống sung túc.
- Thời niên
thiếu sống gian truân, trung niên có nhiều
thu nhập về tài chánh và hậu vận có cuộc
sống tươi đẹp. Hành thiện cho tâm được an
nhiên tự tại thì sẽ sống trường thọ.
Số 2: Mặt trăng
Tượng trưng cho
sự hòa nhã.
Mẫu người kỹ
lưỡng, nhu hòa. Có khả năng về ngoại giao.
Bản tánh và nhân
cách
- Trầm lặng,
thích thuận hòa không ưa cãi vã. Quyết đoán
và tế nhị.
- Học rộng hiểu
nhiều. Đa tài đa trí, cân nhắc kỹ càng trước
khi quyết định và năng động trong việc làm.
Nhưng dễ thất vọng, chán nản buông xuôi khi
gặp nghịch cảnh.
- Thích giao du
với bè bạn nhưng không có bạn chân tình.
- Vui cười và lo
buồn trước người. Có tâm hồn lãng mạn,
thường xúc cảm nên dễ bị người chi phối hành
động.
- Trầm lặng
ngoài mặt nhưng trong lòng luôn sôi nổi, dễ
gây gỗ với bạn bè.
- Thích giúp
người trong âm thầm nhưng ngừng lại ở giai
đoạn chót.
- Dễ bị hiểu lầm
và mang tiếng thị phi.
Năng khiếu và
tài chánh
- Có óc sáng
kiến, tưởng tượng phong phú nhưng thường ở
vị trí người thi hành hơn là cấp chỉ huy.
Chẳng hạn như làm diễn viên giỏi hơn làm đạo
diễn, làm người điều hành giỏi hơn làm giám
đốc một công ty.
- Thích hợp
trong những công việc đòi hỏi sự tế nhị như:
ngoại giao, kế toán, y tá, thư ký, xã hội,
dạy học. Nếu là chủ nhân một thương nghiệp
sẽ dễ bị thất bại vì sự dễ dãi, không muốn
thúc đẩy thuộc cấp.
- Thời niên
thiếu thu nhập không mấy khả quan.
- Đến trung niên
được thông đạt trong lãnh vực tài chánh,
công danh sự nghiệp mới tiến triển, càng về
sau càng có nhiều tài sản. Nên gieo phước
lành nếu muốn được an nhàn.
Tình cảm và vận
mệnh
- Đường hôn nhân
lúc ban đầu hơi trắc trở, về sau mới gắn bó
trọn đời. Khi chung sống, nếu như không lấy
tâm từ ái mà cư xử thì gia đạo bất an.
- Sơ niên có
phần gian truân trong việc học đường.
- Trung niên
thành tựu về công danh tiền tài.
- Hậu vận được
vinh hoa phú quý và sống thọ.
Số 3: Mộc tinh
Tượng trưng cho
tài năng.
Mẫu người có
trách nhiệm và đắc nhân tâm.
Bản tánh và nhân
cách
- Hiền hòa,
thông minh, thích học hỏi và có nhiều khả
năng thiên phú. Thích hoạt động, có tài ứng
biến với thời thế nhưng thiếu kiên nhẫn và
cương quyết nên dễ bị người lung lạc vào
phút cuối.
- Thích hưởng
thụ, sống cho riêng mình nên có khuynh hướng
hơi ích kỷ.
- Sống tự lập,
mặc cho người tranh dành thế sự nên được
nhiều thiện duyên.
- Có lòng thương
người. Nhờ có khả năng ăn nói và giỏi về mặt
xã giao nên quen biết được nhiều giới.
- Vui tính nên
có nhiều bè bạn và thường được người chung
quanh thương mến giúp đỡ.
- Nhờ lấy đạo
đức làm căn bản cho cuộc sống nên mọi việc
được hạnh thông.
Năng khiếu và
tài chánh
- Nhờ có óc sáng
tạo, phán đoán cộng thêm với khả năng thiên
phú nên dễ thành công trong công ăn chuyện
làm.
- Thích hợp với
các nghề nghiệp thuộc địa hạt văn chương,
nghệ thuật như: viết văn, nhiếp ảnh, trang
trí, hội họa hay các nghề cần khả năng ăn
nói lưu loát.
- Được các bạn
đồng nghiệp và thuộc cấp kính trọng. Cấp
trên thương mến.
- Kiếm tiền dễ
dàng nhưng tiêu pha quá rộng rãi trở thành
phung phí.
- Không giàu
nhưng cuộc sống lúc nào cũng ấm no, không
thiếu thốn tiền bạc.
- Lương bổng khả
quan, nếu mở doanh nghiệp thì sẽ phát đạt
nhanh chóng hơn.
