|
Duyên
Nghiệp, Phúc Phần Và Nhân Quả Trong Cuộc
Sống
PTTVG
Song Lộc-Việt Báo |
| |
(Ký sự tham luận về phong
thủy, Tử vi lý số và huyền học của PTTVG
Song Lộc - ĐT: (817) 419-7371)
Ngày xưa, trong dân gian cổ nhân thường dùng
các câu phương ngôn, ngạn ngữ dễ hiểu hoặc
thăng trầm, dẫn giải cho con cháu cách hành
xử trong cuộc sống, sao cho hợp lòng người
và hợp lòng trời như "có phúc có phần" gieo
nhân nào hái hái quả nấy" "khi nên trời cũng
chiều người" với ý là làm phúc thì sẽ được
phúc. Làm phải thì trời cũng chiều ý của
mình, phúc hay họa cũng do mình. Không phải
hoàn toàn thụ động "con vua thì lại làm vua,
còn con thầy chùa lại quét lá đa" hai câu
chuyện kể dưới đây có thể nói lên điều đó.
Đã lâu lắm, tại một vương quốc trù phú,
thanh bình, thịnh trị, dân chúng an cư lạc
nghiệp. Nhà vua là một anh quân lấy đức trị
dân, nên được tahn dân yêu mến. Ngài có được
12 công chúa nhưng chưa có được một hoàng
nam để nối nghiệp. Và vấn đề này đã gây ra
biết bao buồn vui về mọi phía trong hoàng
tộc. Nhà vua cho rằng nếu không có hoàng nam
thì Hoàng đế nối ngôi, anh em ai ở ngôi trời
cũng được. Tuy nhiên, các vị khác như Hoàng
hậu, Tây phi, hoàng đệ và nhất một vị thượng
thư đầu triều lại có những buồn vui lo lắng
khác nhau: Hoàng hậu ngày đêm lo nghĩ, Tây
phi đang long thai, nếu bà này sớm sinh
hoàng nam thì sẽ trở thành Tây cung hoàng
hậu và sẽ thâu tóm queỳn binh ở hậu cung.
Hoàng hậu vì long ghen tuông, đố kỵ nên
không nghĩ xa hơn, khi mà đức vua truyền
ngôi cho hoàng đệ bà sẽ chẳng còn gì cả, Tây
phi tuy trẻ đẹp không khéo được lòng ngài
ngự và lại đang có long thai, bà chỉ lo sẽ
sinh công chúa, nhưng được Thái Bốc tiên
đoán là bà có số mẫu nghi thiên hạ, nên luôn
an lòng đắc ý; vị hoàng đệ thấy nhà vua
không có con trai thì luôn mừng rỡ, hy vọng
hoàng huynh sẽ sớm thoái vị để mình tiếp nối
ngôi trời. Ông ta bất tài nhưng lòng đầy tam
vọng nên ngày đêm nghĩ cách xây dựng thực
lực để nắm quyền. Còn vị thượng thư đầu
triều thì luôn trung quân ái quốc, một lòng
phò vua lo cho dân cho nước. Oâng cũng đã
lớn tuổi mà chưa có con ối dõi và đang có
mối lo âu đặc biệt mà lẽ ra phải vui mừng
mới phải. Số là ông có một bạn đồng liêu rất
thân, làm quan phụ trách khâm thiên giám,
ông này xem thiên tướng và thấy "đế tinh"
chiếu xuống phủ đệ của ông, vợ ông cũng đang
mang thai, chả lẽ sinh ra là bé trai và sau
này sẽ trở thành nghịch thần tặc tử, khuynh
đảo triều đình để cướp ngôi. Không thể được,
ông không thể để con ông làm trái luân
thường đạo lý. Nhưng chuyện đó xảy ra thì
ông phải làm sao? Chả lẽ lại đi giết conmòn.
Bốn người đề có tâm sự pahỉ dấu kín vì teít
lộ ta là hỏng chuyện mà còn nguy hiểm đến
tính mạng nữa. Ở Tây cung, Tây quý phi có sự
trợ lực của thủ lĩnh thái giám. Người này vì
sự ưu đãi của vua đối với Tâu cung, nên được
nhà vua tin và trao cho quyền điều hành Đông
xưởng, có liên hệ trực tiếp đến sự an nguy
của quốc gia (cơ quan này gân như là cơ quan
an ninh điệp báo và phản gián bây giờ) nên
Tây Cung có một thế lực ngầm đáng sợ và là
đầu mối của mọi chuyện sẽ xảy ra tại hoàng
cung.