Tình cảm và vận
mệnh
- Cuộc sống tình
cảm phẳng lặng như nước hồ thu, nhưng khi có
sóng gió thì nên bình tâm tĩnh trí mà giải
quyết. Đừng nghĩ vớ vẩn mà gây xáo trộn
trong gia đình.
- Tuổi niên
thiếu thăng trầm, lênh đênh chìm nổi như
nắng sớm mưa chiều.
- Trung niên nhờ
quý nhân giúp đỡ đưa đường dẫn lối mới đạt
được danh vọng.
- Hậu vận đắc
tài đắc lộc, hưởng cảnh nhà cao cửa rộng.
Số 4: Kim tinh (Saturne)
Tượng trưng cho
công bình.
Mẫu người cẩn
thận và có lương tâm chức nghiệp.
Bản tánh và nhân
cách
- Bản tánh hiền
lành lương thiện, điều độ mực thước và có
tín dụng nên thường là trụ cột ở nơi làm
việc hoặc của một tổ chức.
- Bản tánh thật
thà, tánh tình đoan trang, khôn khéo, được
lòng mọi người chung quanh.
- Tinh thần
trách nhiệm cao độ, làm việc bền bĩ. Suy
nghĩ chín chắn mỗi khi giải quyết công việc
hay một vấn đề nên được thuận lợi trên mọi
phương diện.
- Lời ăn tiếng
nói dịu dàng được tình cảm của nhiều người.
Có khuynh hướng bảo thủ, không thích cải
cách nên tư tưởng có phần lạc hậu.
Năng khiếu và
tài chánh
- Có khả năng về
những công việc đòi hỏi sự tập trung trí óc
như việc làm của: kỹ sư, kiến trúc sư, luật
sư, kế toán... Không thích hợp với việc giao
dịch.
- Thuộc hạng
người không thích cờ bạc hay đầu tư liều
lĩnh. Thích mua và xài đồ cũ nhiều hơn là đồ
mới.
- Về mặt tài
chánh, làm rất nhiều nhưng hưởng chẳng bao
nhiêu và dễ bị dính dáng đến những chuyện
tranh chấp về tiền bạc.
Tình cảm và vận
mệnh
Tâm hồn trẻ
trung, có cuộc tình đẹp như mộng nhưng sau
đó phải chịu không biết bao nhiêu là 'sóng
gió vồn dập '... Sau cơn mưa thì trời lại
sáng.
Có đời sống
thanh cao, không ham công danh, chẳng màng
phú quý, thích đời sống an nhàn nên thân tâm
tự tại, thoát vòng phiền não.
Hậu vận giàu
sang và có nhiều tài sản.
Số 5: Thủy tinh
Tượng trưng cho
sự nhanh nhẹn.
Mẫu người phiêu
lưu, hoạt động theo cảm hứng.
Bản tánh và nhân
cách
- Bản tánh cương
trực, thích mới lạ, sáng trí và hành động
mau lẹ.
- Có nhiều nghị
lực và sức chịu đựng nhưng tánh tình thường
thay đổi nhanh chóng nên dễ cáu kỉnh, tức
giận và buồn bã.
- Không lo nghĩ
đến tiền tài và sự nghiệp, phó mặc tương lai
mình như 'lục bình trôi ' mà không nuối tiếc.
- Biết tôn trọng
tự do cá nhân, thường hoạt động không ngừng
nghỉ. Sẵn sàng hy sinh địa vị, quyền hành
cho ý thích phiêu lưu.
- Thích họp mặt
bạn bè, cười vui ca hát nên được mọi người
chung quanh thương mến. Nhưng đối với người
biết rõ bản chất thì lòng mến thương lại
giảm đi vì tánh tình của mẫu người này quá
thất thường, không kềm chế được cơn nóng
giận.
Năng khiếu và
tài chánh
- Thích hợp
trong các công việc về giao tế, quảng cáo,
tuyên truyền... Nếu chọn nghề bán xe, bán
bảo hiểm, viết báo có thể thành đạt đến mức
tột đỉnh.
- Ăn xài quá
rộng rãi, ít khi chịu dành dụm nên tiền bạc
bấp bênh, khi có khi không. Cho dù trúng số
bạc triệu cũng trắng tay trong vài tháng.
Tuy vậy vẫn không đến nổi phải thiếu thốn
tiền bạc trong cuộc sống.
Tình cảm và vận
mệnh
- Dễ chinh phục
cảm tình người khác phái, giống như nhụy hoa
quyến rũ ong bướm.
- Tình cảm lãng
mạn, yêu cuồng sống vội nên có dục tính mạnh
mẽ. Không phân biệt tình yêu của vợ chồng và
tình cảm 'lê thê '. Người 'bạn đời ' không
biết mình đang sống trong cảnh thiên đàng
hay địa ngục.
- Số đào hoa nên
cuộc đời thường gặp nhiều cảnh khổ. Cần nên
giữ gìn đạo đức trong lối sống thì tương lai
mới được giàu sang phú quý.