Một buổi tối, được bẩm báo là Tây thi đang
trở dạ nhà vua bãi bỏ mọi yến tiệc, nôn nóng
chờ tin tại Tây Cung, thủ lãnh thái giám cho
canh phòng nghiêm mật, chỉ có vài thái giám
và cung nữ htân cận phụ bà mụ lo việc thai
sinh, khi đứa trẻ oe oe chào đời, Tây phi cố
gượng dậy truyền bế lại gần và tỏ vẻ chán
nản bực bội vì đứa bé lại là một công chúa.
Hiểu ý chủ, thủ lãnh thái giám ghé tai Tây
phi thì thầm, chỉ thấy Tây phi tươi nét mặt
truyền cho y gấp gấp thi hành. Bà thương con
nhưng vì phải tính kế lâu dài nên đành chịu.
Tại dinh vị thượng thư, ban sáng phu nhân đã
hạ sanh được một bé trai, đang vui thì có
thủ lãnh thái giám Tây cung tới thăm và tỏ ý
mượn đứa trẻ vô Tây cung cho Tây Thi bồng bế
lấy hên, một lát sẽ trả về. Quả nhiên, chỉ
một khắc đồng hồ sau là đứa bé được trả về.
Thị nữ bế trao lại cho phu nhân thì bà ngất
xỉu vì đứa bé biến thành con gái. Tỉnh lại
bà la hét đòi vào Tây cung giành lại con
trai nhưng ông cố dỗ dành vợ và cấm gia nhân
tiết lộ ra ngoài. Ông đã hiểu ra mọi sự
nhưng không thể nào làm ngược lại được. Bà
thì nhìn đứa bé căm hận, bà ôm đứa trẻ và
cắn một miếng khá sâu vào tay để trả thù. Bà
cho đứa nhỏ là nguyên nhân gây ra chia cắt
tình cốt nhục nên quyết báo thù. Vài hôm sau
bà mang cháu gái con bà chị về nuôi và mượn
người đem cô công chúa đi bỏ trước một kỷ
viện lớn ở thành phố gần đó. Rất may là khi
tiễn khách ra về, một ca kỹ nghe thấy tiếng
khóc đã bế con bé vào kỷ viện. Mọi người đều
vui thích nhìn đứa bé và họ quyết tâm cùng
nhau chăm sóc, chăm lo cho cô bé.
Ở hoàng cung khi được thủ lãnh thái giám Tây
cung bẩm báo là Tây phi nương nương đã hạ
sanh hoàng tử nhà vua vội vã đến thăm con và
ngay sang hôm sau đã đem hoàng tử thiết
triều để bá quan diện kiến và phong Tây thi
làm Tây cung hoàng hậu lo việc hậu cung. Lớn
lên hoàng tử rất thông minh đĩnh ngộ, ham
chuộng văn chương võ nghệ nhưng lại rất
nghịch ngợm, thường trốn khỏi hoàng thành và
rong chơi nơi dân giả, đôi khi làm mẫu hậu
buồn lòng. Bà thương con ruột của mình nên
tính kế mang con gái vào cung, gần hoàng tử
để hai trẻ gần nhau sau này có thể nên duyên
cầm sắt, đôi đường trọn vẹn. Cô bé này khi
lớn lên lại rất ham danh, chuộng lợi, kiêu
sa đanh đá, ai gần cũng chán ghét nhưng thấy
hoàng hậu cưng yêu nên họ phải xuôi chiều
cho êm chuyện. Ngược lại, cô công chúa tuy
lớn lên tại kỹ viện nhưng tính tình đôn hậu,
hiếu thảo với các mẹ nuôi, thân thiện với
mọi người, mọi thành phần trong thị trấn. Có
điều có chuộng võ khinh văn, chỉ ưa tập
luyện võ nghệ mà sao lãng việc học hành văn
chương chữ nghĩa. Mặt khác cô rất nghịch
ngợm, có nhiều nam tính nhưng lại đẹp đẽ và
dễ thương nên cả phố đều yêu mến, che chở và
đùm bọc.
Trong triều đình, từ ngày Tây cung hoàng hậu
sanh thái tử, mọi chuyện đều thay đổi, thủ
lãnh thái giám Tây cung bây giờ trở thành
tổng thái giám đặc trách mọi chuyện trong
cung, đông xưởng nhiều quyền hơn và chen
chân vào mọi lãnh vực trong triều đình ai
cũng phải kiêng nể, hoàng đệ thì ngấm ngầm
tổ chức phe đảng, tuyển chọn sát thủ để mưu
đồ đại sự. Nhất là khoảng 16 năm sau hoàng
đế băng hà, Tây thái hậu thùy liêm thính
chính", tân quân còn nhỏ, nên mọi việc quân
quốc đai sự đều giao cho cận thần là Tổng
Thái giám đảm trách. Một số nịnh thần thuận
theo chiều gió đã xưng tụng y là "cửu thiên
tuế" chỉ thua vạn tuế có một bực. Mấy năm
sau, khi thiếu quân trưởng thành thu hồi lại
quyền hành và tỏ ra coi thường y thì y lại
căm thù, liên kết với hoàng đệ và chánh cung
hoàng hậu âm mưu thay thế ngai vàng và giữ
lấy uy lực cũ, rất may cho triều đình là
thiếu quân tuy còn trẻ nhưng thông minh, tài
trí, đức độ hơn người được các trung thần
không phò và các cao thủ võ lâm bảo vệ nên
âm mưu khuynh đảo bị thất bại và bị trừng
trị đích đáng. Ngai vàng vững như bàn thạch.
Như thế, ngôi vua đã chuyển đổi qua họ khác
hoàn toàn bí ẩn đúng như thiên tượng đã báo
hiệu. Có điều, vì lẽ gì mà một công chúa lại
bỗng trở thành thứ dân, hơn nữa còn có thể
trở thành ca kỹ bán thân xác, mua vui cho
mọi người. Chỉ biết, năm cô 13 tuổi, có một
thầy tướng số đoán rằng kiếp trước cô là một
tướng quân tài giỏi nhưn đa sát, không nương
tay với kẻ thù và còn hay tổ chức các cuộc
đi săn, tàn sát nhiều muôn thú nên kiếp này
tuy cô là dòng dõi quyền quý nhưng vì nghiệp
quả phải trầm luân, nếu gắng tu nhân tích
đức, hạn xấu sẽ qua đi, thì sẽ là mẫu nghi
thiên hạ. Như thế có phải chăng mọi sự trên
thế gian đều do phúc, phần và Nhân quả?
Câu chuyện còn có hậu ở chỗ, có sự tình cờ
gặp gỡ giữa tân quân và nàng công chúa. Cô
đã cứu tân quân khỏi sự mưu hại của Hoàng
thúc, được mời vô hoàng cung và nhờ có cật
chứng là tấm tả lót cầu kỳ chỉ có nơi cung
cấm, thái hậu đã nhận ra con ruột của mình
và đã sắp xếp tác thành mối lương duyên lẽ
ra không thể có vì giai cấp. Sauđó, thái hậu
đã xuống tóc đi tu để trả hết nợ vì oan
trái.
Thời nay, tuy khoa học đã tiến bộ vượt mực
nhưng phúc phần và nhân quả vẫn rõ nét trong
cuộc sống, và câu chuyện gần như có thực sau
đây là một ví dụ:
Ông Hoàng là một nhà nông trung lưu ở miệt
Thái Bình người đôn hậu và có một cuộc sống
tương đôi đầy đủ tại vùng nông thôn trù phú.
Năm Ất Dậu (1954) miền Bắc Việt Nam gặp nạn
đói kinh người, mọi nơi người chết như rạ,
các thành phố phải cho xe bò nhặt xác đi
chôn, còn ở nông thôn thì hàng ngày đều có
người chết đói nơi đình chùa miếu mạo hoặc
đầu đườmg xó chợ. Lương thực thiếu thốn đến
nỗi không có cả cám heo hay khoai sắn đỡ dạ,
họ phải đào củ chuối vớt bèo tây mà ăn. Sông
không có con cá, ngoài đồng không còn chim
chóc, cào cào, châu chấu và ếch nhái. Trong
lúc khó khăn đó, vợ chồng ông Hoàng đã cùng
chia xẻ từng chén cơm, chén cháo, đấu cám,
của khoai cho người trong xóm ngoài làng.