Số 6: Kim tinh
(Venus)
Tượng trưng cho
sự quân bình.
Mẫu người dễ hòa
hợp, có lối sống chừng mực và ổn định.
Bản tánh và nhân
cách
- Bản tánh hiền
lành, có tinh thần cao thượng của một quân
tử, khi đã giúp người thì giúp đến nơi đến
chốn nên được mọi người yêu mến.
- Cương trực,
đáng tin cậy, có năng khiếu về mỹ thuật.
Thường rung động trước nét đẹp của người
khác phái, nhưng lại thầm lặng trong tình
cảm.
- Có lương tâm
và sống cuộc đời mẫu mực. Luôn quan tâm và
hy sinh cho cuộc sống của gia đình, đôi khi
quá mức trong việc chiều chuộng người thân.
- Thường đi sâu
vào chi tiết nên lúc nào cũng lo lắng, bất
an ở trong lòng.
Nên đặt sự rộng
lượng vào đúng nơi chốn để tránh bị lạm dụng.
Cần phải biết từ chối trong những trường hợp
bị đòi hỏi quá đáng.
Năng khiếu và
tài chánh
- Có óc sáng tạo
nên dễ thành công trong lãnh vực nghệ thuật
như: Hội họa, âm nhạc, điêu khắc... Do không
bị lôi cuốn bởi tham vọng nên đời sống nhàn
hạ.
- Muốn thành
công tột đỉnh phải nhờ đến sự khuyến khích,
thúc đẩy và giúp đỡ của những người thân
thuộc.
- Rộng lượng
nhiều mặt, nhưng không rộng rãi về tiền bạc,
kể cả đối với người thân trong gia đình.
Sau tuổi 45, sự
nghiệp mới thăng tiến và vững chắc. Nếu buôn
bán sẽ đắc tài phát lộc nhanh chóng.
Tình cảm và vận
mệnh
- Không có quan
niệm sống lãng mạn về tình cảm, mục tiêu của
tình yêu là hôn nhân. Nên mẫu người này lúc
nào cũng cẫn trọng trong sự giao thiệp với
người khác phái.
- Sau khi kết
hôn chỉ nghĩ đến người 'bạn đời ' và chăm lo
cho con cái.
- Qua gần hết
tuổi trung niên mới phát huy được tài năng
sẵn có để tự lập thân, xây dựng nhà cửa
khang trang và hậu vận được phúc lộc sung
mãn.
Số 7: Thiên
vương tinh
Tượng trưng cho
sự tự chủ.
Mẫu người thâm
trầm, tự lập trong cuộc sống.
Bản tánh và nhân
cách
- Kín đáo, cô
quạnh, ôn hòa, bản tánh hiền lương. Không
muốn mất lòng một ai và khi đã hứa thì hết
lòng hết dạ giữ lời nên được nhiều người tin
tưởng.
- Học rộng, có
óc phân tích, làm việc xuyên suốt, ít khi
chịu nghỉ ngơi. Thường thích nói chuyện có
tính triết lý theo lập luận của mình, nên
không thích nghe ý kiến của người khác.
- Tự làm những
việc quá cao so với tài năng sẵn có và không
cần sự giúp sức của người khác nên cuộc đời
thường bị thất bại nhiều hơn là thành công.
- Luôn dè dặt,
cô độc, bí ẩn nên tánh tình khó hiểu và
không thích tranh đấu với người. Mẫu người
trung thành, khoan dung và độ lượng.
Năng khiếu và
tài chánh
- Thích hợp với
nghề nghiệp hay công việc làm ít bị người
khác kiểm soát, dễ thành công trong các lãnh
vực: văn học, nghệ thuật, giáo dục.
- Tận tâm chăm
chỉ làm việc nếu là nhân viên, ngược lại nếu
làm chủ thì dễ bị thất bại vì không thích ra
lệnh và kiểm soát thuộc cấp.
- Thu nhập bình
thường nhưng thường được của hoạnh tài.
Không quan tâm đến tiền bạc, đôi khi cũng
tiêu xài hoang phí.
Tình cảm và vận
mệnh
- Rất tử tế với
mọi người, đặc biệt là người khác phái, vì
vậy nhận được nhiều cảm tình của những người
đó nên dễ gây ra hiểu lầm tai hại.
- Mẫu người này
thường lập gia đình sớm, nếu không thì việc
hôn nhân sẽ đến rất muộn. Dù sớm hay muộn,
mẫu người này luôn chung thủy với 'bạn đời
'.
- Hậu vận nở hoa,
xây dựng cơ đồ thật vẻ vang và trường thọ.
Số 8: Hỏa tinh
Tượng trưng cho
quyền lực.
Mẫu người 'khai
sơn, phá thạch ', có ý chí sắt đá.