Nhiều người được cứu sống và nhiều gia đình
được sống còn đến vụ chiêm, "cứu nhất nhân,
đắc vạn phúc". Gia đình ông đã cứu được
nhiều người nên đã được người cứu.
Tháng 8 năm 1945, Việt minh CS đội lốt quốc
gia, phỉnh lừa dân chúng cướp chính quyền từ
tay Nam triều, ép Hoàng đế Bảo Đại thoái vị.
Khi đã cướp được công quyền, họ chủ trương
tiêu diệt tất cả các thành phần Trí, Phú,
Địa, Hào bần cùng hoá nhân dân, theo đúng
đường lối của Nga sô và sau này là Trung
Cộng. Số người bị giết, bị bắt đưa đi khu tư
nhiều vô số kể. Địa phương của ông cũng
không ngoại lệ, riêng ông vì đã cứu sống họ
mới đây nên họ lơ đi không giết nhưng cũng
bị tịch thu hết tài sản, ruộng đất do cha
ông để lại. Sau đó, may nhờ có chính quyền
quốc gia được tái lập và quân đội quốc gia
về trấn đóng nên ông mới được bình an. Cuối
tháng 6-1954, sau khi Pháp thua trận tại
Điện Biên Phủ vì bị phản phé và VC có sự yểm
trợ tích cực của Trung cộng (cán bộ, lính,
pháo, đạn dược) mấy tỉnh đồng bằng Băùc Việt
bị bỏ rơi. Tháng 7 Pháp và Việt cộng ký hiệp
định Geneve chia đôi đất nước, ông phải dùng
tài sản còn lại đổi lấy sự an toàn cho gia
đình trốn lên Hà Nội, rồi chuyển xuống Hải
Phòng và di cư vào Nam với gia đình toàn
vein, hai vợ chồng và 4 đứa con, nhỏ nhất là
10 tuổi. Thật đáng mừng. Vào Saigon ông mua
được một căn nhà trệt tại đường Lý Thái Tổ,
mau chóng ổn định cho con cái đến trường và
chung vốn với một người Hà Nội di cư mở cửa
hàng bán vật liệu xây cất, món hàng cần
thiết cho các trại di cư của người vào từ
miền Bắc. Các con ông đều chịu khó học hành,
ra trường, học tại trường võ bị quốc gia và
quốc gia hành chánh, rồi trở thành sĩ quan
đơn vị và phó quận ở vùng 4.
Hai cô gái cũng có chồng là sĩ quan và
trưởng ty hành chánh tỉnh.
Tháng tư đen 1975, khi cộng sản Bắc Việt vi
phạm hiệp định Paris, tấn công cưỡng chiếm
miền Nam thì các con trai và con rể của ông
đều kẹt tại đơn vị hành quân và nhiệm sở,
Ông vẫn bình tĩnh ứng phó vì tin rằng hiền
sẽ gặp lành. Ít lâu sau, khi cộng sản đánh
tư sản, ông gặp một người cùng quê được ông
cứu sống khi xưa (1945) nay là cán bộ cao
cấp có uy thế tại Saigon. Có thể y vẫn nhớ
ơn xưa hoặc đã tối mắt vì của cải, đề nghị
ông nên trao hết tài sản cho y, y sẽ che chở
cho cả gia đình, ông rút về Lâm Đồng trồng
cây chờ thời. Năm 1985, khi các con trai và
con rễ trở về đầy đủ, y lại tổ chức cho cả
gia đình ông ra đi và được ông (hoặc buộc
ông) trao hết số tài sản còn lại. Gia đình
ông, tuy một lần nữa hầu như bị mất hết của
cải, nhưng đã đến được bờ tự do ngay sau đó,
và hiện nay cả gia đình ông đã hội nhập vào
xã hội mới với khí thế ngày xưa (trước 1975)
chỉ có một cô con dâu thứ hai là bạc phước,
vì nghiệp số chưa toàn, không biết tương lai
sẽ về đâu và có còn dám trở lại gia đình ông
nữa hay không. Chuyện thật tình cờ và có thể
nghiệp số: Trước Tết Mậu Thân X. là một cô
gái đẹp dậy thì, bán cà phê ở chợ Cầu Muối,
cô rất mê nét hào hoa của chàng chiến sĩ
quân lực VNCH, nên sau Tết đi theo phái đoàn
dân chính uỷ lạo chiến siõ sư đoàn 5 bộ binh
tại Bình Dương, ngầm có ý "gái khôn tìm
chồng giữa chốn ba quân" biết đâu lại không
chọn được một chàng trai vẹn ý. Đến nơi,
phái đoàn chia nhau đi thăm các đơn vị và có
lẽ duyên số nên người sĩ quan nghênh đón
toán của cô, Trung uý T, một chàng trai
phong nhã, tốt nghiệp võ bị quốc gia Đà Lạt,
đã lọt vào mắt xanh của cô. Nhìn dáng dấp
học trò e lệ, ăn nói nhỏ nhẹ và có duyên của
cô, chàng ta cũng cảm thấy thích thú. Họ hạp
nhau hẹn nhau tại Saigon và yêu nhau. Chiều
ý người "trai thời chinh chiến, mấy người đi
trở lại" ông Hoàng tổ chức lễ cưới dâu thật
chu đáo và cho ngay hai vợ chồng cậu này một
tiệm vải đường Lê Lợi. Cặp vợ chồng trẻ yêu
nhau tha thiết, nhiều khi cô mạo hiểm đến
tận mặt trận thăm chàng. Họ có với nhau hai
đứa con bụ bẫm, hạnh phúc vô chừng. Chàng
cưng vợ con như trứng mỏng. Bảy năm trọn vẹn
thì miền nam bị ...trao cho CS.
Ngày 30/4/1975 chàng đang là thiếu tá tiểu
đoàn trưởng một tiểu đoàn nổi tiếng của sư
đoàn, bị CS giam giữ và đưa ngay ra Bắc. Ở
Saigon đang sống xa hoa đầy đủ, bỗng chốc
mọi thứ đều bị CS cướp sạch, lại phải đi Lâm
Đồng làm rẫy. Cô X, bây giờ là bà thiếu tá
T, hết sức chán nản, buồn bực. Đúng lúc đó,
thì một tên cán bộ kinh tài nội thành, xưa
khi thường tán tỉnh cô, đến rủ cô đem hết
tài sản vượt biên sang Hoa Kỳ để có một cuộc
sống đầy đủ hơn xưa. Nghe lời đường mật đầy
hấp dẫn, vả lại chờ chồng thì chả biết đến
bao giờ, có khi "xôi hỏng bỏng không" nên cô
giao 2 con lại cho cha mẹ chồng và cuốn gói
theo người tình mới. Lúc này ông Hoàng mới
ân hận vì đã chọn dâu không kỹ, Thiên bất
dung gian, trên biển cô bị cướp biển hãm
hiếp và lấy hết của cải, may nhờ một tàu
buôn cứu và đưa đến Mã Lai.
Đến đây, người tình mới của cô trở mặt,
khinh bỉ dẻ bỉu cô đủ điều. Khi đến Mỹ y chỉ
lo ăn chơi, nhậu nhẹt, đàn đúm, cón cô thì
phải đi may vá để có tiền cung phụng người
tình oan nghiệt. Năm 1985, được tin chồng
con đến Mỹ, cô thấy tủi phận. Thương chồng,
nhớ con nhưng bây giờ nhan sắc đã tàn phai,
lại thêm sóng gió đầy nhơ nhuốc thì làm sao
mà gặp mặt chồng con. Mình làm mình chịụ,
kêu mà ai thương. Âu cũng là nghiệp số. Đúng
là có Phúc có Phần và gieo nhân nào hái quả
ấy.
Qua hai câu chuyện cổ kim kể trên, đúng là
cuộc đời có vay thì có trả. Dòng đời biến
chuyển không ngừng, có nay rồi không đấy,
còn đấy rồi hết đấy. Công chúa mà lớn lên
tại thanh lâu kỹ viện, ngôi cao hoàng đế từ
trên trời rớt xuống cho kẻ có nhân. Ở hiền
gặp lành và vô tình bạc nghĩa thì lại gặp
tham lận bất long. Con người bé nhỏ biết làm
sao chu toàn mọi lẽ cho thân tâm luôn an
lạc. Khó vậy thay!!!
Bùi Công Hồ
1715 Powder Horn Ln.
Arlington, TX. 76018
Tel: (817) 419-7371 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|