Bản tánh và nhân
cách
- Thông minh, có
khả năng thiên phú và cá tính đặc biệt. Tự
rèn luyện tư cách, tác phong để phục vụ cho
lý tưởng hay mục đích đang theo đuổi.
- Thường đem hết
khả năng và nhiệt tâm vào công việc làm. Đôi
khi vì có quá nhiều
thiện chí dẫn
đến tình trạng cực đoan, độc đoán.
- Thích giảng
luân lý, ưa kết bạn với người khác nhưng lại
không gần gũi và thân mật.
Quyến rũ người
khác do sức mạnh và nhân cách của chính mình,
nhưng càng gần nhau sự mến phục của người
càng giảm bớt.
- Trung trực,
sẵn sàng đứng lên bênh vực lẽ phải và che
chở cho những người thân hay bè bạn. Mẫu
người đáng tin cậy.
Năng khiếu và
tài chánh
Tận tâm, tận lực
trong nhiệm vụ nên dễ đạt đến thành công.
Tuy nhiên vì có tài năng và muốn ngồi ở vị
trí lãnh đạo nên bị các đồng nghiệp hiểu lầm
ganh ghét.
Biết kiếm tiền
và biết cách xài tiền, nên rất thích hợp với
các công việc liên quan về kinh doanh và tài
chánh.
Công việc ổn
định, lợi tức thu nhập ngày càng khả quan và
đều đặn.
Tình cảm và vận
mệnh
- Tình cảm thay
đổi bất thường, nay nồng cháy, mai lạnh nhạt.
Từ tha thiết đến dửng dưng không lâu. Hôn
nhân có thể phải trải qua sóng gió nhưng sau
đó sẽ giữ được hạnh phúc lâu bền.
- Sơ niên gian
nan, lận lận. Trung niên thành đạt.
Nên gieo nhân
lành bằng cách làm nhiều việc thiện để hưởng
phước báu trong mai hậu.
Số 9: Hải vương
tinh
Tượng trưng cho
tình yêu cao thượng.
Mẫu người cao cả,
thể hiện tình thương yêu nhân loại.
Bản tánh và nhân
cách
- Học cao hiểu
rộng, đa tài đa trí, bản tánh lại hiền lương
đôn hậu. Nhờ vậy nên thường thoát nhiều nạn
tai hiểm nghèo.
- Không thích
cãi vã, nhưng khi bị chỉ trích dễ giận dữ
với những người bất đồng quan điểm.
- Tế nhị, cảm
thông và tận tình giúp đỡ những người gặp
khó khăn hay nghịch cảnh.
- Thường bị chi
phối bởi trực giác và tình cảm nhiều hơn là
lý luận và tri thức. Ít bị chi phối bởi tiền
tài và quyền lực.
- Sức chịu đựng,
lòng can đảm, ý chí cương quyết có thừa
nhưng không vì đó mà tự kiêu tự mãn. Mẫu
người này có tình yêu thương với tấm lòng
đại lượng hiếm có.
Năng khiếu và
tài chánh
- Thích hợp
trong những việc làm có tính cách giúp người
như: nhân viên xã hội, bác sĩ, y tá, nhà
truyền đạo hay làm thiện nguyện trong các
hội từ thiện.
- Thường không
thông thạo trong việc kiếm tiền và quản trị
về tài chánh. Vì thế nếu có giàu sang là do
may mắn nhiều hơn là bản lãnh. Có thể do có
tấm lòng bao dung quảng đại nên hiếm khi
thấy mẫu người này sống trong cảnh nghèo
khó.
Tình cảm và vận
mệnh
- Đường tình
rộng thênh thang. Sau hôn nhân được người
phối ngẫu chung thủy và tin yêu. Một lòng lo
tạo dựng cho tương lai cho con cái.
Thời niên thiếu
gặp nhiều gian nan, sớm xa quê hương và dựng
sự nghiệp nơi xứ người.
Trung niên thành
gia thất và có nhà cửa tốt đẹp. Hậu vận có
nhiều tài lộc.
Lời kết
Trong thời đại
văn minh, khoa học tiến bộ vượt bực, người
ta không thể sinh hoạt kiểu cách như xưa.
Nhưng tinh thần Nho giáo trọng sự chính tâm,
tu thân đã ăn sâu vào tâm thức của người
mình. Nếu bỏ nó đi chưa chắc đã có lợi cho
nhân quần xã hội. Nếu giữ được nó là giữ
được gốc nền đạo đức, lấy gốc nền này dung
nạp vào khoa học ngày nay, thiết nghĩ không
có gì sai trái. Khoa học càng tiến bộ bao
nhiêu thì càng thích hợp với tinh thần 'tùy
thời mà biến đổi ' của Nho giáo bấy nhiêu
vậy.
Vô Chiêu
|